SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ TÁC
PHẨM TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11- 12"
A.Đặt vấn đề
I. Lý do chọn đề tài:
Thứ nhất: Như chúng ta đã biết, việc hình thành và rèn luyện kỹ năng
trong quá trình làm văn cho học sinh là vô cùng cần thiết. Việc làm này
cả 3 phân môn: Tiếng Việt, Đọc văn, Làm văn cùng đảm nhận, trong
đó phân môn Làm văn giữ vai trò chủ đạo. Phân môn này giúp học sinh
hình thành một hệ thống kỹ năng đảm bảo cho quá trình hoàn thiện một
bài văn có hiệu quả: từ kỹ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập ý, lập dàn ý cho
đến lập luận (nêu luận điểm, tìm luận cứ, sắp xếp luận điểm, luận cứ
….) rồi mở bài, chuyển ý, chuyển đoạn, kết bài … Trên cơ sở những kỹ
năng cơ bản đó, đối với mỗi thể loại, giáo viên phải hình thành cho học
sinh những kỹ năng riêng phù hợp với đặc trưng thể loại (gọi là mô
hình chung) như nghị luận về một tác phẩm kịch, nghị luận về một tác
phẩm thơ, đoạn thơ … và việc rèn luyện kỹ năng nghị luận về một tác
phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết cũng không ngoại lệ.
Thứ 2: Nhìn vào hệ thống chương trình của 3 khối lớp, chúng ta thấy
số lượng tác phẩm văn xuôi (đặc biệt là truyện ngắn, tiểu thuyết) chiếm
tỉ lệ tương đối lớn. Vì vậy trong hầu hết các kì thi lớn như thi tốt
nghiệp, thi đại học, thi học sinh giỏi….số điểm dành cho những câu hỏi
thuộc tác phẩm truyện, tiểu thuyết cũng chiếm tỉ lệ cao trong cấu trúc
đề thi (có thể 50%, thậm chí lên đến 70%). Chính vì thế quan tâm đến
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kĩ năng viết bài văn
nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi là vô cùng cần thiết.
Thứ 3: Chúng ta biết, tác phẩm văn xuôi (đặc biệt tác phẩm truyện
ngắn và tiểu thuyết) là bức tranh thu nhỏ về đời sống hiện thực xã hội.
với đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kĩ
năng nghị luận về tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết trong sách
giáo khoa Ngữ Văn 11- 12 (chương trinh nâng cao).
II. Phạm vi, phương pháp nghiên cứu:
1. Phạm vi nghiên cứu:
Trong chương trình THPT ở cả 3 khối lớp, tỉ lệ các tác phẩm truyện
ngắn và tiểu thuyết tương đối lớn. Nhưng ở phạm vi đề tài này tôi chỉ
đề cập một số tác phẩm của chương trình Ngữ Văn 11- 12 (thuộc
chương trình nâng cao) và một số phần kiến thức làm văn, lí luận văn
học có liên quan. Cụ thể:
- Bài lí luận: Đọc truyện ngắn và tiểu thuyết (SGK Ngữ Văn 11, tập 1
trang 196, 197)
- Bài: Nghị luận về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi (SGK Ngữ Văn 12,
tập 2 trang 19-> 21).
- Một số tác phâm truyện ngắn, đoạn trích tiểu thuyết:
+ Hai đứa tre (Thạch Lam- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 121-> 129)
+ Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 142-
> 149)
+ Hạnh phúc của một tang gia (Trích tiểu thuyết “Số đỏ”- Vũ Trọng
Phụng- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 159-> 166 )
+ Chí Phèo (Nam Cao- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 178-> 189)
+ Đời thừa (Nam Cao- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 202-> 208)
+ Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài- SGK Ngữ Văn 12, tập 2 trang 3-> 15 )
+ Vợ nhặt (Kim Lân - SGK Ngữ Văn 12, tập 2 trang 22-> 32)
+ Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi- SGK Ngữ Văn 12, tập
2 trang 39-> 47)
+ Một người Hà Nội (Nguyễn Khải- SGK Ngữ Văn 12, tập 2 trang 39-
> 47)
+ Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu- SGK Ngữ Văn 12, tập
2 trang 89-> 98)
năng triển khai một đề văn liên quan đến tác phẩm truyện ngắn hay
đoạn trích tiểu thuyết của các em còn non yếu.
III.Giải pháp và cách thức thực hiện:
Hiểu rõ được tầm quan trọng của việc hình thành và rèn luyện kĩ năng
cho học sinh trong quá trình giảng dạy tôi luôn trăn trở để tìm ra những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề. Vì vậy tôi đã chú trọng thực
hiện một số giải pháp sau:
1. Giúp học sinh nắm vững và vận dụng linh hoạt một số kiến về
tác giả có liên quan, hỗ trợ hữu ích cho việc đọc - hiểu văn bản:
Trên thực tế, chúng ta biết trước khi tiếp cận các đề văn về 1 vấn đề
trong tác phẩm truyện ngắn hoặc đoạn trích tiểu thuyết, học sinh
thường phải trải qua quá trình đọc rồi hiểu các giá trị về nội dung, tư
tưởng cũng như những nét độc đáo về nghệ thuật của tác phẩm đó rồi
mới viết bài. Như vậy khâu đầu tiên là đọc - hiểu thật tốt văn bản. Để
đọc- hiểu hiệu quả văn bản, tôi hướng dẫn các em hiểu và vận dụng
một số kiến thức có giá trị từ cuộc đời, phong cách hoặc một số thông
tin liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp nhà văn. Bởi lẽ tư tưởng, tình cảm
cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn chi phối trực tiếp đến quá
trình sáng tạo văn bản, thậm chí in đậm dấu ấn trong những hình tượng
nhân vật, qua những trang viết của những nhà văn.
Chẳng hạn: Khi đọc- hiểu truyện ngắn Hai đúa trẻ (Thạch Lam), học
sinh sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về tình cảm mà nhà văn dành cho những
con người. đặc biệt những trẻ thơ cũng như cảnh vật quê hương nơi phố
huyện nghèo nếu các em nắm vững được những lời tâm sự của chị gái
nhà văn là Nguyễn Thị Thế về kỉ niệm tuổi thơ của 2 chị em: “ Năm
Thạch Lam lên 7 tuổi, cha của ông qua đời, cảnh nhà khó khăn, mẹ
Thạch Lam phải tảo tần buôn bán để nuôi con cái ăn học. Các anh
của Thạch Lam đi học ở Hà Nội thi thoảng mới về. Thạch Lam và
chị Thế được mẹ giao trông coi một cửa hàng tạp hoá”.Trong cuốn
Hồi kí về gia đình Nguyễn Tường, chị Thế tâm sự: Tôi không ngờ
có ấn tượng sâu đậm và yêu cây xà nu từ đó. Ông thực sự xúc động
trước cây xà nu, bởi ấy là một loại cây hùng vĩ và cao thượng, man
dại mà trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh
nhã vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn
sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận.
Như vậy cung cấp và giúp học sinh hiểu kỹ những kiến thức về tác
giả sẽ là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả đọc –
hiểu văn bản. Từ đó sẽ hình thành ở học sinh khả năng tư duy, vận
dụng, liên kết kiến thức trong việc viết bài.
2. Nắm vững kiến thức đặc trưng thể loại và vận dụng có hiệu quả
trong khâu đọc – hiểu văn bản.
Sẽ thật khó thành công khi đọc - hiểu 1 văn bản mà học sinh không
hiểu, không nắm được kiến thức về đặc trưng thể loại. Vì vậy trong quá
trình dạy các tiết văn xuôi, tôi rất quan tâm đến việc hướng dẫn các em
nắm vững và vận dụng kiến thức đọc truyện và tiểu thuyết
a. Về hình tượng nhân vật:
Đây là yếu tố đầu tiên, quan trọng hàng đầu của thể loại truyện ngắn và
tiểu thuyết. Khi đọc văn bản học sinh cần phân biệt đâu là nhân vật
chính, đâu là nhân vật phụ và nhân vật đó được chú trọng miêu tả theo
phương diện nào. Từ đó hiểu được ý nghĩa của các phương tiện đó
trong việc xây dựng nhân vật.
Ví dụ: Đọc truyện “Vợ chồng A phủ” (Tô Hoài), các em cần thấy được
ở hình tượng nhân vật Mị, Tô Hoài không chú trọng miêu tả những nét
chân dung, ngoại hình mà ông quan tâm miêu tả tâm lý của Mị. Từ đó
để khắc hoạ cuộc đời, số phận bất hạnh cũng như ngợi ca sức sống tiềm
tàng, mãnh liệt ở người con gái Tây Bắc này. Hoặc tương tự đọc truyện
“Vợ nhặt”, học sinh cần thấy rằng ở nhân vật bà cụ Tứ, Kim Lân không
quan tâm nhiều trong việc miêu tả chân dung nhân vật mà chủ yếu
khám phá thế giới nội tâm qua việc miêu tả diễn biến tâm trạng nội tâm
của bà cụ Tứ. Qua đó nhà văn ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ
chuyện về cuộc đời Tnú là câu chuyện chính. Và học sinh phải nắm
vững những sự kiện liên quan đến cuộc đời của nhân vật này: Sinh ra,
lớn lên như thế nào? cuộc đời, số phận của Tnú ra sao? …
Cùng với việc nắm cốt truyện, tôi lưu tâm học sinh để ý đến các chi tiết
trong tác phẩm.
Chi tiết được hiểu là những biểu hiện cụ thể, lắm khi nhỏ nhặt nhưng
lại cho thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của chúng, đồng
thời thể hiện sự quan sát và nghệ thuật kể chuyện của nhà văn. Ví dụ
đọc “Chiếc thuyền ngoài xa’ của Nguyễn Minh Châu học sinh cần
nắm vững ý nghĩa của chi tiết cái vái lạy của người đàn bà hàng chài,
chi tiết ngọn đèn chị Tý trong tác phẩm “ Hai đứa trẻ” (Thạch Lam),
chi tiết bát cháo hành thị Nở, tiếng chửi của Chí Phèo trong truyện
ngắn “Chí Phèo” – Nam Cao, Chi tiết tiếng sáo trong đêm tình mùa
xuân (Vợ chồng A Phủ) – Tô Hoài. Hoặc chi tiết khiêng bàn thờ ba má
sang gửi nhà chú Năm của chị em Chiến – Việt trong tác phẩm
“Những đứa con trong gia đình” – Nguyễn Thi, rồi câu chuyện về cây
si già ở đền Ngọc Sơn trong truyện ngắn “Một người Hà Nội” –
Nguyễn Khải …
Những chi tiết này có giá trị lớn đối với tác phẩm. Vì vậy việc nắm
vững, hiểu rõ các chi tiết nhỏ để vận dụng trong quá trình làm bài là rất
hữu ích.
c. Sự miêu tả hoàn cảnh:
Đọc – hiểu văn bản cần thấy được bối cảnh đời sống xã hội, lịch sử,
văn hoá mà nhà văn sáng tác. Đây là một trong những yếu tố quan
trọng để học sinh hiểu giá trị văn bản. Vì vậy tôi luôn ý thức việc cung
cấp đơn vị kiến thức này cho các em:
Chẳng hạn học sinh sẽ không hiểu hết được tình đời, tình người, cũng
như tinh thần lạc quan của người lao động trong truyện ngắn Vợ nhặt,
đặc biệt là niềm tin mãnh liệt của nhà văn vào người lao động, nếu các
em không có hiểu biết về bối cảnh của lịch sử xã hội Việt Nam vào
Chúng ta biết trong sách giáo khoa cơ bản và nâng cao 12 đều có 1 tiết
nghị luận về 1 tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. Mục đích của tiết học này
ở cả 2 chương trình là đều hình thành mô hình chung cho học sinh khi
giải quyết 1 vấn đề trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. Giáo viên có
thể triển khai tiết dạy bằng nhiều hướng đi khác nhau. Có thể từ những
đề văn rồi rút ra các bước cần thiết đảm bảo trong bài làm cho các em.
Cụ thể:
Bước 1: giới thiệu tác giả hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận.
Bước 2: Phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng
của đề hoặc 1 số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích.
Bước 3: Đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích.
Từ mục tiêu đó, trong quá trình hướng dẫn giải đề, giáo viên cần
linh hoạt để giúp học sinh hình thành một giàn ý cụ thể hơn so với từng
kiểu đề nếu không vẫn chỉ là một mô hình trừu tượng, chung chung
trong tư duy của học trò.
Nhận thức rõ điều này, tôi đã thực hiện từng công việc cụ thể ở khâu
hướng dẫn giải để từ đó giúp các em có kỹ năng làm bài hiệu quả hơn.
Cụ thể:
a). Bước 1: ở bước này tôi lưu ý học sinh về đối tượng (hay còn gọi là
kiểu đề) của bài văn nghị luận về tác phẩm, về đoạn trích văn xuôi là vô
cùng phong phú, đa dạng: có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật, có
thể chỉ là 1 phương diện, thậm chí chỉ là 1 khía cạnh nhỏ của nội dung
hoặc nghệ thuật … trên cơ sở đó theo mỗi chuyên đề tôi giới thiệu cho
học sinh những dạng câu hỏi (đề văn) cơ bản.
Chẳng hạn: sau khi đọc – hiểu Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân, tôi giới
thiệu hệ thống câu hỏi ôn tập cho các em bao gồm:
1. Trình bày hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa nhan đề tác phẩm Vợ nhặt?
2. Phân tích tình huống truyện Vợ nhặt?
3. Vẻ đẹp của các nhân vật: Tràng, thị, bà cụ Tứ?
4. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trong phần kết thúc truyện Vợ nhặt?
xuôi, phần mỏ bài cần giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần
nghị luận (nói cách khác cần nêu vấn đề nghị luận), tôi cụ thể hoá cho
học sinh những nội dung cần triển khai để có một mở bài thu hút người
đọc.
Cụ thể: học sinh có thể mở bài trực tiếp hay gián tiếp tuỳ theo khả
năng, năng lực riêng của mình. Thông thường các em hay giới thiệu về
tác giả, tác phẩm rồi nêu luận đề. Nhưng thực tế không phải học sinh
nào cũng biết cách giới thiệu hợp lý. Ngược lại đã không ít những học
sinh đã trình bày rất dài dòng, thậm chí lan man tất cả những thông tin
tiểu sử về nhà văn. Xuất phát từ thực tế đó tôi định hướng cho học trò
một số cách mở bài mà tôi cho là có hiệu quả.
Thứ nhất, học sinh có thể vận dụng những nhận định đánh giá liên
quan đến tác giả kết hợp với việc giới thiệu những thông tin cần thiết
về tác giả, tác phẩm trong phần mở bài từ đó nêu luận đề.
Ví dụ: đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ trong
truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân? Học sinh có thể mở: Kim Lân
(1920-2007)là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn
học hiện đại Việt Nam. Ông là nhà văn một lòng một dạ đi về với đất,
với người, với thuần hậu nguyên thuỷ của cuộc sống nông thôn
(Nguyên Hồng). Vợ nhặt (1954) là một trong những tác phẩm ưu tú
của Kim Lân. Tác phẩm được viết trên nền hiện thực của nạn đói
năm 1945- Ất Dậu. Sau đó in trong tập truyện con chó xấu xí (1962).
Trong tác phẩm Kim Lân không chỉ thành công ở việc xây dựng tình
huống chuyện độc đáo mà còn hấp dẫn người đọc bởi tài năng miêu
tả tâm lý nhân vật, đặc biệt là diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ .
Thứ 2, học sinh có thể trích dẫn những ý kiến hay những lời thơ phù
hợp với đề bài cần triển khai.
Ví dụ: Hướng dẫn học sinh triển khai đề: Phân tích giá trị nhân đạo
của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), tôi hướng dẵn học sinh
một trong các cách sau: lấy nhận định của Nam Cao trong truyện ngắn
3, Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông.
(Sao chiến thắng – Chê Lan Viên)
4, Lớp cha trước, lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành
Đó là những lời thơ học sinh có thể vận dụng linh hoạt vào phần mở bài
cho các đề:
- Vẻ đẹp con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ qua hai tác
phẩm Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) và Rừng xà nu
(Nguyễn Trung Thành)?
- Cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng nhận vật Tnú (Rừng xà nu –
Nguyễn Trung Thành) và hình tượng nhân vật Việt (Những đứa con
trong gia đình – Nguyễn Thi)?
- Chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua hai tác phẩm Những đứa con
trong gia đình (Nguyễn Thi) và Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)?
- Nét chung và riêng trong tính cách của Chiến và Việt trong tác phẩm
Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)?
Thứ 3, học sinh có thể vào bài bằng chính ấn tượng, tình cảm của mình
về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi hoặc bằng những liên tưởng, tưởng
tượng để mở bài.
Ví dụ: Đề bài: Cảm nhận hình ảnh đôi bàn tay Tnú trong tác phẩm
Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành? Học sinh có thể mở: Gấp lại
trang văn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, tôi thực sự cảm
phục hình tượng cây xà nu anh dũng, kiên cường trong lửa đạn
chiến tranh với một sức sống bất diệt. Tôi cũng không tránh khỏi sót
xa nhưng cũng rất đỗi tự hào về hình ảnh những con người Tây
Nguyên anh dũng: Cụ Mết,Tnú, Mai, Dít, bé Heng … và đặc biệt tôi
không sao quên được hình ảnh đôi bàn tay Tnú – chi tiết nhỏ nhưng
Ví dụ 2: Hoặc hướng dẫn học sinh triển khai kiểu đề về tình huống
truyện, tôi cũng giúp các em hình thành kỹ năng chung để vận dụng
cho nhiều trường hợp. Chẳng hạn các tác phẩm có câu hỏi tình huống
truyện như: Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân, Hạnh phúc của một
tang gia (Trích Số đỏ – Vũ Trọng Phụng), Vợ nhặt – Kim Lân, Chiếc
thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu, … Từ một đề học sinh sẽ biết
cách khai thác các ý cho các đề tương tự với hệ thống luận điểm chặt
chẽ như sau:
Ý1: Giới thiệu khái niệm, vai trò phân loại tình huống truyện trong tác
phẩm văn xuôi.
Ý2: Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm đó:
+ Giới thiệu hoàn cảnh ra đời, xuất xứ, cốt truyện của tác phẩm.
+ Nội dung tình huống truyện
+ Ý nghĩ tình huống truyện (về nội dung, về nghệ thuật)
Ý3: Đánh giá chung về tình huống truyện.
Trên cơ sở hình thành hệ thống luận điểm, học sinh sẽ không bỏ sót ý,
lặp ý hoặc thừa ý khi triển khai bài viết. Hơn nữa các em sẽ hình thành
kỹ năng triển khai bài viết một cách linh hoạt, khoa học, sáng tạo hơn.
*) Phần kết bài:
Nếu mở bài là phần thu hút, tạo ấn tượng, có thể nói là gọi mời người
đọc đến với bài viết thì kết bài có thể xem là phần neo lại lòng người
những ấn tượng về bài viết đó. Vì vậy, tôi nghĩ phần kết bài cũng
không kém phần quan trọng đối với bài văn của các em. Thông thường
học sinh chỉ viết bài cho có, thậm chí thiếu kết bài do không cân đối
được thời gian hoặc chưa nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của
khâu kết bài. trong quá trình dạy, tôi đã rất chú ý đến việc hướng dẫn
học sinh viết phần kết bài sao cho hiệu quả. Phần kết bài vừa gói lại
vấn đề, vừa thể hiện cái nhìn của người viết (cách đánh giá) về những
vấn đề đó. Do đó kết bài không những thâu tóm được nội dung trọng
tâm đã triển khai trong bài viết mà còn thể hiện được tình cảm của
IV. Hiệu quả:
Qua việc tiến hành những giải pháp trên, tôi đã thu được những kết quả
khả quan xin được chia sẻ cùng bạn bè, đồng nghiệp
1. Với học sinh:
Tôi nhận thấy các em thực sự nắm vững kiến thức trọng tâm của một
tác phẩm truyện ngắn hoặc đoạn trích tiểu thuyết. Không còn hiện
tượng học sinh hiểu sơ sài, hiểu nông cạn những vấn đề đặt ra trong tác
phẩm, đặc biệt các em đã thực sự có kỹ năng để vững tin triển khai một
cách có hiệu quả bài văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm truyện
ngắn hoặc đoạn trích tiểu thuyết.
Tôi thực sự cảm thấy phần khởi khi không còn tình trạng học sinh lạc
đề hoặc triển khai những bài viết còn thiếu ý, lặp ý, sắp xếp ý lộn xộn
hay kiến thức bài viến còn nông cạn.
2. Với giáo viên:
Tiến hành đúng hướng các giải pháp giúp học sinh hình thành và rèn
luyện kỹ năng nghị luận về một tác phẩm truyện ngắn hoặc đoạn trích
tiểu thuyết, tôi thực sự thấy việc giảng dạy trở nên nhẹ nhàng, suôn sẻ
hơn nhiều. Qua những năm trực tiếp giảng dạy ở các theo khối C, D, tôi
đã thu được những kết quả đáng mừng trong các kỳ thi:
*) Thi học sinh giỏi trường: