1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM
TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT TRONG SÁCH
GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 – 12
(CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO)
Họ tên: Bùi Thị Lan
Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
SKKN môn: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2013
A.Đặt vấn đề
I. Lý do chọn đề tài:
Thứ nhất: Như chúng ta đã biết, việc hình thành và rèn luyện kỹ năng
trong quá trình làm văn cho học sinh là vô cùng cần thiết. Việc làm này cả 3
phân môn: Tiếng Việt, Đọc văn, Làm văn cùng đảm nhận, trong đó phân môn
Làm văn giữ vai trò chủ đạo. Phân môn này giúp học sinh hình thành một hệ
thống kỹ năng đảm bảo cho quá trình hoàn thiện một bài văn có hiệu quả: từ
kỹ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập ý, lập dàn ý cho đến lập luận (nêu luận điểm,
tìm luận cứ, sắp xếp luận điểm, luận cứ ….) rồi mở bài, chuyển ý, chuyển
đoạn, kết bài … Trên cơ sở những kỹ năng cơ bản đó, đối với mỗi thể loại,
giáo viên phải hình thành cho học sinh những kỹ năng riêng phù hợp với đặc
trưng thể loại (gọi là mô hình chung) như nghị luận về một tác phẩm kịch,
nghị luận về một tác phẩm thơ, đoạn thơ … và việc rèn luyện kỹ năng nghị
luận về một tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết cũng không ngoại lệ.
Thứ 2: Nhìn vào hệ thống chương trình của 3 khối lớp, chúng ta thấy số
lượng tác phẩm văn xuôi (đặc biệt là truyện ngắn, tiểu thuyết) chiếm tỉ lệ
tương đối lớn. Vì vậy trong hầu hết các kì thi lớn như thi tốt nghiệp, thi đại
học, thi học sinh giỏi….số điểm dành cho những câu hỏi thuộc tác phẩm
đặc biệt kĩ năng viết kiểu bài nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm truyện
ngắn và tiểu thuyết là khâu quan trọng, có tính chất quyết định sự thành bại
trong quá trình viết bài của học sinh. Vì vậy tôi luôn chú trọng đến vấn đề
này. Tôi xin bày tỏ cùng bạn bè, đồng nghiệp một số giải pháp mà tôi gọi đó
là kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn giảng dạy với đề tài: Một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kĩ năng nghị luận về tác phẩm truyện
ngắn và tiểu thuyết trong sách giáo khoa Ngữ Văn 11- 12 (chương trinh
nâng cao).
II. Phạm vi, phương pháp nghiên cứu:
1. Phạm vi nghiên cứu:
3
Trong chương trình THPT ở cả 3 khối lớp, tỉ lệ các tác phẩm truyện ngắn
và tiểu thuyết tương đối lớn. Nhưng ở phạm vi đề tài này tôi chỉ đề cập một số
tác phẩm của chương trình Ngữ Văn 11- 12 (thuộc chương trình nâng cao) và
một số phần kiến thức làm văn, lí luận văn học có liên quan. Cụ thể:
- Bài lí luận: Đọc truyện ngắn và tiểu thuyết (SGK Ngữ Văn 11, tập 1
trang 196, 197)
- Bài: Nghị luận về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi (SGK Ngữ Văn 12, tập
2 trang 19-> 21).
- Một số tác phâm truyện ngắn, đoạn trích tiểu thuyết:
+ Hai đứa tre (Thạch Lam- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 121-> 129)
+ Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 142->
149)
+ Hạnh phúc của một tang gia (Trích tiểu thuyết “Số đỏ”- Vũ Trọng
Phụng- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 159-> 166 )
+ Chí Phèo (Nam Cao- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 178-> 189)
+ Đời thừa (Nam Cao- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 202-> 208)
+ Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài- SGK Ngữ Văn 12, tập 2 trang 3-> 15 )
+ Vợ nhặt (Kim Lân - SGK Ngữ Văn 12, tập 2 trang 22-> 32)
+ Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi- SGK Ngữ Văn 12, tập 2
phẩm là trường hợp hiếm hoi. Do đó khâu viết bài của các em chưa thực sự có
chất lượng thậm chí nhiều đơn vị kiến thức trong bài làm còn thiếu chính xác.
Đã thế các em lại ít đầu tư cho công việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp hoặc
tự luyện viết bài. Vì vậy kĩ năng triển khai một đề văn liên quan đến tác phẩm
truyện ngắn hay đoạn trích tiểu thuyết của các em còn non yếu.
III.Giải pháp và cách thức thực hiện:
Hiểu rõ được tầm quan trọng của việc hình thành và rèn luyện kĩ năng cho
học sinh trong quá trình giảng dạy tôi luôn trăn trở để tìm ra những giải pháp
5
nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề. Vì vậy tôi đã chú trọng thực hiện một số
giải pháp sau:
1. Giúp học sinh nắm vững và vận dụng linh hoạt một số kiến về tác giả
có liên quan, hỗ trợ hữu ích cho việc đọc - hiểu văn bản:
Trên thực tế, chúng ta biết trước khi tiếp cận các đề văn về 1 vấn đề trong
tác phẩm truyện ngắn hoặc đoạn trích tiểu thuyết, học sinh thường phải trải
qua quá trình đọc rồi hiểu các giá trị về nội dung, tư tưởng cũng như những
nét độc đáo về nghệ thuật của tác phẩm đó rồi mới viết bài. Như vậy khâu đầu
tiên là đọc - hiểu thật tốt văn bản. Để đọc- hiểu hiệu quả văn bản, tôi hướng
dẫn các em hiểu và vận dụng một số kiến thức có giá trị từ cuộc đời, phong
cách hoặc một số thông tin liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp nhà văn. Bởi lẽ
tư tưởng, tình cảm cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn chi phối trực
tiếp đến quá trình sáng tạo văn bản, thậm chí in đậm dấu ấn trong những hình
tượng nhân vật, qua những trang viết của những nhà văn.
Chẳng hạn: Khi đọc- hiểu truyện ngắn Hai đúa trẻ (Thạch Lam), học sinh
sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về tình cảm mà nhà văn dành cho những con người.
đặc biệt những trẻ thơ cũng như cảnh vật quê hương nơi phố huyện nghèo nếu
các em nắm vững được những lời tâm sự của chị gái nhà văn là Nguyễn Thị
Thế về kỉ niệm tuổi thơ của 2 chị em: “ Năm Thạch Lam lên 7 tuổi, cha của
ông qua đời, cảnh nhà khó khăn, mẹ Thạch Lam phải tảo tần buôn bán để
nuôi con cái ăn học. Các anh của Thạch Lam đi học ở Hà Nội thi thoảng
giáp Lào. Đó là một khu rừng xà nu tít tắp chân trời. Nhà văn có ấn tượng
sâu đậm và yêu cây xà nu từ đó. Ông thực sự xúc động trước cây xà nu, bởi
ấy là một loại cây hùng vĩ và cao thượng, man dại mà trong sạch, mỗi cây
cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi mênh mông,
tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng
vạn, hàng triệu cây vô tận.
Như vậy cung cấp và giúp học sinh hiểu kỹ những kiến thức về tác giả sẽ
là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả đọc – hiểu văn bản. Từ
7
đó sẽ hình thành ở học sinh khả năng tư duy, vận dụng, liên kết kiến thức
trong việc viết bài.
2. Nắm vững kiến thức đặc trưng thể loại và vận dụng có hiệu quả trong
khâu đọc – hiểu văn bản.
Sẽ thật khó thành công khi đọc - hiểu 1 văn bản mà học sinh không hiểu,
không nắm được kiến thức về đặc trưng thể loại. Vì vậy trong quá trình dạy
các tiết văn xuôi, tôi rất quan tâm đến việc hướng dẫn các em nắm vững và
vận dụng kiến thức đọc truyện và tiểu thuyết
a. Về hình tượng nhân vật:
Đây là yếu tố đầu tiên, quan trọng hàng đầu của thể loại truyện ngắn và
tiểu thuyết. Khi đọc văn bản học sinh cần phân biệt đâu là nhân vật chính, đâu
là nhân vật phụ và nhân vật đó được chú trọng miêu tả theo phương diện nào.
Từ đó hiểu được ý nghĩa của các phương tiện đó trong việc xây dựng nhân
vật.
Ví dụ: Đọc truyện “Vợ chồng A phủ” (Tô Hoài), các em cần thấy được ở
hình tượng nhân vật Mị, Tô Hoài không chú trọng miêu tả những nét chân
dung, ngoại hình mà ông quan tâm miêu tả tâm lý của Mị. Từ đó để khắc hoạ
cuộc đời, số phận bất hạnh cũng như ngợi ca sức sống tiềm tàng, mãnh liệt ở
người con gái Tây Bắc này. Hoặc tương tự đọc truyện “Vợ nhặt”, học sinh
cần thấy rằng ở nhân vật bà cụ Tứ, Kim Lân không quan tâm nhiều trong việc
miêu tả chân dung nhân vật mà chủ yếu khám phá thế giới nội tâm qua việc
đó câu chuyện về cuộc đời Tnú là câu chuyện chính. Và học sinh phải nắm
vững những sự kiện liên quan đến cuộc đời của nhân vật này: Sinh ra, lớn lên
như thế nào? cuộc đời, số phận của Tnú ra sao? …
Cùng với việc nắm cốt truyện, tôi lưu tâm học sinh để ý đến các chi tiết
trong tác phẩm.
Chi tiết được hiểu là những biểu hiện cụ thể, lắm khi nhỏ nhặt nhưng lại
cho thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của chúng, đồng thời thể
hiện sự quan sát và nghệ thuật kể chuyện của nhà văn. Ví dụ đọc “Chiếc
9
thuyền ngoài xa’ của Nguyễn Minh Châu học sinh cần nắm vững ý nghĩa của
chi tiết cái vái lạy của người đàn bà hàng chài, chi tiết ngọn đèn chị Tý trong
tác phẩm “ Hai đứa trẻ” (Thạch Lam), chi tiết bát cháo hành thị Nở, tiếng
chửi của Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí Phèo” – Nam Cao, Chi tiết tiếng
sáo trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ) – Tô Hoài. Hoặc chi tiết
khiêng bàn thờ ba má sang gửi nhà chú Năm của chị em Chiến – Việt trong
tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” – Nguyễn Thi, rồi câu chuyện về
cây si già ở đền Ngọc Sơn trong truyện ngắn “Một người Hà Nội” – Nguyễn
Khải …
Những chi tiết này có giá trị lớn đối với tác phẩm. Vì vậy việc nắm vững,
hiểu rõ các chi tiết nhỏ để vận dụng trong quá trình làm bài là rất hữu ích.
c. Sự miêu tả hoàn cảnh:
Đọc – hiểu văn bản cần thấy được bối cảnh đời sống xã hội, lịch sử, văn
hoá mà nhà văn sáng tác. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để học
sinh hiểu giá trị văn bản. Vì vậy tôi luôn ý thức việc cung cấp đơn vị kiến thức
này cho các em:
Chẳng hạn học sinh sẽ không hiểu hết được tình đời, tình người, cũng như
tinh thần lạc quan của người lao động trong truyện ngắn Vợ nhặt, đặc biệt là
niềm tin mãnh liệt của nhà văn vào người lao động, nếu các em không có hiểu
biết về bối cảnh của lịch sử xã hội Việt Nam vào năm 1945. Đó là bối cảnh
nạn đói thảm khốc chưa từng có trong lịch sử – nạn đói năm Ất Dậu (1945)
chương trình là đều hình thành mô hình chung cho học sinh khi giải quyết 1
vấn đề trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. Giáo viên có thể triển khai tiết dạy
bằng nhiều hướng đi khác nhau. Có thể từ những đề văn rồi rút ra các bước
cần thiết đảm bảo trong bài làm cho các em. Cụ thể:
Bước 1: giới thiệu tác giả hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận.
Bước 2: Phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của
đề hoặc 1 số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích.
Bước 3: Đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích.
11
Từ mục tiêu đó, trong quá trình hướng dẫn giải đề, giáo viên cần linh
hoạt để giúp học sinh hình thành một giàn ý cụ thể hơn so với từng kiểu đề
nếu không vẫn chỉ là một mô hình trừu tượng, chung chung trong tư duy của
học trò.
Nhận thức rõ điều này, tôi đã thực hiện từng công việc cụ thể ở khâu
hướng dẫn giải để từ đó giúp các em có kỹ năng làm bài hiệu quả hơn. Cụ thể:
a). Bước 1: ở bước này tôi lưu ý học sinh về đối tượng (hay còn gọi là kiểu
đề) của bài văn nghị luận về tác phẩm, về đoạn trích văn xuôi là vô cùng
phong phú, đa dạng: có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật, có thể chỉ là 1
phương diện, thậm chí chỉ là 1 khía cạnh nhỏ của nội dung hoặc nghệ thuật …
trên cơ sở đó theo mỗi chuyên đề tôi giới thiệu cho học sinh những dạng câu
hỏi (đề văn) cơ bản.
Chẳng hạn: sau khi đọc – hiểu Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân, tôi giới
thiệu hệ thống câu hỏi ôn tập cho các em bao gồm:
1. Trình bày hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa nhan đề tác phẩm Vợ nhặt?
2. Phân tích tình huống truyện Vợ nhặt?
3. Vẻ đẹp của các nhân vật: Tràng, thị, bà cụ Tứ?
4. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trong phần kết thúc truyện Vợ nhặt?
5. Hình ảnh bữa cơm ngày đói trong truyện ngắn Vợ nhặt?
6. Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt?
7. Hãy phân tích để chứng minh ý kiến tâm sự của nhà văn Kim Lân khi
Cụ thể: học sinh có thể mở bài trực tiếp hay gián tiếp tuỳ theo khả năng,
năng lực riêng của mình. Thông thường các em hay giới thiệu về tác giả, tác
phẩm rồi nêu luận đề. Nhưng thực tế không phải học sinh nào cũng biết cách
giới thiệu hợp lý. Ngược lại đã không ít những học sinh đã trình bày rất dài
dòng, thậm chí lan man tất cả những thông tin tiểu sử về nhà văn. Xuất phát từ
thực tế đó tôi định hướng cho học trò một số cách mở bài mà tôi cho là có
hiệu quả.
13
Thứ nhất, học sinh có thể vận dụng những nhận định đánh giá liên quan
đến tác giả kết hợp với việc giới thiệu những thông tin cần thiết về tác giả, tác
phẩm trong phần mở bài từ đó nêu luận đề.
Ví dụ: đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ trong truyện
ngắn Vợ nhặt của Kim Lân? Học sinh có thể mở: Kim Lân (1920-2007)là
một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn học hiện đại Việt
Nam. Ông là nhà văn một lòng một dạ đi về với đất, với người, với thuần
hậu nguyên thuỷ của cuộc sống nông thôn (Nguyên Hồng). Vợ nhặt (1954)
là một trong những tác phẩm ưu tú của Kim Lân. Tác phẩm được viết trên
nền hiện thực của nạn đói năm 1945- Ất Dậu. Sau đó in trong tập truyện
con chó xấu xí (1962). Trong tác phẩm Kim Lân không chỉ thành công ở
việc xây dựng tình huống chuyện độc đáo mà còn hấp dẫn người đọc bởi
tài năng miêu tả tâm lý nhân vật, đặc biệt là diễn biến tâm trạng của bà cụ
Tứ .
Thứ 2, học sinh có thể trích dẫn những ý kiến hay những lời thơ phù hợp
với đề bài cần triển khai.
Ví dụ: Hướng dẫn học sinh triển khai đề: Phân tích giá trị nhân đạo
của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), tôi hướng dẵn học sinh một
trong các cách sau: lấy nhận định của Nam Cao trong truyện ngắn Đời thừa
để mở: Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và
giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa
đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó
4, Lớp cha trước, lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành
Đó là những lời thơ học sinh có thể vận dụng linh hoạt vào phần mở bài
cho các đề:
15
- Vẻ đẹp con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ qua hai tác
phẩm Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) và Rừng xà nu (Nguyễn
Trung Thành)?
- Cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng nhận vật Tnú (Rừng xà nu – Nguyễn
Trung Thành) và hình tượng nhân vật Việt (Những đứa con trong gia đình –
Nguyễn Thi)?
- Chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua hai tác phẩm Những đứa con trong
gia đình (Nguyễn Thi) và Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)?
- Nét chung và riêng trong tính cách của Chiến và Việt trong tác phẩm
Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)?
Thứ 3, học sinh có thể vào bài bằng chính ấn tượng, tình cảm của mình về
tác phẩm, đoạn trích văn xuôi hoặc bằng những liên tưởng, tưởng tượng để
mở bài.
Ví dụ: Đề bài: Cảm nhận hình ảnh đôi bàn tay Tnú trong tác phẩm Rừng
xà nu – Nguyễn Trung Thành? Học sinh có thể mở: Gấp lại trang văn Rừng
xà nu của Nguyễn Trung Thành, tôi thực sự cảm phục hình tượng cây xà
nu anh dũng, kiên cường trong lửa đạn chiến tranh với một sức sống bất
diệt. Tôi cũng không tránh khỏi sót xa nhưng cũng rất đỗi tự hào về hình
ảnh những con người Tây Nguyên anh dũng: Cụ Mết,Tnú, Mai, Dít, bé
Heng … và đặc biệt tôi không sao quên được hình ảnh đôi bàn tay Tnú –
chi tiết nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn. Đôi bàn tay – một cuộc đời.
Hoặc khi triển khai đề bài: Chi tiết báo cháo hành của nhân vật thị Nở
trong truyện ngắn Chí Phèo – Nam Cao? Học sinh có thể viết mở bài: Ta đã
từng day dứt, ám ảnh bởi hình ảnh ngọn đèn chị Tý trong truyện ngắn Hai
đứa trẻ của Thạch Lam, ta đã từng trăn trở, băn khoăn trước cái vái của
thống luận điểm chặt chẽ như sau:
Ý1: Giới thiệu khái niệm, vai trò phân loại tình huống truyện trong tác
phẩm văn xuôi.
17
Ý2: Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm đó:
+ Giới thiệu hoàn cảnh ra đời, xuất xứ, cốt truyện của tác phẩm.
+ Nội dung tình huống truyện
+ Ý nghĩ tình huống truyện (về nội dung, về nghệ thuật)
Ý3: Đánh giá chung về tình huống truyện.
Trên cơ sở hình thành hệ thống luận điểm, học sinh sẽ không bỏ sót ý, lặp
ý hoặc thừa ý khi triển khai bài viết. Hơn nữa các em sẽ hình thành kỹ năng
triển khai bài viết một cách linh hoạt, khoa học, sáng tạo hơn.
*) Phần kết bài:
Nếu mở bài là phần thu hút, tạo ấn tượng, có thể nói là gọi mời người đọc
đến với bài viết thì kết bài có thể xem là phần neo lại lòng người những ấn
tượng về bài viết đó. Vì vậy, tôi nghĩ phần kết bài cũng không kém phần quan
trọng đối với bài văn của các em. Thông thường học sinh chỉ viết bài cho có,
thậm chí thiếu kết bài do không cân đối được thời gian hoặc chưa nhận thức
rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của khâu kết bài. trong quá trình dạy, tôi đã rất chú
ý đến việc hướng dẫn học sinh viết phần kết bài sao cho hiệu quả. Phần kết
bài vừa gói lại vấn đề, vừa thể hiện cái nhìn của người viết (cách đánh giá) về
những vấn đề đó. Do đó kết bài không những thâu tóm được nội dung trọng
tâm đã triển khai trong bài viết mà còn thể hiện được tình cảm của người viết
trước vấn đề. Phần kết phải vang thì bài văn mới thực sự tạo được dư âm cho
người đọc. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải quyết đề: Chủ nghĩa anh hùng
cách mạng Việt Nam qua hai tác phẩm Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành
và Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Đình Thi, tôi hướng dẫn học sinh
kết bài như sau:
Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam hiển diện ở mọi nơi, khắp
mọi miền đất nước. Từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền
nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm truyện ngắn hoặc đoạn trích tiểu
thuyết.
19
Tôi thực sự cảm thấy phần khởi khi không còn tình trạng học sinh lạc đề
hoặc triển khai những bài viết còn thiếu ý, lặp ý, sắp xếp ý lộn xộn hay kiến
thức bài viến còn nông cạn.
2. Với giáo viên:
Tiến hành đúng hướng các giải pháp giúp học sinh hình thành và rèn luyện
kỹ năng nghị luận về một tác phẩm truyện ngắn hoặc đoạn trích tiểu thuyết,
tôi thực sự thấy việc giảng dạy trở nên nhẹ nhàng, suôn sẻ hơn nhiều. Qua
những năm trực tiếp giảng dạy ở các theo khối C, D, tôi đã thu được những
kết quả đáng mừng trong các kỳ thi:
*) Thi học sinh giỏi trường:
Năm học 2011 – 2012, tôi có 25 giải học sinh giỏi môn Văn (trong đó 1
giải Nhất, 3 giải Nhì, 9 giải Ba, 12 giải Khuyến Khích). Năm học 2012 –
2013, tôi có 26 giải: (trong đó: 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 16 giải Ba, 7 giải
Khuyến Khích)
*)Thi học kỳ: Đa phần học sinh nắm vững kỹ năng làm bài, triển khai bài
viết khoa học, rõ ràng, có sức thuyết phục. Kiến thức chắc, sâu, rộng và dung
lượng bài làm tương đối tốt. Nhiều học sinh có khả năng viết trên 2,5 tờ giấy
thi vơí thời gian làm bài 90 phút và đạt điểm 8; 8,5 thậm chí 9 điểm
*) Thi thử đại học: Qua các lần thi thử đại học do trường tổ chức học sinh
của các lớp theo khối C, D có sức viết tốt, nắm vững kỹ năng làm bài, hệ
thống luận điểm khoa học chặt chẽ, bài viết có khả năng thuyết phục cao.
Nhiều em khối D đạt điểm từ 24 trở lên, thậm chí 25,75 điểm, trong đó môn
Văn đạt 8,5 điểm. Nhiều em khối C đạt từ 23,5 điểm trở lên, trong đó điểm
Văn đạt 7,75 điểm, 8 điểm, 8,25 điểm …
*) Trong kỳ thi học sinh giỏi Tỉnh: Những năm gần đay trường chúng tôi
đều có thành tích cao, đặc biệt với riêng bộ môn Văn:
+ Năm học 2009 – 2010 đạt 9 giải
Bùi Thị Lan
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn nâng cao 11 – 12, nhà xuất bản GD Việt
Nam
2. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức – kỹ năng môn Ngữ văn -
nhà xuất bản GD Việt Nam 2010
3. Kỹ năng đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 11 – Nguyễn Kim Phong chủ
biên - nhà xuất bản GD năm 2007
4. Kỹ năng đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 12 – Nguyễn Kim Phong chủ
biên - nhà xuất bản GD năm 2009
5. Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12 – Những đứa con trong gia đình
(Nguyễn Thi) – chủ biên Hoàng Dục – Nhà xuất bản GD năm 2008
6. Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12 – Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) – chủ
biên Hoàng Dục – Nhà xuất bản GD năm 2008
7. Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12 – Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)
– chủ biên Hoàng Dục – Nhà xuất bản GD năm 2008
8. Ôn luyện kiến thức tác phẩm Ngữ văn 12 (Nguyễn Văn Hiếu –
Nguyễn Thị Mai Lan – Nguyễn Thị Tuyết Nhung). Nhà xuất bảnGD
Việt Nam năm 2010.
23
MỤC LỤC
A. Đặt vấn đề ………………………………………………………. 1
I. Lý do chọn đề tài ………………………………………………… 1
II, Phạm vi tư liệu, phương pháp nghiên cứu …………………… 2
1. Phạm vi đề tài ……………………………………………………. 2
2. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………… 2
B. Giải quyết vấn đề ……………………………………………… 2
I. Tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng nghị luận của một tác