-
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Lí do chọn đề tài
Trong các thị trường hàng hóa hiện nay thì thị trường về mặt hàng thực phẩm tươi
sống đang rất được coi trọng, đầu tư bởi lẽ nhu cầu của người tiêu dùng hiện nay có xu
hướng “ăn ngon, mặc đẹp” chứ không còn “ăn no, mặc ấm” như trước đây . Sự xuất hiện của
nhiều dòng sản phẩm phục vụ nhu cầu ăn uống hợp vệ sinh trong thời gian gần đây đã giúp
khách hàng có thêm nhiều chọn lựa, bên cạnh đó, do tác động của nhiều mặt, người tiêu dùng
ngày càng trở nên khó tính hơn khi lựa chọn những thực phẩm, đa phần họ đòi hỏi sản phẩm
phải đảm bảo vệ sinh, chất luợng tốt mà giá lại rẻ…nếu doanh nghiệp không đáp ứng được
những nhu cầu đó của khách hàng thì không thể thu hút được khách hàng đến với doanh
nghiệp. Trong điều kiện phức tạp như hiện nay để làm được điều này là 1 trăn trở rất lớn của
doanh nghiệp, vấn đề là mỗi nhà quản lý phải thấy được, nắm bắt những vấn đề đó có tầm
quan trọng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả SX-KD để từ đó có định hướng trong công tác quản
lý một cách chặt chẽ, hợp lý và hiệu quả hơn. Để làm được điều này thì mỗi doanh nghiệp
phải tổ chức tốt công tác đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng, nói cách
khác, phải làm cho quá trình lưu thông hàng hóa được thuận lợi . Trong đó, công tác tạo
nguồn và mua hàng là khâu đầu tiên của quá trình luân chuyển hàng hóa, là một trong những
công tác không thể thiếu, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng
như HTX TM DV Thuận Thành
Hợp tác xã thương mại dịch vụ Thuận Thành được thành lập vào năm 1776, tiền thân
là một hợp tác xã mua bán. Mặt hàng kinh doanh chủ yếu của hợp tác xã là các sản phẩm tiêu
dùng thiết yếu. Trong giai đoạn chuyển sang cơ chế thị trường, hàng loạt các hợp tác xã trong
địa bàn tỉnh tan rã thì hợp tác xã Thuận Thành đã từng bước vượt qua các khó khăn, thử
thách, và đã tìm ra hướng đi mới để tiếp tục tồn tại. Sau một chặng đường dài phấn đấu, HTX
đã đạt được những thành tựu đáng kể
Vào năm 2005, hợp tác xã khai trương siêu thị mini đã góp phần quan trọng trong
việc đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng . Ngay từ tháng đầu đi vào hoạt động, doanh
thu đã vượt xa so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Các mặt hàng mới được đưa thêm vào danh
mục, trong đó có thực phẩm tươi sống. Do có uy tín làm ăn, nên thực phẩm tươi sống của
Thuận Thành đã được người tiêu dùng đón nhận nồng nhiệt. Tuy nhiên, công tác tạo nguồn
Dữ liệu thứ cấp bên trong về HTX TM DV Thuận Thành như lịch sử hình thành, cơ
cấu lao động, các bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả kinh doanh, v.v… thu thập từ
phòng kinh doanh và phòng kế toán HTX TM DV Thuận Thành.
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
2
-
Dữ liệu thứ cấp bên ngoài như một số thông tin về nguồn hàng, nhà cung ứng, đối thủ
cạnh tranh…vv và các vấn đề liên quan đến hàng thực phẩm tươi sống thu thập từ các
website, sách, vở, báo, tạp chí…
Dữ liệu sơ cấp: Các thông tin thu thập từ phiếu điều tra qua việc phỏng vấn trực tiếp
khách hàng, ban quản lý HTX, các anh, chị em nhân viên làm việc tại HTX
♦Phương pháp so sánh : Nghiên cứu sự biến động của các chỉ tiêu qua các kỳ phân
tích như doanh thu, chi phí tạo nguồn, thu mua, lao động....của HTX TM DV Thuận Thành
và một số chỉ tiêu khác nhằm thấy được mức độ hoàn thành kế hoạch, cũng như tốc độ phát
triển trong kỳ của HTX
1.6.Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 phần
+Phần 1 : Đặt vấn đề
+Phần 2 : Nội dung và kết quả nghiên cứu
Gồm 3 chương
-Chương 1 : cơ sở khoa học về công tác tạo nguồn và thu mua về hàng hóa
-Chương 2 : Thực trạng công tác tạo nguồn và mua hàng tại HTX TM DV
Thuận Thành
-Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tạo nguồn và mua
hàng tại HTX TM DV Thuận Thành
+Phần 3: Kết luận và kiến nghị
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
3
-
PHẦN 2 : NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
hàng hoá thu mua được theo tiêu thức cụ thể riêng biệt để doanh nghiệp có chính sách, biện
pháp thích hợp nhằm khai thác tối đa lợi nhuận của mỗi loại nguồn hàng. Các nguồn hàng
của DNTM có thể phân loại dựa trên các tiêu thức sau
-Theo khối lượng hàng hoá thu mua được
- Nguồn hàng chính: là nguồn hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng khối lượng
hàng hoá mà doanh nghiệp mua về để cung ứng cho khách hàng trong kỳ. Đối với nguồn
hàng chính, nó quyết định khối lượng hàng hoá của doanh nghiệp mua được, nên phải có sự
quan tâm thường xuyên để đảm bảo sự ổn định của nguồn hàng này.
- Nguồn hàng phụ: đây là nguồn hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong khối lượng hàng hoá
thu mua được. Khối lượng thu mua của nguồn hàng này không ảnh hưởng tới doanh số bán
của DNTM. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chú ý khả năng phát triển của nguồn hàng này và
nhu cầu thị trường đối với mặt hàng, cũng như thế mạnh khác của nó để phát triển trong
tương lai
- Nguồn hàng trôi nổi: đây là nguồn hàng mua được trên thị trường của đơn vị tiêu
dùng hoặc của đơn vị kinh doanh bán ra. Đối với nguồn hàng này cần xem xét kỹ chất lượng
hàng hoá, giá cả hàng hoá cũng như nguồn gốc, xuất xứ của hàng hoá.
-Theo nơi sản xuất ra hàng hoá
- Nguồn hàng sản xuất trong nước: bao gồm các loại hàng hoá do các xí nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, các xí nghiệp khai thác chế biến hoặc gia công, lắp ráp thuộc mọi thành
phần kinh tế đặt trên lãnh thổ Việt Nam.
- Nguồn hàng nhập khẩu: là nguồn hàng được nhập khẩu từ nước ngoài. Nguồn hàng
nhập khẩu có thể có nhiều loại: tự DNTM nhập khẩu, DNTM nhận hàng nhập khẩu từ các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu chuyên doanh, các đơn vị thuộc tổng HTX ngành hàng cấp
trên, nhận của các doanh nghiệp nước ngoài, hoặc nhận đại lý cho các hãng xuất khẩu trong
nước, liên doanh hoặc của các hãng nước ngoài.
- Nguồn hàng tồn kho : Đây có thể là nguồn hàng tồn kho theo kế hoạch dự trữ của nhà
nước để điều hành thị trường, nguồn tồn kho của các DNTM, của các đơn vị tiêu dùng do thay
đổi mặt hàng sản xuất hoặc không cần dùng có thể huy động được trong kỳ kế hoạch
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
5
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
6
-
1.1.1.3.Các hình thức tạo nguồn và mua hàng ở DNTM
Mua theo đơn đặt hàng và hợp đồng kinh tế ký trước: Để có hàng hoá, dựa vào mối
quan hệ kinh doanh sẵn có hoặc chào hàng của người cung cấp, DNTM phải đặt hàng
của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Đơn hàng là yêu cầu cụ thể về loại hàng hoá mà doanh nghiệp thương mại cần mua
để bảo đảm nguồn hàng cung ứng cho khách hàng
Mua hàng theo hợp đồng kinh tế đã ký kết: Thực hiện việc giao nhận hàng hoá có
chuẩn bị trước, có kế hoạch trong hoạt động kinh doanh, hình thức này giúp DNTM
ổn định được nguồn hàng, có khả năng khá chắc chắn để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng
Mua hàng không theo hợp đồng: Đây là hình thức mua đứt, bán đoạn, và mua hàng
trôi nổi trên thị trường. Về hình thức mua hàng trên thị trường này, người mua phải có
trình độ và kỹ thuật nghiệp vụ mua hàng thông thạo, phải kiểm tra số lượng và chất
lượng hàng hoá và nếu có thể phải xem xét nguồn gốc của hàng hoá để đảm bảo hàng
mua về có thể bán được
Mua qua đại lý: DNTM có thể ký các hợp đồng đại lý mua hàng. Việc mua hàng
thông qua các đại lý thu mua giúp cho DNTM có thể gom được những mặt hàng có
khối lượng không lớn, không thường xuyên
Nhận bán hàng uỷ thác và ký gửi: Để có thể tận dụng mạng lưới bán hàng, DNTM có
thể nhận với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc các DNTM khác bán hàng
uỷ thác. Cũng tương tự như vậy, DNTM cũng có thể nhận bán hàng ký gửi. Sau khi
bán hàng ký gửi, DNTM sẽ được hưởng một khoảng lệ phí ký gửi theo doanh số bán
Liên doanh, liên kết tạo nguồn hàng: DNTM có thể tận dụng ưu thế của mình về vốn,
về nguyên vật liệu hoặc thị trường tiêu thụ, cùng với các doanh nghiệp khác liên
doanh, liên kết để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sản lượng và giá trị tiêu
thụ trên thị trường.
Gia công hoặc bán nguyên vật liệu thu mua thành phẩm: Có mặt hàng chưa phù hợp
đắp cho chi phí kinh doanh, có lợi nhuận để phát triển và mở rộng kinh doanh, tăng thu nhập
cho người lao động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước và các mặt hàng của
DNTM
Tóm lại, các doanh nghiệp thương mại muốn phát triển và mở rộng kinh doanh, việc
đảm bảo nguồn hàng chất lượng tốt, cung ứng ổn định, lâu dài, phong phú, giá cả hợp lý, là
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
8
-
điều kiện đảm bảo cho sự tăng tiến của doanh nghiệp và vị trí của doanh nghiệp trên thương
trường, cũng như thành công trong kinh doanh thương mại.
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tạo nguồn mua hàng
Nhân tố cung cầu thị trường
Thị trường là môi trường trong đó diễn ra quá trình người bán và người mua tác động
qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và lượng hàng hoá tiêu thụ. Nó có vai trò quan trọng trong
định hướng sản xuất kinh doanh, bởi căn cứ vào cung cầu và giá cả thị trường để giải quyết
những vấn đề cơ bản như : sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Chính thị
trường đã kết hợp các yếu tố sản xuất như:đất đai, máy móc, nhiên liệu, quặng mỏ… để sản
xuất ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, đối với doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh, có hai loại thị trường tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến doanh nghiệp, đó là thị
trường cung ứng (hay thị trường đầu vào) và thị trường tiêu thụ sản phẩm (hay thị trường đầu
ra), hai thị trường này có quan hệ mật thiết với nhau. Thị trường tiêu thụ với các yếu tố quy
mô, độ ổn định của cơ cấu hàng hoá, chất lượng, giá cả, thị hiếu sử dụng, và phương thức
mua bán có vai trò định hướng cho thị trường cung ứng hàng hoá. Trong cơ chế thị trường
với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp cần phải “bán cái thị trường cần,
chứ không bán cái mình có”. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến công tác tạo
nguồn-mua hàng. Việc tạo nguồn mua hàng cũng cần phải tính đến nhu cầu thị trường, tiêu
thụ về số lượng, chất lượng, giá cả hàng hoá…để từ đó doanh nghiệp tìm kiếm thị trường
cung ứng nguyên vật liệu có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu đó. Bên cạnh đó, quan hệ cung
cầu hàng hoá cũng tác động đến công tác tạo nguồn- mua hàng( về giá cả, quy mô, tính ổn
định của hàng hoá) làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Vì vậy, việc nắm bắt tình hình
lý có hiệu quả trong việc thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, tạo ra môi
trường thuận lợi và hành lang pháp lý an toàn cho kinh doanh. Điều mà các chủ thể kinh tế
hay các doanh nghiệp quan tâm là việc đưa các chính sách vĩ mô của nhà nước có ảnh hưởng
như thế nào đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Tuy nhiên trong những năm gần đây,
nhà nước ta đã có những chính sách phù hợp với từng ngành, từng cơ sở sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt với lĩnh vực thương mại từ cuối năm 1998, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều
quyết định quan trọng theo hướng khuyến khích mở rộng lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc
độ xuất nhập khẩu, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước, hạn chế thủ tục rườm rà, đặc
biệt là để các doanh nghiệp tự do lựa chọn phương án kinh doanh của mình mà không có sự
can thiệp quá sâu của nhà nước. Chính điều đó đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
10
-
hiện tốt hơn các công đoạn của quá trình kinh doanh nói chung và công tác-tạo nguồn mua
hàng nói riêng
Bên cạnh đó, công tác tạo nguồn-mua hàng của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của
các yếu tố khác như môi trường tự nhiên, yếu tố công nghệ, văn hoá xã hội…
1.1.3.Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh
* Doanh thu: đối với doanh nghiệp thương mại, doanh thu được hình thành từ các
hoạt động bán hàng và dịch vụ là chủ yếu, ngoài ra còn có các nguồn thu khác
DT=∑P
i
Q
i
Trong đó
DT: tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng và dịch vụ
P
i
: giá cả 1 đơn vị hàng hoá thứ i hay dịch vụ thứ i
Q
đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (T
c
), (%)
Tc = x 100
Chỉ tiêu này cho biết cứ bỏ ra 1 đồng chi phí thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
cho doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (H
v
) , (%)
H
v
= x 100
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn tham gia vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
càng cao
1.1.5. các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả công tác tạo nguồn-mua hàng
• Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch thu mua hàng hoá
T=Q
1i
/ Q
ki
Trong đó
T : tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch thu mua hàng hoá
Q
1i
: số lượng hàng hoá loại i thực tế mua vào
Q
ki
: số lượng hàng hoá loại i cần mua theo kế hoạch
vật : tấn, m
3
)
X
kh
: Khối lượng hàng hoá bán ra kỳ kế hoạch tính theo từng loại (đơn vị hiện vật
: tấn…
)
D
ck
: Khối lượng hàng cần dự trữ ở cuối kỳ kế hoạch (đơn vị hiện vật: tấn…)
D
dk
: Khối lượng hàng dự trữ còn lại ở đầu kỳ kế hoạch (đơn vị hiện vật : tấn…)
1.1.6.Khái niệm và những đặc trưng cơ bản về mặt hàng thực phẩm tươi sống
♦Khái niệm
Là những đồ ăn hay đồ uống khác ngoài số thực phẩm đã qua chế biến bao gồm
các loại sau
Thực phẩm nông sản
- Rau (gồm các loại rau mới chỉ được cắt thái)
- Các loại rau thân củ, các loại rau lá, các loại rau củ quả, các loại rau gia vị, các loại
rau " tập tàng", các loại nấm, cá loại rau dại ăn được, các loại rau bột quả,các loại rau khác.
- Quả (gồm các loại quả mới chỉ được cắt thái hoặc đông lạnh)
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
13
-
- Các loại quả có múi, các loại quả có nhân, các loại quả có hạt, các loại dâu, các loại
quả vỏ cứng, các loại quả nhiệt đới và cận nhiệt đới, các loại quả khác
quản nguồn hàng này, để phân phối đến tay người tiêu dùng đảm bảo chất lượng tốt
nhất.
Chi phí để mua thực phẩm tươi sống thường rẻ hơn chi phí khi mua thực phẩm đã qua
chế biến
Định giá thực phẩm tươi sống cho khách hàng phải thông qua các quy trình nhất định(
như cân, đong, đo, đếm…)
Thực phẩm tươi sống mang tính chất thời vụ
1.2.Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm tươi sống có uy tín, có thương
hiệu như Vissan, Nam Phong, hệ thống bán sỉ của Metro, hệ thống các HTX như (Big C,
Coo.mart, Thuận Thành…) đã và đang chịu một áp lực lớn trước nhu cầu của người tiêu
dùng khi họ lựa chọn những mặt hàng này.
Xu hướng tiêu dùng của khách hàng gần đây là chọn lựa thực phẩm an toàn. Và họ đã
chấp nhận chọn miếng thịt đắt đỏ hơn một chút, mà đảm bảo vệ sinh an toàn trong các HTX,
các kênh phân phối có thương hiệu. Họ tin tưởng sự an toàn này được đảm bảo từ khâu chọn
lựa nguyên liệu, giết mổ, sơ chế đến việc bảo quản trong quá trình bày bán bằng các phương
tiện hiện đại.
Tuy nhiên, cho đến nay, lượng thực phẩm tươi sống được cung cấp từ các nhà phân
phối có thương hiệu vẫn còn chiếm một tỷ lệ khiếm tốn. Chỉ tính riêng mặt hàng thịt heo, một
mặt hàng có được từ một số các nhà cung cấp có thương hiệu như Vissan, Nam Phong nắm
giữ sản lượng chủ lực, thì theo ước tính của những người trong lĩnh vực này, lượng thịt được
phân phối qua các kênh phân phối gồm hệ thống các HTX và Metro chỉ chiếm tỷ lệ chưa tới
20% của nhu cầu khoảng 340 tấn/ngày .
Bên cạnh đó, hệ thống HTX hiện nay chỉ mới tập trung ở các khu trung tâm, vùng có
mật độ dân cư đông. Riêng hệ thống của Metro thì chỉ bán hàng giới hạn cho một đối tượng
là những người có thẻ hội viên của hệ thống này.
Gần đây, HTX Vissan đã phát triển được một mạng phân phối gồm một chuỗi 14
cửa hàng riêng của mình. Trong đó các sản phẩm tươi sống như thịt, cá các loại khi bảo
quản cũng như lưu thông được bảo quản bằng các phương tiện hiện đại, phù hợp. Tuy
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
chiếm dụng đồng thời phải đối phó với 1 số đơn vị hùng hậu trên địa bàn.
Ba năm bế tắc trong kinh doanh, đến khi bắt đầu được phục hồi (1992) đã trở thành
một đơn vị có nhiều ưu thế so với các đơn vị khác đóng trên địa bàn thành phố. Năm 1992,
HTX mới chỉ đạo làm đại lý cho công ty xăng dầu Đà Nẵng, hàng hóa còn rất nghèo nàn, nợ
quá hạn ngân hàng (nên không thể vay vốn để hoạt động)
Sau khi thu hồi và hoàn trả nợ quá hạn ngân hàng, HTX đã bắt đầu quan hệ với các
công ty nhà máy để nhận làm đại lý tiêu thụ, tuy nhiên đều không được chấp nhận
Trải qua 6 năm (1993-1999) với sự năng động và sáng tạo, xây dựng được 1 nền tảng
uy tín, cùng với sự nhạy bén, quyết tâm và đoàn kết của tập thể anh, chị em đã đưa HTX vượt
qua mọi khó khăn, và đang dần phát triển.
Nếu tính năm 1992, chỉ có 1 đơn vị là công ty xăng dầu cho làm đại lý thì đến năm
2002 đã có gần 30 công ty, nhà máy, hầu hết các hãng mà hợp tác xã làm đại lý đều là những
hãng có uy tín như : công ty sữa Việt Nam, công ty Unilever Việt Nam, công ty liên doanh
Elida P/S, công ty liên doanh sản xuất kẹo perferti, công ty liên doanh Vifon- Acecook, nhà
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
17
-
máy dầu Tân Bình, công ty bột ngọt Vedan…đa phần là những hàng nhu yếu phẩm phục vụ
đời sống nhân dân.
Tháng 2/1998, HTX đã được chuyển đổi theo loại HTX tại nghị định 15 CP
nhưng do HTX hoạt động trên lĩnh vực thương mại và dịch vụ nên HTX không được
hưởng các điều khoản khuyến khích như: được giao dịch, vay vốn, miễn thuế, đây là 1
thiệt thòi đối với HTX.
Năm 1992, HTX xây dựng nhà máy nước đá với công suất 5 tấn/ngày.
Năm 1994, mua đất xây dựng tổng kho với diện tích 500 m
2
, giá trị đầu tư
850 triệu đồng.
Năm 1996, thành lập chi nhánh hoạt động tại thị xã Đông Hà- Quảng Trị.
Năm 1999, xây dựng cơ sở dạy nghề và giải quyết công ăn việc làm cho người khuyết
Chức năng
♦ Tổ chức mua hàng của các thành phần kinh tế khác và tiêu thụ chúng với nhiều
phương thức khác nhau, đảm bảo hàng hóa bán ra có chất lượng, giá cả phù hợp với khả năng
thanh toán của người tiêu dùng
♦ Phối hợp với thương mại quốc doanh nhằm bình ổn giá cả trên thị trường, hạn chế
sự thao túng giá cả của các thành phần kinh tế khác
Nhiệm vụ
♦ HTX có nhiệm vụ chính là kinh doanh các mặt hàng đã đăng ký, đa dạng hóa các
mặt hàng, tổ chức thu mua và lựa chọn kinh doanh các mặt hàng đảm bảo về chất lượng, giá
cả nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, bạn hàng trong và ngoài tỉnh
♦ Nhờ vào việc kinh doanh có hiệu quả và không ngừng mở rộng quy mô kinh doanh,
HTX có nhiệm vụ mở rộng các chi nhánh của tỉnh bạn, tỉnh nhà thông qua các hợp đồng ký
trực tiếp với chủ đầu tư, và HTX đồng thời giới thiệu sản phẩm cho các đơn vị
♦ Trong quá trình kinh doanh của mình, HTX luôn chú trọng đến nhiệm vụ thực hiện
đúng chế độ kế toán, chế độ quản lý tài sản, tài chính , tiền lương nhằm nâng cao hiệu quả
kinh doanh
♦ Nộp đầy đủ các khoản thuế cho ngân sách nhà nước, đây vừa là nghĩa vụ, vừa là
nhiệm vụ không thể thiếu của HTX
♦ Không ngừng chăm lo đời sống, giải quyết việc làm, bảo đảm quyền lợi kinh tế cho
xã viên và cả những người lao động do HTX thuê, khuyến khích, tạo điều kiện để người lao
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
19
-
động trở thành thành viên của HTX, đóng bảo hiểm xã hội cho xã viên theo quy định của
pháp luật
♦ Không ngừng triển khai nghiên cứu thị trường nhằm đề ra các giải pháp mở rộng thị
trường, đẩy mạnh hoạt động phân phối, tiêu thụ hàng hóa và giảm chi phí kinh doanh
Giới thiệu bộ máy quản lý của HTX và siêu thị Thuận Thành
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của HTX-TMDV Thuận Thành
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
Tổ tiếp thị
Tổ bảo vệ Tổ thu ngân
Chủ nhiệm siêu
thị
Phó chủ
nhiệm kinh
doanh
Phó chủ nhiệm
phụ trách siêu
thị
Phòng kế toán
Phòng kinh
doanh
Tổ bảo vệ
21
-
nghiệp vụ và xã viên về việc thực hiện luật HTX, điều lệ, nội quy của HTX, nghị
quyết của đại hội xã viên và các chính sách thương mại, kiểm tra về tài chính kế
toán, phân phối thu nhập, sử dụng các quỹ HTX, sử dụng vốn và các vấn đề quan
trọng khác
Chủ nhiệm HTX Do đại hội xã viên bầu ra trong số thành viên ban quản trị, chủ
nhiệm HTX là đại diện pháp nhân của HTX, có quyền triệu tập và chủ trì các
cuộc họp ban quản trị, chịu trách nhiệm trước ban quản trị cũng như toàn thể xã
viên và pháp luật về hoạt động điều hành HTX
Phó chủ nhiệm kinh doanh Là thành viên của ban quản trị. Phó chủ nhiệm kinh
doanh tổ chức các tổ hàng hóa như tổ thuốc lá, tổ sữa, tổ kẹo,…và quản lý lực
lượng bán hàng, theo dõi hệ thống phân phối, nghiên cứu nắm bắt thông tin, tìm
kiếm thị trường, tiến hành công tác quảng cáo, tiếp thị…Mở rộng các quan hệ
với khách hàng, mở rộng thị trường và lựa chọn thị trường tiêu thụ hàng hóa có
hiệu quả nhất
viên và quản lý nhân viên của siêu thị. Đó là tìm hiểu nguồn hàng đủ về chất, tốt
về lượng, đồng bộ về cơ cấu, là nguồn hàng có chất lượng nhưng giá cả phải
chăng
Tổ bán hàng Chịu trách nhiệm về hoạt động bán hàng của siêu thị
Tổ thu ngân Chịu trách nhiệm thu tiền thanh toán của khách hàng
Tổ tiếp thị Giao hàng đến cho người tiêu dùng
Đội xe nhận hàng từ các công ty về kho của siêu thị và từ siêu thị đến khách hàng
Qua sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của HTX cho thấy cơ cấu tổ chức bộ
máy được hình thành theo kiểu trực tuyến chức năng. Ưu điểm của cơ cấu tổ
chức này thể hiện ở chỗ: có thể phát huy được năng lực sở trường của từng nhân
viên, tạo điều kiện để họ tích lũy kinh nghiệm nhằm thực hiện công việc một
cách có hiệu quả. Mặt khác, do mọi hoạt động đều chịu sự chỉ đạo trực tiếp của
chủ nhiệm HTX nên đảm bảo được tính đồng bộ, thống nhất, phối hợp hoạt động
của các bộ phận vào mục tiêu chung, đồng thời dễ dàng kiểm soát và điều chỉnh
sai sót của từng bộ phận. Đây là mô hình quản lý phù hợp với quy mô hiện nay
của HTX
2.1.4.Các nguồn lực SXKD của HTX
2.1.4.1.Tình hình lao động của HTX:
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
23
-
Để giành được thắng lợi trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, con người luôn
là yếu tố quyết định. Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải xây dựng cho mình
một đội ngũ người lao động có đủ trình độ, năng lực, được phân công hợp lý. Thấy rõ
tầm quan trọng đó, ngay từ khi mới thành lập, ban lãnh đạo HTX đã rất chú trọng việc
xây dựng và đào tạo lực lượng lao động của mình, ta xem xét bảng sau ( Nguồn : Phòng
kế toán HTX Thuận Thành )
Bảng 2.3 : Tình hình đội ngũ lao động của HTX (Đơn vị tính : Người)
Chỉ tiêu
2007 2008 2009
nam
86 24.57 118 29.14 158 28.21 32 37.21 40 33.9
Lao động
nữ
264 75.43 287 70.86 402 71.79 23 8.71 115 40.07
II.Phân
theo tính
chất công
việc
Lao động
trực tiếp 225
64.29 262 64.69 371 66.25 37 16.44 109 41.60
Lao động
gián tiếp
125 35.71 143 35.31 189 33.75 18 16.40 46 32.17
Trần Mậu Thìn - K40 - QTKDTM
24
-
III. Phân
theo trình
độ
Đại học,
cao đẳng
23 6.57 28 6.91 45 8.04 5 21.74 17 60.71
Trung cấp 101 28.86 121 29.88 149 26.61 20 19.80 28 23.14
Lao động
phổ thông
97 27.71 113 27.90 137 24.46 16 16.49 24 21.24
Nghiệp vụ 129 38.86 143 35.31 229 40.89 14 10.85 86 60.14
Qua bảng 1 ta thấy, nhìn chung số lao động của HTX tăng nhanh đáng kể qua 3