Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
CHỦ XE CƠ GIỚI
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM:
1.1.1 Sự cần thiết của Bảo hiểm trong đời sống kinh tế xã hội.
Sau đây nhận định của Henry Ford (nhân vật nổi tiếng thế giới) về vai trò và
sự cần thiết của Bảo hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội: “New York không phải là
nơi khai sinh ra lồi người, nhưng sản sinh ra những nhà bảo hiểm … Không có bảo
hiểm, sẽ không có những tòa nhà chọc trời bởi không có một công nhân nào chấp
nhận làm việc ở độ cao như vậy khi mà họ có thể rơi xuống chết người để lại một gia
đình trong sự khốn khổ. Không có bảo hiểm, sẽ không có một nhà tư bản nào dám
đầu tư hàng triệu đô la để xây dựng các tòa nhà lớn như vậy bởi vì một điếu thuốc có
thể thiêu hủy nó thành một đám tro tàn. Không có bảo hiểm, không ai dám lái xe qua
các phố. Một người lái xe giỏi cũng có ý thức rằng anh ta có thể đâm vào một người
đi bộ bất cứ lúc nào”.
Thật vậy trong cuộc sống, con người luôn bị những rủi ro rình rập là: Đau ốm,
tai nạn, động đất, khủng bố…… Mà không ai dám nói chắc là mình không bao giờ
gặp phải. Bên cạnh cuộc sống hiện đại người ta phải đối phó với những rủi ro rất lớn
về người và vật chất điển hình những vụ thiệt hại gây chấn động thế giới: Sự kiện
khủng bố 11/09 ở Mỹ, khủng bố tàu điện ngầm ở Tây Ban Nha, vụ độâng đất ở Iran,
vụ cháy ITC ở Việt Nam…vv…
Tổn thất một khi phát sinh nó thiệt hại rất lớn về người và của, nó còn làm gián
đoạn quá trình sản xuất, làm tê liệt nền kinh tế, nó gây hậu quả rất nghiêm trọng và
kéo dài một gian mới khôi phục hoặc có thể là ngưng vĩnh viễn.
Những rủi ro nói trên là nguồn gốc phát sinh trong hoạt động dự trữ bảo hiểm.
Những biện pháp thông thường để xử lý rủi ro nói trên:
- Biện pháp phòng tránh, hạn chế tổn thất gồm: Né tránh rủi ro, phòng
tránh rủi ro.
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
13000 tòa nhà ở Luân Đôn, bảo hiểm hỏa hoạn dần dần lan sang các nước châu Âu
khác.
- Công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời ở Anh vào năm 1762. Cuối
thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, bảo hiểm phát triển và đảm bảo cho nhiều rủi ro mới như:
Mô tô, máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Ngày nay bảo hiểm trở thành lĩnh vực hoạt động quan trọng trong nền kinh tế,
nó đóng góp rất lớn trong sự phát triển kinh tế và là động lực thúc đẩy cho các ngành
còn lại.
1.1.2.2 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm Việt Nam.
Giai đọan trước 1975
Ở miền Nam lúc bây giờ có hơn 52 Công ty bảo hiểm trong và nước hoạt động
tại Sài Gòn. Các công ty cũng thực hiện đa dạng các nghiệp vụ và cũng thành lập một
hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm nhằm thực hiện các chức năng thông tin, tư vấn, đào
tạo……
Ở miền Bắc: Ngày 17/12/1964 Công ty bảo hiểm Bảo Việt ra đời và hoạt động
15/01/1965 do nằm trong vùng chiến tranh hoạt động của Bảo Việt chưa phát triển
mạnh, những nghiệp vụ chủ yếu: Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân
tàu và tái bảo hiểm.
Giai đoạn sau 1975 đến trước ngày 18/12/1993
Sau giải phóng, việc quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam đã
dẫn đến thành lập công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam (BAVINA), trên cơ sở
quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm trước giải phóng, BIVINA một mặt thực hiện các
hợp đồng cũ với khách hàng do các công ty bảo hiểm trước đây thực hiện ký kết và
tiếp tục nhận các hợp đồng mới.
Ngày 01/03/1976 Bộ Tài Chính ra quyết định chuyển công ty BIVINA thành
chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Bảo
3
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Việt / TPHCM). Bảo Việt lúc này là công ty bảo hiểm duy nhất của nhà nước hoạt
liên tục của các quá trình xã hội.
Như vậy trên phạm vi rộng tồn bộ nền kinh tế xã hội, bảo hiểm đóng vai trò
như một công cụ an tồn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt động lâu dài của mọi
chủ thể dân cư và nền kinh tế. Với vai trò đó bảo hiểm thâm nhập sâu vào mọi lĩnh
vực của đời sống và phát huy tác dụng vốn có của mình: Thúc đẩy ý thức đề phòng –
hạn chế tổn thất cho mọi thành viên trong xã hội.
Xét về khía cạnh tài chính:
Bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc thu phí trước bồi thường sau nên vào một
thời điểm nhất định, các tổ chức hoạt động bảo hiểm sẽ nắm giữ một quỹ tiền tệ rất
lớn nhưng tạm thời nhàn rỗi và như vậy, các tổ chức hoạt động bảo hiểm hiển nhiên
trở thành những nhà đầu tư lớn, quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Như vậy, bảo hiểm không chỉ đóng vai trò như một công cụ an tồn mà còn có
vai trò của một trung gian tài chính nắm giữ một phần quan trọng trong nền kinh tế.
Với vai trò đó bảo hiểm phát huy tác dụng hết sức quan trọng, đặc biệt, trong nền kinh
tế thị trường, đó là tập trung, tích tụ vốn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được
thường xuyên và liên tục.
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm.
1.1.4.1 Nguyên tắc số đông.
Hoạt động bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng
tạo ra một “sự đóng góp của số đông vào rủi ro của số ít” trên cơ sở quy tụ nhiều
người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ
tổn thất. Số người tham gia càng đông, tổn thất càng phân tán mỏng, rủi ro càng giảm
thiểu ở mức độ thấp nhất, thể hiện ở mức phí phải đóng là nhỏ nhất đủ để mỗi chủ
tham gia không bị ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất của mình.
1.1.4.2 Nguyên tắc trung thực.
5
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Khi hợp đồng bảo hiểm dược ký kết, xem như rủi ro của người được bảo hiểm
chuyển sang cho nhà bảo hiểm khi người này đóng phí đầy đủ, nhà bảo hiểm cam kết
các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của tồn bộ nền kinh tế – xã hội. Các hoạt hoạt nguy
hiểm có thể dẫn đến tổn thất con người và tài chính trầm trọng gắn liền với trách
nhiệm dân sự nghề nghiệp thường là đối tượng của sự bắt buộc này. Thông thường,
đối với các loại bảo hiểm bắt buộc này gần như hầu hết các nội dung cơ bản của hợp
đồng chỉ là do nhà nước quy định: Người được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, rủi ro
được đảm bảo, phí bảo hiểm,…
Ví dụ: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới.
Tuy nhiên, sự bắt buộc chỉ là bắt buộc người có đối tượng mua bảo hiểm chứ
không bắt buộc mua bảo hiểm ở đâu. Tính chất tương thuận của hợp đồng bảo hiểm
được ký kết vẫn còn nguyên vì người được bảo hiểm vẫn tự do lựa chọn nhà bảo hiểm
cho mình. Hơn nữa, các quy định của nhà nước liên quan đến điều kiện bảo hiểm chỉ
ở mức tối thiểu, khách hàng bảo hiểm vẫn có thể thỏa thuận với nhà bảo hiểm để
được đảm bảo cao hơn, tốt hơn, phù hợp với nhu cầu đảm bảo cho rủi ro đang có và
khả năng của mình.
Ơû các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, số lượng các loại bảo
hiểm bắt buộc rất nhiều liên quan đến nhiều ngành nghề khác nhau và có xu hướng
không ngừng tăng lên khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển một cách có tổ chức.
Ơû Việt Nam hiện nay, ý nghĩa mục đích tốt đẹp đó được thể hiện qua loại hình bảo
hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và hành
khách trên xe.
1.2 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CHỦ XE CƠ
GIỚI.
1.2.1 Nhu cầu và sự phát triển của bảo hiểm xe cơ giới.
Sự tồn tại và phát triển của ngành bảo hiểm xe cơ giới không tách rời sự tồn tại
và phát triển tất yếu của ngành bảo hiểm nói chung trong hệ thống kinh tế xã hội, nhất
7
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
là trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế ở mức độ cao, ổn định. Tuy nhiên cũng cần thấy
các nhân tố trực tiếp, cụ thể khẳng định sự cần thiết của các loại hình này, đặc biệt đối
các chủ xe khó có thể tránh khỏi những sai sót làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức
khỏe, tài sản của người khác. Dĩ nhiên, lúc đó họ phải chịu trách nhiệm bồi thường
đối với những sai sót đó mà ngay cả khi họ không có lỗi.
Vậy có thể hiểu trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới là phần trách nhiệm mà theo
qui định của pháp luật một người hay nhiều người là chủ xe cơ giới phải bồi thường
hậu quả đã gây ra cho một hay nhiều người hoặc đối tượng họ đảm nhận chuyên chở.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, hậu quả của trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự
do việc sử dụng xe cơ giới gây ra là không thể bảo hiểm.
Trong thực tế, trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới có thể biểu hiện dưới hai
dạng là: TNDSCXCG trong hợp đồng và TNDSCXCG ngồi hợp đồng.
a) Trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới ngồi hợp đồng.
Như đã trình bày, TNDS là trách nhiệm bối thường thiệt hại. Trách nhiệm này
phải phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài
sản của người khác. Vậy trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới ngồi hợp đồng là trách
nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thứ ba trong các vụ tai nạn xe cơ giới gây ra.
Tuy nhiên, trong thực tế, tại nạn do xe cơ giới gây ra có thể có nhiều nguyên nhân cho
nên cần phải điều tra thật đầy đủ để xác minh rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi
hợp đồng. Do đó, khi xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng cần chú
ý một số trường hợp sau:
- Người lái xe gây ra tai nạn khi anh ta sử dụng vào việc riêng: Chủ xe
vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng được đòi hỏi trách nhiệm của
người lái xe.
9
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
- Tai nạn xảy ra khi xe đang giao cho người khác mượn: Người mượn
phải bồi thường. Nếu chủ xe cho mượn cả lái xe thì chủ xe chịu trách nhiệm bồi
thường.
- Tai nạn xảy ra khi xe lưu hành không có sự đồng ý của chủ xe: Người
sử dụng không được phép của chủ xe phải bồi thường.
sản riêng của công dân hay tính mạng, sức khoẻ của người khác. Giải quyết bồi
thường thiệt hại ngồi hợp đồng là áp dụng một biện pháp thuộc về chế độ bắt buộc
trách nhiệm dân sự.
1.2.3.1.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự.
Để giải quyết đúng đắn một vụ tai nạn giao thông, việc cần thiết đầu tiên phải
là việc xác nhận rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại có phát sinh hay không. Cũng
giống như việc xác nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng khác, trong
trường hợp này thông thường trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng phát sinh khi hội
tụ đủ bốn điều kiện sau đây:
a) Phải có thiệt hại:
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu khi xem xét đến việc nghĩa vụ bồi thường
có phát sinh hay không. Thông thường là thiệt hại về tài sản, tính mạng sức khoẻ con
người. Những thiệt hại trên phải là những thiệt hại thực tế, thực sự xảy ra và có thể
thanh tốn được.
Tuy nhiên, những thiệt hại về con người là không thể tính tốn thành tiền được,
ở những người khác nhau có thể khác nhau. Nhưng với mục đích an ủi, động viên đối
với những người bị thiệt hại và thân nhân của họ, tòa án có thể phán quyết bằng một
khoản tiền nhất định.
b) Phải có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật:
Trong phạm vi phần này, hành vi gây thiệt hại trái pháp luật được hiểu là hành
vi gây tai nạn do không chấp hành hoặc chấp hành không đúng những quy định trong
điều lệ về trật tự an tồn giao thông đường bộ. Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật này
11
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
có thể đơn thuần chỉ là một vi phạm pháp luật về dân sự nhưng cũng có thể nặng hơn
là một việc phạm pháp về hình sự. Trong trường hợp phạm pháp về hình sự, người
gây tai nạn không những phải bồi thường thiệt hại mà còn phải bị truy tố trước pháp
luật.
c) Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại:
- Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe xảy ra cho chủ xe, người điều khiển xe
hoặc bật kì người nào khác đi trên xe được bảo hiểm.
- Thiệt hai của tài sản, hàng hố đang được chuên chở trên xe được bảo
hiểm.
- Thiệt hại gây ra cho hai xe cùng chủ đâm va nhau.
- Trách nhiệm tài chính, trách nhiệm hình sự của lái xe.
Các khoản tiền phạt mà chủ xe và lái xe phải chịu.
1.2.3.1.4 Phạm vi bảo hiểm.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba có mục
đích bảo hiểm cho những rủi ro thuộc về trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ, những thiệt hại của bên thứ ba được xem
xét bồi thường là những thiệt hại vật chất về người và những thiệt hại về tài sản được
tính tốn theo những nguyên tắc nhất định.
Trách nhiệm bồi thường của nhà bảo hiểm được giới hạn trong phạm vi hạn
mức trách nhiệm đã thoả thuận trong hợp đồng hoặc đã ghi trong giấy chứng nhận
bảo hiểm. Trong bảo hiểm dân sự của chủ xe, phạm vi bảo hiểm có thể mở rộng thêm
với những rủi ro phụ. Tuỳ thuộc vào tình hình thực tế và theo yêu cầu của người được
bảo hiểm mà nhà bảo hiểm có thể mở rộng phạm vi bảo hiểm của mình cho những rủi
ro khác. Giống như bất kì nghiệp vụ bảo hiểm nào, những bảo đảm bổ sung trong
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba kéo theo một khoản phí
đóng thêm của người được bảo hiểm.
1.2.3.1.5 Loại trừ bảo hiểm.
13
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Nhà bảo hiểm còn có thể hoặc khước từ bồi thường hoặc áp dụng một số hình
phạt đối với chủ xe, lái xe trong những trường hợp tai nạn xảy ra do họ đã vi phạm
nghiêm trọng luật lệ giao thông:
- Xe không có giấy phép lưu hành.
- Lái xe không có bằng lái hoặc có nhưng không hợp lệ.
hại hay còn gọi là người thứ ba khác. Khái niệm người thứ ba được sử dụng trong bảo
hiểm trách nhiệm dân sự chỉ là những nạn nhân trong các vụ tai nạn giao thông có thể
là những người trực tiếp bị thương tật thân thể, cũng có thể là người có tài sản bị thiệt
hại do hậu quả của vụ tai nạn. Tùy thuộc vào từng vụ tai nạn cụ thể, người thứ ba có
thể một hay nhiều người, một thể nhân hay một pháp nhân dân sự hoặc thương mại.
Tuy nhiên, không phải bất kỳ người nào là nạn nhân trong các vụ tai nạn cũng thuộc
khái niệm người thứ ba.
1.2.3.1.7 Số tiền bảo hiểm.
Là giới hạn mức trách nhiệm tối đa của nhà bảo hiểm cho một vụ tổn thất hoặc
cho một năm tổn thất.
Ơû Việt Nam số tiền bảo hiểm được tính theo vụ, bao gồm:
- Thiệt hại về người đối với người thứ ba: (người thứ ba là những
người không phải là lái xe, người ngồi trên xe và sở hữu xe – trừ trường hợp chủ xe
giao cho người khác chiếm hữu và sử dụng chiếc xe đó): Tối đa 30trđ/người/vụ
(không giới hạn số người trong một vụ đâm va, không giới hạn số vụ đâm va trong
một năm)
- Thiệt hại về tài sản đối với thứ ba: Tối đa 30trđ/vụ (không giới hạn
số vụ đâm va trong một năm)
1.2.3.1.8 Phí bảo hiểm.
Là số tiền đóng góp bắt buộc mà chủ xe phải có nghĩa vụ nộp cho NBH.Theo
quy định, DNBH và chủ xe có trách nhiệm thực hiện theo biểu phí và mức trách
nhiệm bảo hiểm tối thiểu ban hành theo Quyết định 23. Ngồi ra Bộ Tài Chính cũng
15
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
cho phép DNBH và chủ xe thoả thuận ở mức phí và mức trách nhiệm cao hơn (Điều
4, Quyết định 23).
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội ở từng thời kì và căn cứ trên
lưu lượng xe mỗi năm cũng như số vụ tai nạn mà có sự điều chỉnh mức phí và mức
trách nhiệm bảo hiểm sao cho phù hợp. Xét về khía cạnh kỹ thuật, theo GS-TS Hồ
phí in ấn, trả lương,…… Và chi phí phụ khác và thuế.
Nếu F là mức phí bảo hiểm phải đóng trong một năm, f là phí thuần, t là tỉ lêä
phụ phí thì bảo hiểm có thể được xác định bằng công thức:
F =
t
f
−1
16
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Ngồi ra, khi xác định mức phí bảo hiểm, còn cần phải xem xét đến những yếu
tố sau:
- Khu vực (vùng) hoạt động của xe.
- Loại xe và tuổi xe.
- Nghề nghiệp của lái xe.
- Tuổi đời và tham niên của lái xe.
Tuỳ thuộc vào tình hình thực tế cũng như điều kiện và khả năng thực thi mà
NBH còn có những chế độ thưởng phạt. Chẳng hạn, để khuyến khích việc lái xe an
tồn, NBH có thể sẽ giảm chi phí bảo hiểm phải đóng cho những chủ xe có nhiều năm
không bị tai nạn. Ngược lại, NBH có thể áp dụng chế độ phạt đối với những chủ xe
bằng việc tăng phí trong các trường hợp sau:
+ Lái xe ẩu bị nhiều tai nạn.
+ Xảy ra tai nạn trong tình hình say rượu, bia, ma tuý.
+ Chạy trốn sau tai nạn.
+ Vi phạm quy định về khai báo rủi ro, tổn thất.
+ Những vi phạm và man trá khác.
Về việc hồn phí bảo hiểm, Điều 6 Quyết định 23 quy định : “ DNBH phải hồn
trả lại cho chủ xe 80% phí bảo hiểm của thời gian hủy bỏ, trừ trường hợp trong thời
gian hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực đã xảy ra sự kiện bảo hiểm liên quan đến
chiếc xe có yêu cầu huỷ bỏ bảo hiểm.”
việc sử dụng, khai thác tài sản đó.
Theo điều 10, quyết định 23 có quy định là mọi tổn thất về tài sản sẽ được
DNBH tiến hành giám định. Trường hợp chủ xe không thống nhất mức độ thiệt hại do
DNBH xác định, hai bên sẽ thoả thuận chọn giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp
thực hiện việc giám định. Kết luận của giám đinh viên được coi là kết quả cuối cùng.
18
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Trường hợp tài sản bị thiệt hại là những tài sản đặc biệt như vũ khí, trang thiết
bị của lực lượng vũ trang … thì việc xác định thiệt hại phải dựa vào ý kiến của các cơ
quan chức năng có thẩm quyền.
- Đối với thiệt hại về người :
Xác định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ con người là một công việc phức tạp
bởi tính mạng con người là vô giá, sức khoẻ con người cũng khó thẩm định giá trị.
Như vậy thiệt hại về tính mạng sức khoẻ con người chỉ có thể tính tốn đuợc nếu thống
nhất một quan điểm đó là dựa vào hao phí vật chất để tạo điều kiện cho nạn nhân và
gia đình họ có thể khắc phục được hậu quả tai nạn, ổn định đời sống. Theo quan điểm
như vậy, để xác định thiệt hại về người một cách tương đối và hợp lý, có thể chia làm
hai trường hợp sau đây:
1) Trường hợp nạn nhân bị thương, được tính bằng những khoản chi phí
sau:
+ Chi phí hợp lý cho việc cấp cứu, điều trị, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và
chức năng bị mất, bị giảm sút…
+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc nạn
nhân trong thời gian điều trị. Nếu người bị thiệt hại bị mất khả năng lao động và cần
có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc
chăm sóc nạn nhân và khoản tiền cấp dưỡng cho những người bị thiệt hại có nghĩa vụ
cấp dưỡng (nếu có).
+ Tuỳ từng trường hợp, thiệt hại về con người tính đến một khoản tiền bù
đắp tổn thất về tinh thần mà nạn nhân phải gánh chịu như sự đau đớn về thể xác, sự
BGTVT ngày 24/3/1999 của Bộ giao thông vận tải về quy chế hoạt động của chủ xe ô
tô vận tải hành khách theo phương thức hoạt động. Theo quyết định này có hai
phương thức đối với chủ xe kinh doanh vận tải hành khách: xe vận chuyển hành
khách có bán vé tại bến bãi và vận chuyển hành khách theo hợp đồng.
1.2.3.2.2 Người được bảo hiểm:
20
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
Là những hành khách trên xe cơ giới có đăng ký kinh doanh vận chuểyn hành
khách bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ trong quá trình vận chuyển.
1.2.3.2.3 Số tiền bảo hiểm – phí bảo hiểm :
Giống như BHTNDSCXCG đối với người thứ ba nhưng số tiền bảo hiểm chỉ tính đối
với người thiệt mạng, không tính cho tài sản, hành lý của hành khách.
1.2.3.2.4 Phạm vi bảo hiểm – loại trừ bảo hiểm:
Tương tự như BHTNDSCXCG đối với người thứ ba nhưng NBH chỉ chịu
trách nhiệm bồi thường trong phạm vi số chỗ ngồi như đã kí kết trong hợp đồng bảo
hiểm hay Giấy chứng nhận bảo hiểm.
1.2.3.2.5 Số tiền bồi thường.
Được tính như BHTNDSCXCG đối với người thứ ba nhưng chỉ tính đối với
những thiệt hại về người.
1.2.3.3 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với hàng hố vận
chuyển trên xe:
Đây là loại bảo hiểm được thực hiện theo phương thức tự nguyện. Tuy nhiên,
nhà nước khuyến khích các chủ xe tham gia để đảm bảo các an tồn cho các chủ xe và
hàng hố.
1.2.3.3.1 Đối tượng bảo hiểm:
Là trách nhiệm dân sự chủ xe đối với những thiệt hại của hàng hố chuyên chở
trên xe.
1.2.3.3.2 Người được bảo hiểm:
Chủ xe cơ giới có giấy phép đăng ký kinh doanh vận chuyển hàng hố hoặc
- Bắt giữ của cơ quan chức năng
- Hàng hố hư hỏng tự nhiên do không đủ phẩm chất, do bao bì đóng gói,
sắp xếp không đúng yếu cầu kỹ thuật.
22
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
1.2.3.3.5 Số tiền bồi thường (STBT):
Thiệt hại thực tế của Mức độ lỗi
STBT = Hàng hố vận chuyển X của chủ xe <= STBH
Nếu bồi thường 100% thì sau khi bồi thường NBH có quyền lưu hành thu hồi
giá trị của hàng hố. Ngồi ra NBH còn chi đòi đối với người thứ ba có lỗi và khi tính
thiệt hại thực tế được áp dụng mức miễn thường.
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong cuộc sống chúng ta luôn phải đối mặt với những rủi ro đang rình rập ở
mọi lúc mọi nơi, khi xã hội càng văn minh, hiện đại thì tổn thất phải gánh chịu từ
những rủi ro tiềm ẩn càng thường xuyên và thảm khốc hơn. Dù muốn hay không mỗi
chúng ta luôn phải đuơng đầu với những rủi ro mà không thể biết trước được mức độ
thiệt hại mà nó gây ra, chính vì lẽ đó, bảo hiểm ra đời và khẳng định được vai trò
quan trọng của nó trên tồn xã hội.
Vì mục đích tốt đẹp của bảo hiểm mà nhà nước đưa vào loại hình bảo hiểm
trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới. Nó rất cần thiết đối với đời sống xã hội. Nó thay
mặt chủ nhân thực hiện trách nhiệm dân sự đối với người bị thiệt hại mà không phải
bất kỳ chủ nhân nào cũng đủ khả năng thực hiện trách nhiệm dân sự đó, góp phần
khắc phục những hậu quả tài chính sau những vụ tai nạn do xe cơ giới gây ra.
23
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
24
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Tiến Hùng
25
SVTH: Hoàng Trọng Minh Hải Trang: 25