BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MINH HIỀN
RÈN LUYỆN KỈ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN
VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG CHO
HỌC SINH LỚP 12 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2011
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự tận tình chi bao, hướng dẫn của GS.TS Lê A. chúng
tôi cỏn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể và cá nhân:
- Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, khoa Ngữ văn và tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn
trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Ban giám hiệu và tổ Văn trường THPT Quang Trung Hà Đông (Hà Nội), đặc biệt là
đồng chí hiệu trưởng Cao Bạch Vân và đồng chí tổ trưởng tổ Văn Phùng Thị Thanh, đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi để tôi có thể vừa học vừa dạy theo qui định của Sở giáo dục Hà Nội.
- Bạn bè và gia đình tôi, đặc biệt là người bố kính yêu và người chồng thân yêu của tôi,
những người luôn khích lệ, động viên tôi.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Hiền
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỤC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ
NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG. 18
1.1. Cơ sở lí thuyết.................................................................................................................. 18
1.1.1. Quan niệm về kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống ................................. 18
1.1.2. Quan niệm về ý trong văn nghị luận xã hội nói chung và văn nghị luận về một hiện
tượng đời sống nói riêng ..................................................................................................... 19
1.1.3. Lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống ........................................ 20
1.1.3.1. Cơ sở tâm lí học của việc hình thành kĩ nâng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một
hiện tượng đời sống ........................................................................................................ 20
1.1.3.2. Kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống ....................... 21
1.1.3.3. Mô hình ý trong kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống ...................... 23
1.1.3.4. Quan hệ giữa kĩ năng lập ý và các kĩ năng khác trong quá trình nắm vẫn nghị
luận về một hiện tượng đời sống .................................................................................... 25
1.2.Cơ sở thực tiễn ................................................................................................................. 26
1.2.1. Thực trạng dạy và học lập ý cho học sinh THPT ở kiểu bài nghị luận về một hiện
tượng đời sống .................................................................................................................... 26
1.2.1.1. Đối tượng điều tra ............................................................................................. 26
1.2.1.2. Nội dung điều tra .............................................................................................. 27
1.2.1.3. Cách thức đi điều tra......................................................................................... 27
1.2.1.4. Đánh giá kết qủa ............................................................................................... 27
1.2.2. Thực trạng về các tài liệu dạy học dưới góc độ rèn luyện kĩ năng lập ý .................. 36
1.2.2.1. Sách giáo khoa .................................................................................................. 37
1.2.2.2. Sách giáo viên ................................................................................................... 37
1.2.2.3. Sách bài tập ....................................................................................................... 38
Tiểu kết chương 1................................................................................................................... 39
5
2.2.7.1. Vận dụng hệ thống bài tập trong tiết lí thuyết .................................................. 61
2.2.7.2. Vận dụng hệ thống bài lập trong tiết viết bài.................................................... 62
2.2.7.3. Vận dụng hệ thống bài tập trong tiết tra bài ..................................................... 62
Tiếu kết chương 2................................................................................................................... 63
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ..................................................................... 64
3.1. Mục đích thực nghiệm .................................................................................................... 64
3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm................................................................................. 65
3.3. Phương pháp thực nghiệm ............................................................................................. 65
3.4. Nội dung thực nghiệm .................................................................................................... 66
3.5. Cách đánh giá kết quả thực nghiệm. ............................................................................. 66
3.5.1. Cách thức đánh giá thứ nhất: .................................................................................... 67
3.5.2. Cách thức đánh giá thứ hai: ...................................................................................... 67
3.6. Giáo án thực nghiệm ...................................................................................................... 67
3.7. K kinh nghiệmà: Sệm ..................................................................................................... 79
3.7.1. Phép đo 1 .................................................................................................................. 79
3.7.2. Phép đo 2 .................................................................................................................. 80
3.7.3. Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm .................................................................. 84
3.7.3.1. Tổng hợp và so sánh tỷ lệ học sinh đạt và không đạt yêu cầu qua 2 phép đo .. 84
3.7.3.2. Tổng hợp và so sánh tỷ lệ các lỗi cơ bản học sinh thường mắc phải qua 2 phép
đo .................................................................................................................................... 84
3.7.3.3. Tổng hợp kết qủa về mức độ ảnh hưởng của việc lập dàn ý đối với kết qủa của
bài làm Thống kê 1 ......................................................................................................... 85
7
Tiểu kết chương 3................................................................................................................... 85
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 87
kiến trúc đã xây nó trong đầu mình rồi. Khi quá trình lao động kết thúc, nhận được kết qủa thì
kết qủa này đã có được dạng tinh thần trong biểu tượng con người từ khi quá trình ấy mới bắt
đầu”.
9
Lập ý quyết định hình thức diễn đạt. Y nào lời ấy, lời phải phù hợp với ý. Vì thế, việc lập
ý vô cùng quan trọng. Một vấn đề thiết yếu và khó khăn đối với cả thầy và trò trên cả hai
phương diện nội dung và phương pháp, đó là kĩ năng lập ý.
1.3. Hiện nay, cả giáo viên và học sinh đều lúng túng trong khâu lập ý văn nghị luận nói
chung và kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng. Phần lớn bài làm của học
sinh thường không có ý, thiếu ý, trùng ý, lạc ý, ý lộn xộn... Có nhiều lí do dẫn đến tình trạng đó
nhưng chác chăn có nguyên nhân do chúng ta chưa xây dựng được một hệ thống các biện pháp
rèn luyện kĩ năng này trong dạy và học lập ý. Hơn nữa, nghị luận về một hiện tượng đời sống
mới được đưa vào nhà trường nên chưa trở nên quen thuộc, chưa có nhiều tài liệu tham khảo.
Đây cũng là một kiểu bài khó. So với việc lập ý ở nghị luận văn học (học sinh đã được học),
lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống có cái khó riêng. Hiện tượng đời sống
vốn muôn hình muôn vẻ, vô cùng phức tạp và học sinh phải tự tìm hiểu lấy.
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận
về một hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 THPT" nhằm góp phần nâng cao kĩ năng làm
văn nghị luận cho học sinh, đáp ứng những yêu cầu mới của giáo dục hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Về kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Thực ra, kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống đã có từ lâu. Thời phong kiến, các
đề thi đã mượn những hiện tượng đời sống để bàn bạc. Sách xưa chép chuyện khoa thi hội năm
Canh Thân, niên hiệu Chính Hòa thứ I (1680) đầu văn sách có câu hỏi về nhân vật lịch sư Hồ
Quý Ly (1330-?), người làng Đại Lại, huyện Tống Sơn, nay là Hà Đông, huyện Hà Trung, tỉnh
Thanh Hóa cùng với việc đoạt ngôi vua, lập nên triều đình mới của ông.
bộ sách giáo khoa Làm văn cho học sinh, sách giáo viên, sách bồi dưỡng giáo viên dạy môn
Làm văn do trường ĐHSP Hà Nội biên soạn; tài liệu bồi dường dạy SGK cải cách giáo dục
môn Làm văn do Vụ giáo viên biên soạn; sách Làm văn 12 của Trần Thanh Đạm... nhưng tất cả
cũng chỉ chú trọng đến nghị luận văn học.
Kĩ năng lập ý nói riêng và kĩ năng làm văn nói chung chủ yếu được đề cập đến ở các tài
liệu dạy học trong nhà trường (từ phổ thông đến đại học). Ngoài ra một số ít chuyên ngành
cũng đề cập đến kĩ năng làm văn nói chung.
11
Ở dạng văn nghị luận xã hội cũng có một số cuốn sách đề cập tới kĩ năng lập ý, tiêu biểu
là cuốn Làm văn của nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống - Nguyễn Thành Thi - Phạm Minh Diệu có
đưa ra 2 bước để lập ý như sau: Dựa vào yêu cầu và chỉ dẫn của đề để tìm ra vấn đề trọng tâm
và các ý lớn mà bài viết cần làm sáng tỏ; tìm ý nhỏ bằng cách đặt ra các câu hỏi, vận dụng
những hiểu biết về văn học và cuộc sống, xã hội để trả lời các câu hỏi đó.
Trong cuốn Làm văn (Giáo trình đào tạo giáo viên THCS). tác giả Lê A cũng đề cập đến
kĩ năng lập ý ở bài văn nghị luận. Cuốn sách Làm văn 11 do tác giả Trần Thanh Đạm chủ biên
cũng nói tới thao tác lập ý trong văn nghị luận, tuy nhiên còn rất chung chung.
Trước đây, do quan điểm xem trọng nghị luận văn học mà nghị luận xã hội có vẻ chưa
được chú ý lắm. Giờ đây, với sự phát triển của đời sống xã hội, nghị luận xã hội ngày càng có
vai trò thiết thực trong cuộc sống.
Nghị luận về một hiện tượng đời sống thuộc thể loại nghị luận xã hội. Nó cũng ra đời, tồn
tại và phát triển cùng với sự ra đời của nghị luận xã hội. Tuy nhiên, trước đây trong nhà trường
phổ thông, nghị luận về một hiện tượng đời sống chưa được đưa vào giảng dạy và chưa được
nhiều người chú ý quan tâm.
Những năm gần đây, nghị luận về một hiện tượng đời sống chính thức được đưa vào
giảng dạy ở chương trình phổ thông, cụ thể là ở kì II lớp 9 THCS và kì I lớp 12 THPT; trong
cấu trúc đề thi môn Ngữ văn (thi học kì, thi tốt nghiệp THPT, thi đại học) có một câu 3 điểm
dành cho một bài nghị luận xã hội ngắn.
sống cần xuất phát từ căn cứ khoa học, tránh mò mẫm. Nhưng cũng không nên vì thế mà đưa ra
những lí thuyết quá cao siêu, phức tạp không thể áp dụng cho việc dạy và học gây chán nản cho
thầy và trò.
Thế nên, luận văn chỉ chú ý xem xét và đề xuất nhưng biện pháp nhằm rèn luyện nhưng
bước tập dượt ban đầu rất cơ bản và quan trọng để sau nay các em học sinh có thể viết được
những bài văn có chất lượng cao hơn Lớp 12 là giai đoạn học cuối của trung học phổ thông,
các em đang chuẩn bị hành trang để bước vào đời, vì thế luận văn cũng chú ý đến đặc điểm này
để đưa ra được những định hướng và những sự chuẩn bị cần thiết.
14
Muốn viết được bài nghị luận về một hiện tượng đời sống có chất lượng học sinh cần phải
rèn luyện nhiều kĩ năng. Luận văn này tập trung vào kĩ năng lập ý. Đó là việc tìm ra được các
ý, định ra được nội dung cơ bản của bài viết, tổ chức sắp xếp các nội dung cơ bản của bài viết,
tổ chức sắp xếp các nội dung ấy một cách hợp lí để làm sáng tỏ mục đích cần nghị luận.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong khi tiến hành làm luận văn, để thực hiện tốt những nhiệm vụ mà luận văn đã đề ra
ở trên, chúng tôi sử dụng một số các phương pháp sau:
5.1.Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Chúng tôi tiến hành tập hợp các tài liệu có liên quan đến văn nghị luận xã hội. Đặc biệt,
chúng tôi tập trung vào nghiên cứu các tài liệu chuyên sâu về kĩ năng lập ý nghị luận xã hội.
5.2.Phương pháp điều tra, khảo sát
Điều tra khảo sát là phương pháp không thể thiếu khi nghiên cứu đề tài này. Chúng tôi
dùng phương pháp điều tra, khảo sát để tìm hiểu việc dạy học lập ý kiểu bài nghị luận về một
hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 THPT hiện nay. Đặc biệt, với phương pháp này,
chúng tôi đã điều tra được nhận thức của giáo viên và học sinh về kĩ năng lập ý ở kiểu bài văn
nghị luận về một hiện tượng đời sống, để từ đó, chúng tôi có thể đưa ra những giải pháp phù
hợp.
- Căn cứ để lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
- Qui trình lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
- Cách lập ý cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
2.2. Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện
tượng đời sống
Phần này nhằm nêu cách thức rèn kĩ năng lập ý cho học sinh qua hệ thống bài tập với
những nội dung sau:
- Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập
- Miêu tả hệ thống bài tập
- Phương hướng sử dụng hệ thống bài tập trong tiết lí thuyết, tiết viết bài và tiết trả bài
16
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương này nhằm kiểm tra, đánh giá khả năng thực thi, hiệu qủa của những đề xuất trong
luận văn, với các bước cụ thể:
- Thiết kế giáo án cho các bài: Nghị luận về một hiện tượng đời sống; Bài viết số 2; Tra
bài kiểm tra số 2.
- Đưa ra một số đề nghị luận về một hiện tượng đời sống và hướng dẫn cách lập ý cho
mỗi đề.
- Tổ chức thực nghiệm ở các lớp thuộc lớp theo chương trình chuẩn. Đánh giá kết quả
thực nghiệm
17
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỤC TIỄN CỦA VIỆC RÈN
LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN
TƯỢNG ĐỜI SỐNG
hiện tượng đang diễn ra trong thực tế đời sống xã hội mang tính chất thời sự, thu hút sự quan
tâm của nhiều người. Đó có thể là một hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê. Sách
giáo viên Ngữ văn 12 nhận định: Ngoài nhưng nét tương đồng với kiểu bài nghị luận về một tư
tưởng, đạo lí, kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống có những nét khác biệt cần lưu ý.
Kiểu bài này lấy một hiện tượng xảy ra trong đời sống để bàn bạc. Từ hiện tượng này, ngoài
nghị luận phải phân tích, tìm ra ý nghĩa xã hội về tư tưởng đạo đức mà bàn bạc, đánh giá. Đề
tài để bàn bạc gần gũi với đời sống, sát hợp với trình độ nhận thức của học sinh như: tai nạn
giao thông, hiện tượng môi trường bị ô nhiễm, những tiêu cực trong thi cử, nạn bạo hành trong
gia đình, phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn,
nhưng tấm gương người tốt việc tốt...", "nghị luận về một hiện tượng đời sống không chỉ có ý
nghĩa xã hội mà còn có tác dụng giáo dục tư tương đạo lí, cách sống đúng đắn, tích cực đối với
thanh niên, học sinh".
1.1.2. Quan niệm về ý trong văn nghị luận xã hội nói chung và văn nghị luận về một hiện
tượng đời sống nói riêng
Ý là nhưng đơn vị tạo nên nội dung cơ bản của một bài viết là hạt nhân cơ bản của bài
văn nghị luận. Đó là hệ thống ý kiến, quan điểm khác nhau được huy động để cùng làm sáng to
ý kiến, quan niệm chung nhất trong bài văn nghị luận.
Ý kiến trong bài văn nghị luận thường là những phán đoán, nhận xét khái quát của người
viết về nội dung nhằm đáp ứng yêu cầu của vấn đề cần nghị luận. Ý kiến thể hiện cách nhìn,
cách đánh giá và cách nghĩ riêng của mỗi người trước một vấn đề được nêu ra.
Ý trong bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống nhằm phân tích, đánh giá để hiểu
được bản chất của hiện tượng đời sống được nêu ra, để thấy rõ mặt tích cực, tiêu cực của vấn
đề và từ đó rút ra bài học về các hiện tượng đời sống ấy. Từ những bài học đó rút ra ý nghĩa,
19
phương hướng hành động cụ thế đối với hiện tượng đời sống đó. Tất cả các ý đều phải được
đưa vào một sự sắp xếp, vào một bố cục cụ thể.
Ví dụ: Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ,
động, không có sự nỗ lực tích cực chủ động của chủ thể mà hoàn toàn phụ thuộc điều kiện bên
ngoài. Còn thực nghiệm của Skiner đã tăng cường được tính chủ động tích cực của chủ thể
không phụ thuộc bên ngoài. Trong quá trình tìm kiếm chủ thể có thể có kết qủa sai nhưng bằng
kinh nghiệm, tự lực tìm kiếm cuối cùng chủ thể tìm đến kết quả đúng. Ta có thể khẳng định
rằng tất cả các hiện tượng tâm lí đều có cơ sở sinh lí là phản xạ có điều kiện. Chính vì vậy hoạt
động học cũng là phản xạ có điều kiện. Dạy học chính là dạy phản xạ có điều kiện. Trong hoạt
động dạy học thì chủ thể học sinh phải tích cực, chủ động hoạt động tìm kiếm kiến thức. Phải
làm đi làm lại nhiều lần một hoạt động nào đó thì mới tạo thành đường hằn trong võ não và từ
đó mới hình thành được kĩ năng mình mong muốn một cách thành thục.
Cũng như vậy, muốn hình thành kĩ năng làm văn nghị luận về một hiện tượng đời sống thì
cá nhân phải chủ động tích cực rèn luyện. Ngoài việc tiếp thu áp dụng những kiến thức về lí
thuyết đã được giáo viên truyền đạt thì điều quan trọng hơn là học sinh phải được làm được
thực hành nhiều. Quá trình thực hành ấy phải được tiến hành ở nhiều hình thức khác nhau như:
Đọc những bài văn mẫu của những tác giả có uy tín; tham khảo nhiều dạng đề khác nhau; làm
nhiều loại bài tập khác nhau. Những hoạt động đó được làm đi làm lại nhiều lần dần dần thành
thục và tạo thành kĩ năng. Tuy nhiên, những hoạt động đó phải được chủ thể chủ động làm, làm
một cách say mê, không gò bó ép buộc cũng không phải đi chép lại của người khác thì mới tạo
thành kĩ năng được.
Như vậy, cơ sở của việc hình thàn kĩ năng nói chung và kĩ năng lập ý nói riêng ở kiểu bài
nghị luận về một hiện tượng đời sống chính là bằng cách tiến hành các hoạt động tích cực chủ
động có định hướng lập đi lập lại nhiều lân thông qua hệ thống bài tập thực hành như một
phương tiện chủ yếu.
1.1.3.2. Kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Nêu ý là những nội dung chính cần trình bày trong bài văn thì lập ý là một quá trình suy
nghĩ nhằm định ra nhưng nội dung cơ bản của bài viết trước khi diễn đạt thành văn. Như vậy ý
là kết qủa những dự định sẽ trình bày ra bằng lời được hình thành trong quá trình tư duy có
hướng. Lập ý là định ra nhưng ý kiến chính sẽ được thể hiện ra bằng lời trong văn bản. Đối với
21
hoàn chỉnh, không bị thừa hay thiếu ý hoặc mức độ các ý phải được trình bày sao cho hợp lí thì
lập ý là vô cùng quan trọng, là không thể thiếu được.
1.1.3.3. Mô hình ý trong kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Mô hình ý là kết qủa của quá trình lập ý được đưa vào bố cục ba phần của văn bản. Có thể
hình dung mô hình ý trong bài văn nghị luận nói chung qua phác thảo của nhà nghiên cứu Đỗ
Ngọc Thống sau đây:
Nêu luận đề khái quát.
Mở bài:
Thân bài:
Luận điểm I
Luận cứ 1
Làm sáng tỏ cho luận điểm I
Luận cứ 2
Luận cứ 3
Làm sáng tỏ
cho luận đề ở
mở bài
Luận điểm II
Làm sáng to cho luận điểm II
Luận cứ 1
Luận cứ 2
Luận điểm III
Luận cứ 1
+ Luận cứ 2
+........
Kết bài: Từ hiện tượng đời sống rút ra bài học tư tưởng đạo lí
24
1.1.3.4. Quan hệ giữa kĩ năng lập ý và các kĩ năng khác trong quá trình nắm vẫn nghị
luận về một hiện tượng đời sống
Quá trình làm một bài văn nghị luận nói chung và nghị luận về một hiện tượng đời sống
nói riêng có 5 kĩ năng cơ bản sau:
- Kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết
- Kĩ năng lập ý
- Kĩ năng lập dàn bài
- Kĩ năng diễn đạt, trình bày
- Kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết
Mỗi kĩ năng có một vai trò và vị trí riêng nhưng chúng có liên quan chặt chẽ với nhau.
Xét trong sự sắp xếp trình tự các kĩ năng đó, ta nhận thấy kĩ năng lập ý đứng ở vị trí thứ 2 sau
kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết và đứng trước kĩ năng lập dàn ý, kĩ năng diễn đạt,
trình bày và kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết.
Có thể thấy rằng mỗi kĩ năng có một vai trò riêng và nếu thiếu 1 trong 5 kĩ năng trên thì
bài văn sẽ thiếu chính xác, thiếu sự đầy đủ. Chúng ta cũng không thể nói kĩ năng nào là quan
trọng nhất bởi mỗi kĩ năng có một chức năng riêng tạo thành một mắt xích trong quá trình viết
một bài văn nghị luận.
1.1.3 4.1. Quan hệ với kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết
Để lập được ý trong bài văn nghị luận nói chung và trong bài văn nghị luận về một hiện
tượng đời sống nói riêng thì chúng ta phải dựa vào kết qủa của kĩ năng tìm hiểu đề, xác định
yêu cầu bài viết.
1.1.3.4.2. Quan hệ với kĩ năng lập dàn ý
Dàn ý chính là sự sắp xếp các ý vào bố cục ba phần theo một trình tự lôgic để tạo sự mạch