Rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận về các hiện tượng xã hội cho học sinh trung học phổ thông luận văn ths giáo d - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HOA

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
VỀ CÁC HIỆN TƢỢNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN KHÁNH THÀNH

HÀ NỘI – 2013


LỜI CẢM ƠN

Luận văn của tôi được hoàn thành tại Trường Đại học Giáo Dục - Đại
học Quốc gia Hà Nội.
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong
Ban giám hiệu, các cán bộ, giáo viên Trường Đại học Giáo Dục - Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm ơn chân thành tới
thầy giáo PGS.TS. Trần Khánh Thành đã định hướng giúp tôi suốt quá
trình thực hiện luận văn, ban giám hiệu Trường THPT Hàn Thuyên nơi tôi
đang công tác, các thầy cô các trường THPT Hàn Thuyên, Trường THPT Quế

Kết bài

NLXH

Nghị luận xã hội

MB

Mở bài

THPT

Trung học phổ thông

TN

Thực nghiệm

THCS

Trung học cơ sở

SGK

Sách giáo khoa

VN

Việt Nam


Tiể u kế t chương 1 ........................................................................................... 35

iii


CHƢƠNG 2: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VỀ HIỆN
TƢỢNG XÃ HỘI THEO HƢỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHỦ
ĐỘNG CỦA HỌC SINH ................................................................................ 36
2.1. Rèn luyện kỹ năng sống cơ bản cho học sinh......................................................36
2.1.1. Rèn luyện thói quen tư duy. ...................................................................... 38
2.1.2. Rèn kỹ năng phản biện, tranh luận cho học sinh. ....................................... 39
2.1.3. Rèn kỹ năng lập dàn ý cho bài văn nghị luận xã hội. .................................. 41
2.2. Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh khi
dạy nghị luận về hiện tượng đời sống. .......................................................................58
2.2.1. Vận dụng phương pháp xây dựng tình huống trong dạy và học nghị luận xã
hội về hiện tượng đời sống trong chương trình Trung học phổ thông. .................. 60
2.2.2. Dạy nghị luận xã hội bằng phương pháp thuyết trình thông qua điều tra xã hội.
......................................................................................................................... 64
2.2.3. Phương pháp làm việc nhóm trong dạy nghị luận xã hội giúp học sinh tăng
khả năng nhận thức và biết cách tranh luận ......................................................... 67
2.2.4. Dạy và học theo quan điểm truyền thông tin. ............................................. 71
Tiể u kế t chương 2 ............................................................................................ 73
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM .........................................................74
3.1. Phạm vi thực nghiệm sư phạm. ............................................................................74
3.2. Mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc thực nghiệm. ...................................................74
3.3. Phương pháp thực nghiệm. ...................................................................................76
3.4. Mô tả thực nghiệm. ...............................................................................................77
3.5. Nội dung thực nghiệm...........................................................................................78
3.6. Tổ chức thực nghiệm.............................................................................................78
3.5.1. Tổ chức Thực nghiệm vòng 1. .................................................................. 78

So sánh kết quả điểm kiểm tra giữa các lớp đối chứng

69

và thực nghiệm của các trường sau thực nghiệm lần 1 80
Biểu đồ 3.2.

So sánh kết quả điểm kiểm tra bài 2 sau thực nghiệm
lần 1

Biểu đồ 3.3

80

Biểu đồ so sánh điểm kiểm tra trường THPT chuyên
Bắc Ninh

Biểu đồ 3.4

Biểu đồ: 3.5

89

Biểu đồ so sánh mức độ nhận thức của HS trường
THPT chuyên Bắc Ninh

90

Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra giữa lớp TN và ĐC


quá trình dạy học như: mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương tiện dạy
học, môi trường dạy học, kiểm tra đánh giá. Tuy nhiên, sự đổi mới nội dung
và phương pháp dạy học chỉ thực sự có ý nghĩa và mang tính khả thi khi được
tiến hành đồng bộ với việc đổi mới các hình thức dạy học. Nói cách khác,
phải tạo ra được các hình thức tổ chức dạy học phong phú có đủ khả năng để
thể hiện và chuyển tải nội dung và phương pháp.
Một trong những môn học từ trước cho tới nay vẫn được Bộ giáo dục
và các giáo viên phổ thông quan tâm đó là môn Ngữ văn. Trong xu thế hội
nhập, xã hội ngày càng hiện đại, chất lượng cuộc sống đang từng bước được
cải thiện và nâng cao. Môn Ngữ văn đang ngày càng chứng tỏ vai trò và chức
năng nhận thức của mình trong đời sống. Học Văn là học cách làm người, trở
thành những con người chân chính, sống có ích cho xã hội.Văn học chính là
nơi để con người thăng hoa cảm xúc, bày tỏ suy nghĩ, bộc lộ quan điểm, thái
độ sống, cách nhìn cuộc sống và xác định mục tiêu sống. Trong thực tế không
ít người cho rằng, môn Văn là môn học không thực sự quan trọng, bởi nó xa
rời thực tế, nó không giúp ích nhiều cho con người trong việc lựa chon công
việc, đem lại lợi ích thiết thực về mặt kinh tế. Dó đó, phần lớn học sinh, thậm
chí cả các bậc cha mẹ học sinh cũng không muốn con mình học và ham thích
văn chương. Sở dĩ môn văn khiến cho học sinh không hứng thú như vậy có lẽ
phần lớn nằm ở phía giáo viên chưa tìm ra những phương pháp dạy học tích
cực giúp học sinh nhận rõ vai trò của môn Văn.
Văn học không chỉ giúp con người có tầm hiểu nhất định về mặt lịch sử
hào hung của dân tộc, hơn thế trong những năm gần đây, văn học đã làm tròn
vai trò của bộ môn Đạo Đức ở cấp 1 và đang lấn sân sang bộ môn Giáo dục
công dân. Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển toàn diện cho
học sinh về kiến thức cũng như kỹ năng sống, đề thi học kỳ, thi kiểm tra cuối

1



2


Nghị luận xã hội có vai trò to lớn trong giáo dục, góp phần hình thành
nhân cách và lối sống của con người trong xã hội mà các giá trị to lớn về mặt
đạo đức đang dần bị băng hoại. Tuy nhiên để giúp người học có thể làm một
bài nghị luận về hiện tượng xã hội đạt hiệu quả cao, thì người dạy phải đưa ra
được những phương pháp phù hợp, gợi được khả năng liên tưởng, chiều sâu
tư duy, từ đó khích lệ người học bày tỏ suy nghĩ của mình. Nhận thấy sự cần
thiết phải đổi mới phương pháp dạy phù hợp, phát huy tính tích cực chủ động
của học sinh trong làm văn nghị luận xã hội, tôi đã đi nghiên cứu đề tài: Rèn
luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận về các hiện tượng xã hội cho học sinh
trung học phổ thông, với mong muốn giúp các thầy cô giáo dạy bộ môn Văn
sẽ đem đến cho học sinh những bài giảng thú vị và bổ ích, từng bước rèn
luyện học sinh làm văn nghị luận xã hội. Đồng thời giúp cho người học nắm
bắt được những kỹ năng cơ bản để áp dụng vào việc làm bài văn nghị luận đạt
hiệu quả cao, nâng cao chất lượng dạy và học. Nó góp phần trang bị đầy đủ tri
thức để thế hệ trẻ bước vào tương lai, xây dựng đất nước ngày càng giàu
mạnh, văn minh sánh ngang tầm các nước trên thế giới.
2. Lịch sử vấn đề
Văn nghị luận là một trong những thể loại văn hội tụ đầy dủ các yếu tố
như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, mở rộng vấn đề…Do đó văn
nghị luận đã được đưa vào giảng dạy từ rất lâu trong nhà trường. Tuy nhiên,
chúng ta chỉ chủ yếu áp dụng văn nghị luận cho các tác phẩm văn chương.
Trong khoảng mười năm trở lại đây, cùng với việc thay đổi chương trình sách
giáo khoa, Bộ giáo dục đã đưa vào chương trình giảng dạy một phương diện
phản án mới của văn nghị luận. Đó là nghị luận xã hội, mà đặc biệt là nghị
luận về một hiện tượng trong đời sống xã hội. Đây là một thể loại văn cho
thấy rõ nhất khả năng nhận thức của con người về đời sống, về xã hội, nhưng
ngay cả những thầy cô giáo như chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn trong

bài viết này đã chỉ rõ cho người dạy và người học biết cách nắm bắt thông tin,
phân tích được dạng đề, và đặc biệt là cách hành văn sao cho phù hợp với
từng dạng đề cụ thể.
Gần đây trong đề cương bài giảng: Dạy học sinh giỏi làm bài nghị
luận xã hội cho sinh viên ngành sư phạm của PGS.TS Trần Khánh Thành

4


(Đại học Quốc gia Hà Nội), Thầy cũng đã đưa ra những cách thức,
phương pháp cơ bản giúp các em học sinh, có thể nắm được những bước
cơ bản trong quá trình phân biệt và xác định khái niệm nghị luận xã hội,
đặc biệt thầy còn hướng dẫn học sinh cách phân tích kiểu bài nghị luận xã
hội, cách triển khai luận điểm, phạm vi dẫn chứng. Nhờ đó mà giáo viên
chúng tôi cũng như các em học sinh đã phần nào hiểu và có ý thức hơn
trong việc quan sát cuộc sống, từ đó tri nhận được những vấn đề đang
diễn ra quanh mình và thể hiện sự hiểu biết đó vào bài văn nghị luận xã
hội để đem lại hiệu quả cao.
Trong cuốn sách “125 bài văn nghị luận xã hội 10,11,12” do PGS.TS
Trần Khánh Thành chủ biên, đã cung cấp cho giáo viên và học sinh những
kiến thức bổ ích về xã hội. Cuốn sách không cụ thể chỉ ra phương pháp làm
văn nghị luận xã hội, song qua cuốn sách, người học sẽ nắm được những
bước cơ bản trong cách hành văn, cách lập dàn ý bài văn, cấu trúc một bài
nghị luận, và phạm vi dẫn chứng mà mỗi bài nghị luận xã hội hướng tới.
Cuốn sách đã trở thành cẩm nang giúp cho các nhà hoạt động sư phạm rèn
luyện học sinh khi bàn luận về những vấn đề của xã hội đang diễn ra xung
quanh cuộc sống.
Nhận thấy được nhu cầu thiết yếu của giáo viên và học sinh trong quá
trình dạy và học nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống, trên các phương tiện
thông tin đại chúng, dặc biệt là trên các trang mạng Internet cũng đã cung cấp

có tính thuyết phục của học sinh , giúp người học tích lũy được vốn tri thức
nho nhỏ để trau dồ i ý tứ và kỹ năng làm văn nghi ̣luâ ̣n xã hô ̣i.
Nhâ ̣n thức rõ đươ ̣c vai trò của văn nghi ̣luâ ̣n về hiê ̣n tươ ̣ng trong đời
số ng đố i với viê ̣c giáo du ̣c, hình thành nhân cách, năng lực của con người GS.
TS Trầ n Đình Sử nhâ ̣n đinh
̣ : “Hiê ̣n nay , nhiề u em có thiên hướng học các
khố i tự nhiên , khoa học kỹ thuật . Ngân hàng thương mại…lại nghi ̃ rằ ng làm
văn không cầ n thiế t bằ ng làm toán , học lý, học hóa…. Đó là quan niê ̣m chưa
đúng. Thực tế văn nghi ̣ luận cầ n thiế t cho mỗi người , dù ta có học nghề gì
trong tương lai . Bởi làm văn nghi ̣ luậ n là rèn luyê ̣n tư duy bằ ng ngôn ngữ ,
cách diễn đạt chính xác , cách dùng từ đúng chỗ , cách thuyết phục người
khác. Thiế u năng lực thuyế t phục thì khó mà thành đạt trong cuộc số ng ”.Từ
nhâ ̣n đinh
̣ này , giáo sư đi đến việc

lý giải bản chất của nghị luận về hiện

6


tươ ̣ng trong đời số ng, thực chấ t nghi ̣luâ ̣n xã hô ̣i là xoay quanh những vấ n đề
về tư tưởng, đa ̣o đức, lố i số ng gầ n gũi với tuổ i trẻ , bày tỏ ý kiến, suy nghi ̃ về
mô ̣t viê ̣c tố t , viê ̣c xấ u trong đời số ng , từ đó rút ra bài ho ̣c cho bản thân , để
cuô ̣c số ng trở nên tố t đe ̣p , tích cực và có ý nghĩa hơn .Bài văn nghị luận hay
không chỉ có luâ ̣n điể m đúng, có ý nghĩa, lâ ̣p luâ ̣n chă ̣t chẽ mà còn phải chú ý
bố cục hợp lý . Bài văn thường có ba phần : mở bài , thân bài và kế t bài . Hình
dung bài văn như mô ̣t cuô ̣c trò chuyê ̣n , mô ̣t cuô ̣c phát biể u ý kiế n trước mo ̣i
người, thì nên có cách mở bài thích hợp . Trong phầ n mở bài tim
̀ cách


7


trung học phổ thông, với mong muốn giúp các nhà sư phạm sẽ có thể truyền
đạt và hướng dẫn học trò của mình nắm được kỹ năng và làm tốt một bài văn
nghị luận xã hội. Đồng thời góp một tiếng nói nhỏ bé, một đóng góp không
đáng kể vào kho tàng sáng kiến để làm tư liệu cho các nhà sư phạm tham
khảo, nâng cao chất lượng dạy và học góp phần đổi mới giáo dục nước nhà.
3. Mục đích, nhiêm
̣ vu ̣ nghiên cứu
Cung cấp cho những nhà sư phạm một công trình nghiên cứu mang tính
chất hệ thống, toàn diện về Phương pháp dạy học nghị luận về hiện tương đời
sống trong nhà trường, từ đó rèn luyện học sinh làm văn nghị luận xã hội đạt
hiệu quả cao.
Nâng cao kỹ năng sống, khả năng nhận thức và kỹ năng làm văn nghị
luận của học sinh
Hệ thống hóa những thành tựu về lí luận dạy học nghị luận xã hội (kỹ
năng sống ) trên thế giới và ở Việt Nam.
Xác định được các hình thức, biện pháp tổ chức, phương pháp dạy và
học nghị luận về hiện tượng đời sống ở trường phổ thông theo hướng phát huy
tính tích cực của học sinh.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là Văn nghị luận: Rèn kỹ năng làm
bài văn nghị luận về các hiện tượng xã hội cho học sinh THPT
Đối tượng hướng đến là những nhà hoạt động sư phạm và tầng lớp học
sinh mà chủ yếu là học sinh trung học phổ thông.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ những vấn đề, hiện tượng
diễn ra xung quanh cuộc sống của con người. Đặc biệt là những vấn đề nóng
hổi, mang tính thời sự ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, đến sự sống, đến
việc hình thành nhân cách của con người.

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Quan điểm chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học ở THPT
Giáo dục nước ta trong thập kỉ tới phát triển trong bối cảnh thế giới có
nhiều thay đổi nhanh và phức tạp. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo
dục đã trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ
thông tin và truyền thông, kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác
động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới.
Yêu cầu phải đối mới, phải chấn hưng nền giáo dục Việt Nam được nêu rất rõ
trong các văn kiện của Đảng và được cụ thể hóa qua Luật Giáo dục của Việt Nam.
Ở nước ta, trong quá trình cải cách giáo dục – đào tạo, mục tiêu, chương
trình, nội dung giáo dục – đào tạo đã thay đổi nhiều lần cho phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được những tiến bộ đáng khích lệ.
Tuy nhiên, những thay đổi về chuyên môn còn quá ít, quá chậm. Phương pháp
đang được sử dụng phổ biến trong các trường học chủ yếu là thuyết giảng có
tính chất áp đặt của thầy, coi nhẹ hoạt động tích cực, chủ động của trò. Sự
chậm trễ đổi mới phương pháp dạy học ở THPT là trở ngại lớn cho việc thực
hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng ta đã đề ra là đào tạo “người lao động tự chủ
năng động, sáng tạo”. Để khắc phục tình trạng này, Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI (2011), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tiếp tục khẳng
định để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo cần thực hiện đồng bộ
các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra
theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi
trọng giáo lí, lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối
sống và năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành và tác phong công nghiệp, ý
thức trách nhiệm xã hội.

10

cho phát triển giáo dục phổ cập và các đối tượng đặc thù.

11


Như vậy, để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển giáo dục gắn với
phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt
chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành để
một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng
thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu
được phát triển tài năng. Sự phát triển của xã hội cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ
XXI đòi hỏi con người có một phẩm chất và năng lực nổi lên hàng đầu như
năng lực làm việc nhóm, năng lực hoạt động thực tiễn và giải quyết vấn đề do
cuộc sống đặt ra, năng lực hợp tác, năng lực thích ứng,… Những yêu cầu trên
đặt ra cho giáo dục phải đổi mới toàn diện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu giáo dục
của xã hội và cá nhân, từ học chế đào tạo, cách thiết kế chương trình, tìm tòi
những phương thức, cách thức giáo dục tốt hơn. Tuy nhiên, để tìm được những
cách thức đào tạo phù hợp, cần phải làm sáng tỏ bản chất việc học mới có thể
tìm được những cách dạy phù hợp, có hiệu quả nhất.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn hiện nay và yêu cầu phải cải cách
toàn diện giáo dục THPT là một yêu cầu cấp thiết nhằm đạt mục tiêu giáo dục
phổ thông. Phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu dạy học, chương trình, nội giáo
dục phổ thông, đặc biệt là đổi mới phương pháp giáo dục kết hợp với đổi mới
hình thức tổ chức giáo dục THPT. Cuối cùng là đổi mới đánh giá kết quả giáo
dục THPT.
Hiện nay, giáo dục phổ thông ở nước ta đang từng bước tiến hành đổi
mới theo định hướng của Đảng và của Bộ giáo dục và Đào tạo. Tuy nhiên, sự

thực hiện tối ưu quá trình học tập của HS. Có rất nhiều mô hình lí thuyết khác
nhau, trong đó có một số thuyết học tập làm cơ sở cho tổ chức dạy và học
nghị luận xã hội. Đó là thuyết học tập mang tính xã hội, sự giải quyết mâu
thuẫn, sự hợp tác tập thể.
1.1.3.Khái lược về văn nghị luận xã hội
1.1.3.1. Nội hàm khái niệm

13


Trong nội dung hạn chế đề thi học kỳ, thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh cao
đẳng và đại học 4 năm gần đây (từ 2009), đây là phần được coi là mới nhất.
Đúng ra, dạng đề thi thuộc loại này trước đây đã từng rất quen thuộc với học
sinh. Có một thời kì, trong đề thi làm văn của học sinh bậc phổ thông trung
học, người ta không còn ra loại đề này. Chính thức từ kì thi năm 2009, dạng
đề thi này mới quay trở lại, nên học sinh, nhất là khối thí sinh tự do cảm thấy
bỡ ngỡ. Tuy nhiên, với những học sinh đã học chương trình mới từ đầu, nếu
được thầy cô giảng dạy chu đáo và bản thân thường xuyên rèn luyện, đây
cũng chỉ là bài làm văn thông thường, không khó.
Để làm tốt câu hỏi dạng này, học sinh trước hết phải nắm được những
vấn đề lí thuyết về văn nghị luận. Những kiến thức này đã có đầy đủ trong các
bài học của sách giáo khoa, học sinh chỉ cần ôn luyện lại, nắm vững những
khái niệm then chốt và các thao tác khi làm bài văn nghị luận xã hội.
Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng
cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật,
triết học, đạo đức). Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm
sáng tỏ. Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều
kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và
niềm tin của mình. Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng,
tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục

viết xin dẫn dưới đây một số câu hỏi tiêu biểu.
1.1.3.2. Dạng đề tiêu biểu
Đề 1: “Như một thứ a xít vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn
mòn cả một xã hội”. Từ ý kiến trên, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ)
trình bày suy nghĩ về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con
người trong cuộc sống hiện nay (đề thi ĐH khối C, năm 2010)
Đề 2: Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào
nhoáng”. Từ ý kiến trên, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày
suy nghĩ về sự nguy hại của đạo đức giả đối với cuộc sống con người (đề thi
ĐH, khối D, năm 2010)

15


Đề 3: Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến
sau: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh
mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa (đề thi ĐH, khối D, năm 2009)
Đề 4: Phải chăng “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời.
Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống”
(Norman Kusin). Hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.
Đề 5: Anh/ Chị hãy bình luận ca từ sau đây trong một bản nhạc của Trịnh
Công Sơn: “Sống trên đời cần có một tấm lòng/ Để làm gì em biết không?”.
Đề 6: Trong một lần trả lời con gái thế nào là hạnh phúc, Mác nói: “Hạnh
phúc là đấu tranh”. Anh/chị hiểu câu nói trên như thế nào?
Đề 7: “Mọi lí thuyết đều màu xám, chỉ cây đời là mãi mãi xanh tươi” (Gớt).
Anh/chị hiểu câu nói trên như thế nào”?
Đề 8: Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về “bệnh vô cảm” trong xã hội
hiện nay.
Đề 9: Viết bài tham gia cuộc vận động tìm giải pháp bảo đảm an toàn giao
thông hiện nay.

Phần thân bài, phải triển khai tiếp các luận điểm đã được nêu ra ở phần một,
và cuối cùng, phần kết luận, người viết phải đưa ra tổng kết của cá nhân mình
về vấn đề đã nêu, đúng hay sai? Bài học nào được rút ra cho cá nhân người
viết? Tóm lại, với một bài nghị luận xã hội, bố cục chung của bài làm nên lần
lượt triển khai theo các bước sau đây:
- Ý 1: Nêu và giải thích ý kiến câu hỏi đề thi.
- Ý 2: Bàn luận mở rộng về ý kiến câu hỏi đề thi.
- Ý 3: Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân và cho mọi người.
* Một số ví dụ
Để giúp các nhà hoạt động giáo dục và các em học sinh có thể dễ dàng
giải quyết các bài làm cụ thể của mình, chúng tôi xin dẫn ra dưới đây 3 ví dụ
cụ thể: một đáp án sơ lược, một đáp án chi tiết và một bài viết hoàn chỉnh.
Ví dụ 1. Trình bày suy nghĩ về ý kiến: Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích,
người chân chính thì kiên nhẫn tạo nên thành tựu (đề thi ĐH, khối C, 2012)
Đáp án sơ lược

17


+ Giải thích ý kiến
- Kẻ cơ hội là người lợi dụng thời cơ để mưu cầu lợi ích trước mắt, bất kể việc
làm đúng hay sai; người chân chính là người luôn biết sống đúng với thực
chất và phù hợp với những giá trị xã hội; thành tích là những kết quả được
đánh giá tốt; thành tựu là những thành quả có ý nghĩa lớn, thường chỉ đạt
được sau một thời kì phấn đấu lâu dài.
- Về nội dung, đây là ý kiến chỉ ra sự đối lập về lối sống và cách hành xử
trong công việc giữa loại người cơ hội và chân chính.
+ Bàn luận về ý kiến
* Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích
- Do thói vụ lợi, bất chấp đúng sai nên trong công việc, kẻ cơ hội không cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status