SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Mã số:
!"#$%$&#' (
)*+,
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lê
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục : 1
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 1
- Lĩnh vực khác: 1
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
1 Mô hình 1 Phần mềm 1 Phim ảnh 1 Hiện vật khác
Năm học: 2014-2015.
BM01-Bìa SKKN
/012')3*
. 4 &56
1. Họ và tên: Nguyễn Thị Lê
2. Ngày tháng năm sinh: 04/10/1980
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: Phước Thái- Long Thành- Đồng Nai
5. Điện thoại: 0613551883 ; ĐTDĐ:0962566919
6. E-mail: [email protected]
7. Chức vụ: Tổ trưởng
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
. 78$)9)
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ : Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2003
đề cũng giúp người viết lập được một dàn ý tốt và do đó cũng tránh được sự dài
dòng, lan man “Dây cà ra dây muống”, “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” tạo
được sự thống nhất, hài hoà giữa các phần của bài viết, tránh tình trạng “Đầu voi
đuôi chuột”. Mặt khác, việc viết đúng kiến thức cơ bản vô cùng quan trọng, kiến
thức cơ bản là “bột”, mà “Có bột mới gột nên hồ”.
Hình thức trình bày là sự thể hiện bố cục của bài văn trên trang giấy. Một
bài văn đúng quy cách là bài văn mà khi nhìn vào tờ giấy phần bài làm của học
sinh chưa cần đọc, chúng ta đã thấy rõ ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài. Muốn
thế, người viết không chỉ phải chú ý đến nội dung mà hình thức cũng phải rõ ràng.
Trong thực tế dạy – học tôi thấy bài văn của học sinh mình chưa đáp ứng
được những yêu cầu của một văn bản trong nhà trường. Bài văn của các em vẫn
còn hiện tượng lạc đề, xa đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề; đoạn văn trong
bài thường sai quy cách (các em thường viết đoạn không có câu chủ đề hoặc có
nhiều câu chủ đề trong một đoạn,…). Bên cạnh đó, sự liên kết giữa các đoạn văn
chưa lôg•c (triển khai ý nọ sọ ý kia, không nhất quán, trùng lặp,…). Thậm ch•, có
rất nhiều em đã học đến lớp 12 nhưng hoàn toàn không biết làm một bài văn nghị
luận đúng yêu cầu (một số em để giấy trắng, một số khác thì viết linh tinh để đối
phó trong bài kiểm tra). Trong khi đó phần Làm văn nghị luận chiếm tỉ lệ 50% đến
70% điểm số bài thi, cho nên tình trạng học sinh điểm dưới trung bình là rất cao.
Đó cũng là lý do khiến các em lo sợ, không hào hứng khi học môn Ngữ văn, nhất
là phân môn Tập làm văn.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
3
Từ những lý do đó, tôi đã tiến hành tìm tòi, nghiên cứu và vận dụng vào
thực tế giảng dạy “Rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh
THPT- Lớp 12”. Trong đề tài này, tôi chia sẻ chủ yếu cách làm hai dạng đề thiết
thực nhất là: kỹ năng làm bài nghị luận văn học và kỹ năng làm bài nghị luận
văn học kết hợp nghị luận xã hội nhằm giúp học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi
THPT Quốc gia 2015 sắp tới.
./;2 (&$<=
cá nhân.Bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội đòi hỏi người viết
phải đáp ứng các yêu cầu về cảm thụ tác phẩm như đã nêu ở trên đồng thời cần thể
hiện những nhận thức, đánh giá, suy nghĩ của bản thân về các vấn đề tư tưởng, đạo
đức, lối sống; các hiện tượng đang diễn ra trong cuộc sống.
Mặt khác, cũng cần hiểu rằng một tác phẩm văn học ra đời là đứa con tinh
thần của nhà văn; chịu sự chi phối của tư tưởng, quan niệm và tài năng của tác giả.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
4
Đồng thời, nó cũng phản ánh một thời đại lịch sử (bối cảnh tác phẩm) trong một
hoàn cảnh xã hội nhất định (hoàn cảnh ra đời). Do đó, khi làm bài nghị luận văn
học cần huy động tri thức về thời đại của tác giả, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm,
về văn học và về tiếng Việt Khi nghị luận về tác phẩm văn học phải đặt tác phẩm
vào thời đại mà tác phẩm phản ánh cũng như hoàn cảnh tác phẩm ra đời để thấy rõ
giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Theo cách thức nghị luận và phương pháp lập luận có thể chia thành các kiểu
bài nghị luận văn học: phân t•ch, bình luận, chứng minh. Người ra đề cũng có thể
kết hợp nhiều yêu cầu trong một đề văn. Đó là l• do học sinh thường gặp kiểu bài
hỗn hợp.
Như vậy, để làm tốt bài nghị luận văn học, cần cho học sinh hiểu rõ t•nh chất
tổng hợp của kiểu bài này. Giáo sư Lê Tr• Viễn đã có lời nhắn nhủ: “Dạy văn lấy
cảm làm đầu”. Người giáo viên dạy học sinh làm bài văn nghị luận văn học, bài
nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội không thể nghèo nàn cảm xúc,
cũng không thể kém hiểu biết thực tế cuộc sống. Cho nên hướng gợi ý học sinh
trình bày những cảm nhận, đánh giá tác phẩm, hiện tượng đời sống hay tư tưởng,
đạo l• phải xuất phát từ những rung cảm thẩm mĩ chân thật; phải biết kết hợp linh
hoạt nhiều thao tác lập luận; phát huy t•nh t•ch cực, sáng tạo của cá nhân, không gò
ép theo khuôn mẫu.
Năm 2008, Bộ Giáo dục tiếp tục triển khai cho giáo viên trên toàn quốc một
số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó phương pháp
giảng dạy phân môn Tập làm văn được chú trọng nhiều nhất cũng đã mở ra nhiều
Về ph•a học sinh: Theo kết quả điều tra của bản thân tôi vào đầu năm học bằng
phiếu lấy ý kiến:
Học phân môn Tập làm văn em thích hay không thích?
Thích ¨ Không thích ¨
Năng lực học Tập làm văn của em ở mức nào?
Giỏi ¨ Khá ¨ TB ¨ Yếu ¨
Làm bài Tập làm văn khó hay dễ? Khó ¨ Dễ ¨
Theo bản thân em, thể loại văn bản nào sau đây đối với em là khó làm bài nhất?
Thuyết minh ¨ Nghị luận ¨
Làm bài Tập làm văn kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội khó
hay dễ? Khó ¨ Dễ ¨
Kết quả khảo sát cho thấy, trong tổng số 68 phiếu điều tra học sinh khối 12,
trong đó có đến hơn 2/3 ý kiến không th•ch học phân môn Tập làm văn, các em
cho đây là phân môn khó và học rất yếu, đặc biệt là ở thể loại văn nghị luận. Cụ
thể:
Chưa coi trong bộ môn so với các môn khoa học tự nhiên nên chưa đầu tư, chưa
có thái độ học tập đúng đắn; chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
Học sinh học Tập làm văn một cách máy móc. Trước một đề bài các em •t
nghiên cứu, chỉ đọc loáng thoáng rồi viết theo kiểu đối phó.
Nhiều bài văn chưa đạt yêu cầu do chưa biết cách viện dẫn, dẫn chứng nghèo
nàn, thiếu ch•nh xác và không lôg•c.
Học văn nghị luận mà chưa biết cách phân biệt thể loại, kiểu bài.
Thiếu năng lực phân t•ch cần thiết, chưa thấy được cái hay cái đẹp trong văn
chương.
Nhiều học sinh chỉ làm được phần nghị luận văn học hoặc tách ra thành hai
đoạn riêng biệt.
Nhiều học sinh khi viết bài mắc lỗi về dùng từ, đặt câu, lập luận, viết đoạn,
hành văn và nhiều lỗi khác.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
6
nhận được đề bài thường bỏ qua khâu này, nhưng các em lại không biết rằng đây
là việc quan trọng giúp các em nhận thức tốt các khâu còn lại trong bước tìm hiểu
đề. Vì vậy, khi dạy tôi luôn yêu cầu học sinh thực hiện khâu này trước tiên mà
không bao giờ được bỏ qua.
Chẳng hạn:
Đề 1: Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ sau:
“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
7
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành ”
( Trích Tây Tiến - Quang Dũng)
Đề 2: Vẻ đẹp của một nhân vật nam trong chương Ngữ văn 12 mà em yêu
th•ch.
Đề 3: Phân tích bài thơ sau của Hồ Ch• Minh:
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, Ngườii chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.
Đề 4: Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Đề 5: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong đoạn trích Vợ
chồng Aphủ của nhà văn Tô Hoài.
Đề 6 : Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt
Nam phong phú, đa dạng; nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính,
quán thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước”. Hãy trình bày suy nghĩ của anh
viết đều đòi hỏi người viết phải suy luận thêm: qua nội dung trước mắt (được thể
hiện rất rõ ở đề bài) đề bài yêu cầu người viết phải nhận thức thêm về vấn để gì ?
Đó là những vấn đề tư tưởng chủ đề sâu sắc của tác phẩm mà mọi chi tiết, hình
ảnh, câu chữ, của tác phẩm đều hướng đến thể hiện.
Chẳng hạn với đề bài Theo anh (chị), t•nh dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc”
được hiểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu dẫn
chứng minh hoạ.
Nội dung trọng tâm của bài viết là: Phân t•ch t•nh dân tộc trong bài thơ “Việt
Bắc”của Tố Hữu. (Tr 5-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn
Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)
Kỹ năng tìm hiểu đề là kỹ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện
một bài Tập làm văn. Tuy vậy, đa số học sinh thường không chú ý đến bước này.
Vì vậy, trong quá trình làm bài các em thường lạc đề hoặc xa đề nên bài văn
thường không có điểm cao. Cũng ch•nh vì lẽ đó hướng dẫn các em làm tốt bước
này sẽ giúp học sinh tránh được việc lạc đề, xa đề. Từ đó bài văn sẽ tốt hơn.
Nắm được hạn chế đó của học sinh nên tôi luôn hướng dẫn học sinh thực
hiện thao tác này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi bài viết cũng như trước các đề
trong bài học. Trên cơ sở đó các em sẽ biến nó thành một kỹ năng cần thiết trước
khi viết bài.
Để học sinh xem tìm hiểu đề là một bước không thể thiếu khi làm bài thì
giáo viên phải giúp các em thành thạo bước này trong quá trình dạy học. Người
giáo viên nên tận dụng thời gian để cho các em luyện tập. Chẳng hạn, ra đề và yêu
cầu HS về nhà thực hiện, trước các bài viết số 1, số 2, số 3, dựa trên nội dung ôn
tập đã thống nhất.
Để giúp học sinh tìm hiểu đề, trước một đề bài tôi thường yêu cầu học sinh
đọc nhiều lần (thậm ch• yêu cầu học sinh đọc thuộc đề); lấy bút chì gạch chân
những từ cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho nổi bật
các yêu cầu của đề; xác định ba yêu cầu của đề. V• dụ: Phân t•ch hình tượng người
l•nh Tây Tiến trong đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
nó. Sông Đà trong một sự vận động, chảy trôi miên man, vô tận. Sông Đà hung
dữ đã thay bằng hình ảnh một con sông mềm mại, uốn lượn, được hình dung như
mái tóc của người thiếu nữ. Hình ảnh gợi cảm, duyên dáng, tình tứ, có khá năng
tạo ra những trường liên tưởng rộng lớn qua trí tưởng tượng sinh động của nhà
văn. (Đề bài : Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt
Nam qua hai bài tuỳ bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên
cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
Trong đoạn văn trên, người viết đã phân tích câu văn (Con sông Đà) “tuôn
dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình ” trên cả hai phương diện: nội dung (chiều dài
cùa dòng sông; dáng hình, dòng chảy của nó; hình ảnh một con sông mềm mại,
uốn lượn, ) và nghệ thuật (Biện pháp so sánh; Hình ảnh gợi cảm; trường liên
tưởng rộng lớn, ) để làm rõ ý văn của tác giả.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
10
So sánh: đối chiếu hai hay nhiều sự vật, hoặc là các mặt trong cùng một sự vật
nhằm chỉ ra những nét tương đồng hay khác biệt, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trị
cùa từng sự vật. Khi so sánh cần chú ý lựa chọn và duy trì một tiêu ch•, một bình
diện so sánh nhất định. Chẳng hạn:
Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn chương
chân chính, đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường, đưa ra nhiệm
vụ phản ánh hiện thực cho văn chương. Yêu cầu này đòi hỏi ở nhà văn một sự
tinh tế, nhạy cảm, thức nhọn các giác quan rất cao để có thế giới quan cuộc sống,
nhập thân vào cuộc sống để khám phá, tìm tòi. Một tác phẩm ưu tú "không đem
đến một cách cho người đọc sự thoát ly hay sự quên:, nó đem đến cho người đọc
hơi thỏ, nhịp đập của chính cuộc đời cho người đọc những “bài học trông nhìn và
thưởng thức" (Theo dòng)-Thạch Lam. “Tác phẩm văn nghệ phải thể hiện sự
sống thật hơn là sự sống bình thường, cô đọng hơn, khái quát hơn, cao hơn cuộc
sống mà văn là cuộc sống” (Trường Chinh). Người nghệ sĩ phải nhận thức, phản
ánh cuộc sống có lí tưởng, chứ không phải mình họa li tưởng cuộc sống. Lí tưởng
nằm ngay trong cuộc sống chứ không tách ra khỏi cuộc sống, không khiến người
Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [ ] có loại đáng thờ. Có loại không đáng
thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là
loại chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên").
Trong phần văn bản trên, người viết đã sử dụng thao tác bác bỏ để bác đi ý
kiến của Nguyễn Văn Siêu khi ông phủ nhận hoàn toàn vai trò của hình thức nghệ
thuật trong sáng tác văn học. Bằng việc đưa ra những vấn đề l• luận và phân t•ch
một V• dụ cụ thể (bài thơ “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh), người viết
đã khẳng định vai trò không thể thiếu của nghệ thuật đối với một tác phẩm văn
học có giá trị. Từ đó, chỉ ra thiếu sót trong quan niệm của Nguyễn Văn Siêu: thiếu
cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của các yếu tố hình
thức, nghệ thuật trong văn chương.
Bình luận: bàn bạc và đánh giá vể sự đúng sai, thật giả, lợi hại của các tác
phẩm, các vấn đề văn học, các ý kiến bàn về văn học, Muốn bình luận một vấn
đề cần lưu ý xác định đối tượng bình luận, giới thiệu đối tượng đó và đề xuất ý
kiến bình luận (phân t•ch đối tượng một cách cụ thể và nhìn đối tượng từ nhiều
mối quan hệ). Chẳng hạn:
Hình ảnh người l•nh Tây Tiến là một bức tượng đài đẹp đẽ với tư thế hiên
ngang, với kh• phách anh hùng và có cả những say mê, ước vọng lãng mạn, đẹp đẽ.
Nhưn thơ Quang Dũng còn tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh
Tây Tiến. Không thi vị hóa hiện thực, ngòi bút thơ Quang Dũng dám nhìn nhận
vào nhữnq tổn thất tất yếu của con người trong chiến tranh tàn khốc (Bài viết “Vẻ
đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng”).
Trong đoạn văn trên, người viết đã sử dụng thao tác bình luận để đánh giá về
thơ Quang Dũng mà cụ thể là bài thơ “Tây Tiến” và hình ảnh người l•nh trong bài
thơ. Hình ảnh người l•nh Tây Tiến “là một bức tượng đài đẹp đẽ”. Thơ Quang
Dũng “tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Không thi
vị hóa hiện thực [ ] dám nhìn nhận vào những tổn thất tất yếu của con người
trong chiến tranh tàn khốc” (Tr 5,6,7-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và
đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)
Ngoài những thao tác trên, trong bài viết cần vận kết hợp nhiều thao tác khác
trong ch•nh những tác phẩm văn học và vấn đề đời sống, tư tưởng, đạo l• được nêu
lên là đối tượng của bài viết. V• dụ:
Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con
trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước
của thế hệ trẻ trong thời hiện đại.
Kết quả của bước tìm hiểu đề giúp học sinh xác định được tất cả các yêu cầu
của đề bài: về kiểu bài, về nội dung trọng tâm của đề, thao tác lập luận, phạm vi
dẫn chứng.
V• dụ: Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô
Hoài (Đối với dạng đề nghị luận văn học)
Học sinh cần xác định được:
+Kiểu bài: nghị luận về một đoạn tr•ch văn xuôi- phân t•ch nhân vật trong
đoạn tr•ch.
+Nội dung trọng tâm: phân t•ch nhân vật Mị-> tư tưởng, tình cảm của nhà văn
qua đoạn tr•ch.
+Thao tác lập luận: phân t•ch, giải th•ch, chứng minh, bình luận, Trong đó
phân t•ch và bình luận là hai thao tác ch•nh.
+Phạm vi tư liệu: đoạn tr•ch “Vợ chồng A Phủ”, mở rộng cả tác phẩm.
V• dụ: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong
gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của
thế hệ trẻ trong thời hiện đại. (Đối với dạng đề nghị luận văn học kết hợp nghị xã
hội)
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
13
Học sinh cần xác định được:
+Kiểu bài: nghị luận về một tác phẩm văn xuôi- phân t•ch nhân vật trong đoạn
tr•ch và nghị luận về một tư tưởng, đạo l•.
+Nội dung trọng tâm: phân t•ch nhân vật Việt-> tư tưởng, tình cảm của nhà
văn qua đoạn tr•ch; bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ.
+Thao tác lập luận: phân t•ch, giải th•ch, chứng minh, bình luận, Trong đó
a ) Mở bài
Người ta thường nói: Văn hay chưa hẳn là dài- Mới đọc mở bài đã biết văn
hay. Mở bài có vai trò quan trọng đối với một bài văn. Mở bài đúng và hay sẽ khai
thông được mạch văn. Ở phần mở bài, người viết cần giới thiệu khái quát vấn đề
sẽ nghị luận, sẽ làm sáng tỏ trong bài viết. Để có được đoạn mở bài hay, cần nêu
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
14
trọng tâm và phạm vi vấn đề sẽ bàn bạc một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúc
chiết và mới mẻ.
Nhìn chung có hai cách ch•nh: mở bài trực liếp và mở bài gián tiếp.
V• dụ 1: Đề bài- Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
( Trích Tây Tiến - Quang Dũng)-Đây là dạng đề nghị luận văn học.
- Mở bài trực tiếp, người viết nêu ngay vấn đề trọng tâm. Chẳng hạn:
Tây Tiến là bài thơ đặc sắc của Quang Dũng viết về đề tài người lính trong
kháng chiến chống Pháp nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung . Bài thơ đã khắc
họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến: anh hùng, lãng mạn, hi sinh anh
dũng vì quê hương đất nước. Hình tượng người lính hiện lên rõ nét nhất qua đoạn
thơ sau:
“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành ”
Mở bài trên đi từ vấn đề khái quát của đối tượng ch•nh trong đề bài, lập luận
theo lối so sánh, dẫn dắt vào vấn đề.
Tóm lại, khi mở bài người viết cần chủ động viết thật sáng tạo để chẳng
những khơi gợi hứng thú theo dõi văn phong mà còn gây được sự chú ý của người
đọc về vấn đề sẽ viết.
Trên đây là những vấn đề về mặt lý thuyết. Thực tế, đối tượng học sinh tôi dạy
đến 90% là yếu-kém ở khâu viết mở bài, đa số các em không có khả năng tư duy,
suy luận, cảm thụ. Ở tiết luyện tập đầu tiên khi yêu cầu các em viết mở bài có
nhiều em hoàn toàn không biết viết như thế nào? Vận dụng kiến thức ở phần nào
trong bài Đọc văn để viết ? Vì vậy, khi dạy học sinh viết mở bài, giáo viên đã cụ
thể hóa về cách viết- chọn cách trực tiếp, các nội dung kiến thức để viết mở bài,
cách dẫn vào vấn đề cần bàn luận. Có nghĩa là hướng các em tìm hiểu, ghi nhớ
theo khả năng bản thân những kiến thức cần thiết để viết mở bài (Chẳng hạn: cần
nắm được tác giả, nhận định về tác giả, tác phẩm, các hình tượng dạng đề v• dụ
1; cần nắm được tác giả, nhận định về tác giả, tác phẩm, các hình tượng, các vấn
đề thuộc về tư tưởng, đạo l•; các hiện tượng đời sống dạng đề v• dụ 2). Bởi vì,
học sinh của chúng tôi tuy khả năng sáng tạo, suy luận kém nhưng các em vẫn có
thể ghi nhớ, thậm ch• là bắt chước.
Cũng đề bài v• dụ 1 và v• dụ 2, tôi hướng dẫn các em HIT>YX như sau:
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
16
Ví dụ 1: Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp,
một nghệ sĩ đa tài -viết văn, làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng
trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài
hoa. Ông có rất nhiều bài thơ hay viết về người lính trong đó có bài"Tây Tiến".
Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến: anh hùng, lãng
khoảng 60% đến 80% yêu cầu viết mở bài, không có trường hợp để giấy trắng.
YZ Thân bài
Trong một bài văn nghị luận, phần thân bài có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
17
mà mở bài đã nêu. Nếu xem phần mở bài chỉ có nhiệm vụ đặt vấn đề thì phần thân
bài ứng với thao tác giải quyết vấn đề đó. Ở phần thân bài, người viết cụ thể hoá
vấn đề cần nghị luận - được gọi là luận đề bằng một hệ thống luận điểm. Mỗi luận
đề được phát triển bằng nhiều luận cứ.
Thân bài gồm nhiều đoạn văn. Giữa các đoạn có câu văn hoặc từ chuyển tiếp
nối kết các luận điểm với nhau làm cho bài văn liền mạch. Về l• thuyết, mỗi đoạn
thân bài tập trung làm nổi bật một luận điểm. Luận điểm đó thường được thể hiện
bằng một câu chốt. Vị tr• của câu chốt: đứng đầu hoặc đứng cuối đoạn văn. Nhưng
trên thực tế, luận điểm thường có nhiều nội dung nên luận điểm ấy cần chia ra
thành nhiều đoạn. Trường hợp này, giữa các đoạn văn bộ phận của luận điểm vẫn
phải có sự chuyển tiếp và mỗi đoạn văn cũng có một câu chốt nêu lên chủ đề của
đoạn.
Chẳng hạn, với đề bài “Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và
con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau: Ta về, mình có nhớ ta Nhớ ai tiếng hát
ân tình thuỷ chung”, bài viết sẽ có hai luận điểm trung tâm là hình tượng thiên
nhiên và con người Việt Bắc. Luận điểm hình tượng thiên nhiên Việt Bắc lại có
một số nội dung bộ phận như: cảnh mùa đông Việt Bắc, cảnh mùa xuân Việt Bắc,
cảnh mùa hạ Việt Bắc, Khi đó, luận điểm này sẽ được triển khai như sau:
Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình. Tố Hữu đã mượn hình
ảnh của hoa chuối đỏ tươi để gợi dậy một nét đặc trưng của mùa đông Việt
Bắc. Có người cho rằng hình ảnh hoa chuối lần đầu tiên đi vào thơ Tố Hữu
nhưng đã tạo được ấn tượng đặc biệt với người đọc. Cảnh mùa đông có nét ấm
áp, rực rỡ, tươi tắn, chứ không phải là sự lạnh lẽo, hắt hiu. Bức tranh đan dệt bởi
nhiều màu sắc: xanh, đỏ tươi, vàng [ ].
Nếu mùa đông Việt Bắc sống dậy từ sắc đỏ của hoa chuối thì mùa xuân
vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại học
sinh cần xác lập luận điểm, luận cứ như sau:
- Luận điểm 1: Là một chàng trai mới lớn; t•nh tình cón trẻ con, hồn nhiên, vô tư.
+Luận cứ 1: Hay tranh giành với chị
+Luận cứ 2: Đi đánh giặc vẫn mang theo cái ná thun; sợ ma
-Luận điểm 2: Giàu tình yêu thương, yêu nước căm thù giặc sục sôi.
+Luận cứ 1: Thương má, chị chị gái
+Luận cứ 2: Quyết tâm đi bộ đội để tiêu diệt kẻ thù.
-Luận điểm 3: Là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường.
+Luận cứ 1: Khi xông trận chiến đấu dũng cảm, Việt đã dùng thủ pháo tiêu diệt
được một xe bọc thép của giặc,
+Luận cứ 2: Dù bị trọng thương nhưng lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng chiến
đấu,
- Nghệ thuật:
+ Nhiều chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh.
+ Giọng văn chân thật, tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh.
+ Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình, khắc họa t•nh cách nhân vật
đậm chất Nam bộ.
- Luận điểm 4: Bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời đại mới:
+ Luận cứ 1: Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của thế hệ cha anh: luôn gắn bó sâu
nặng với quê hương, đất nước; tự hào, tự tôn dân dân tộc; quyết tâm giữ vững độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
+ Luận cứ 2: Ý thức sâu sắc về vài trò của bản thân đối sự nghiệp canh tân đất
nước: không ngừng trau dồi học tập, rèn luyện; lao động hăng say; có ý thức giữ
gìn bản sắc văn hóa; đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
19
+ Luận cứ 3: Phê phán bộ thanh niên có nhận thức lệch lạc: chạy theo lối sống thực
dụng; sống thiếu trách nhiệm với đất nước; làm những việc trái pháp luật, trái với
thuần phong mỹ tục; sống thiếu l• tưởng,
Trình bày vắn tắt và nêu dẫn chứng minh hoạ).
Kết bài khái quát nội dung và đạt ra câu hỏi nhằm khơi gợi suy nghĩ và tình
cảm ở người đọc. Chẳng hạn:
Chỉ một tình huống mà thấu tỏ bao triết nhân sinh chỉ một câu chuyện nhặt vợ
mà Kim Lán đã đưa tới cho bạn đọc những hài học về số phận von người, tình yêu
thươnq, niềm hy vọng, học cách "nghĩ đến cái sống trong khi người ta chỉ nghĩ đế
cái chết”. Cách xây dựng tình huống độc dáo, giọng văn tỉnh táo, khách quan đã
giúp Kim Lân tái hiện chân thực hiện thực cuội sống và chở đi những chiều sâu tư
tưởng khôn cùng. Chỉ khi thấm rỏ, quyện hòa máu tim của người nghệ sĩ, tình
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
20
huống truyện mới đạt được đỉnh cao của nghệ thuật, tìm kiếm được những giá trị
nhân sinh. “Nghệ thuật là những câu trả lời đầy thẩm mĩ cho con người”. Những
câu trả lời ấy ta đã tìm ở một tình huống hay chăng?. (Đề bài:: "Phân t•ch giá trị
nghệ thuật của việc xây dựng tình huống truyện trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của
Kim Lân").
Kết bài khái quát nội dung và mở rộng, nâng cao vấn đề đã được bàn bạc
trong phần thân bài
Như vậy, ý kiến, quan niệm của Nguyễn Văn Siêu đã nhìn nhận được những
chức nâng cao quý, đặc trưng thẩm mĩ quan trọng của văn chương chân ch•nh,
song lại thiếu cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của các
yếu tố hình thức, nghệ thuật trong văn chương. Từ đây, ta hiểu rằng, một tác phẩm
hay phải là một chỉnh thể thẩm mĩ, là sự gắn bó, quyện hòa giữa hai mặt hình thức
và nội dung.
Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc sáng tác văn học của các
nhà văn và việc tiếp nhận văn học của độc giả. (Bài viết: Trong một bức thư luận
bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [ ] có loại đáng thờ.
Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương.
Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm
trên). (Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG
[.\YXW]F^
Có nhiều cách trình bày dẫn chứng:
Cách 1: Đưa dẫn chứng thành câu văn riêng biệt và tr•ch xuống dòng, thường
được dùng cho những câu thơ, câu văn hay.
Chẳng hạn, trong những v• dụ sau, phần tr•ch dẫn được đưa vào ngoặc kép
Nhờ tiếp thu được t•nh hiện đại của thơ tượng trưng Pháp thế kỷ XIX, Xuân
Diệu góp phần làm phát triển nghệ thuật thơ ca, nhạc điệu câu thơ trở nên phong
phú hơn, khả năng chiếm lĩnh và diễn đạt thế giới khách quan và nội tâm tinh vi,
màu nhiệm hơn, đặc biệt là quan hệ tương giao giữa các giác quan:
“Này lắng nghe em khúc nhạc hồng
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm”
Hay:
“Chiều mộng hào thơ trên nhánh duyên,
Cây me ríu rít cặp chim chuyền”
Tràng có một ngoại hình rất dễ gây ấn tượng cho người đọc: “Hắn bước ngật
ngưỡng trên con đường khẳng khiu. Hắn vừa đi, vừa tủm tỉm cười, hai con mắt
nhỏ t•, quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng
nhấp nh•nh những ý nghĩ vừa lý thú, vừa dữ tợn Trẻ con trêu đùa, Tràng ngửa
mặt lên cười hềnh hệch, cái áo nâu Tràng vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc
nhẵn chúi về ph•a trước”.
Cách 2: Dùng một số chữ đặt ẩn trong câu văn.
V• dụ: Lối v• von trong “Tương tư” cũng rất gần với dân gian. Nói về tình yêu,
dân gian vô cùng tinh tế “nói xa” rồi mới “nói gần”, không bao giờ “nói thẳng như
ruột ngựa”. Bày tỏ niềm tiếc nuối vì người thương đã lấy chồng, chàng trai phải
đưa đẩy, xa xôi rồi mới bày tỏ nỗi niềm.
Tác giả cho A Phủ xuất hiện khá đột ngột trong một hoàn cảnh đánh nhau với
A Sử, bị bát, bị đánh độp tàn nhẫn ở nhà thống l• Pá Tra, rồi mới kể về lai lịch của
nhân vật. Đó là một người nghèo khổ đã mất hết cả mẹ cha và anh em trong một
trận đậu mùa khủng khiếp đã phải sống kiếp bơ vơ khi còn rất nhỏ và “người làng
đói bụng đã bắt A Phủ đưa xuống bán đổi lấy thóc của người Thái ở dưới cánh
hướng về quá khứ để thấm th•a những nỗi đau khổ của cha ông, công lao của
những thế hệ đi trước mở đường, từ đó ghi sâu ân tình của cách mạng, ”.
Cách 2C Chuyển ý bằng câu.
Dùng câu có cấu trúc “Nếu thì ” để tóm tắt ý trên và mở ra ý mới. V• dụ:
“Nếu như “Việt Bắc” là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến
chống Pháp và những con người kháng chiến thì “Gió lộng” hướng về quá khứ để
thấm th•a những nỗi đau khổ của cha ông, công lao của những thế hệ đi trước mở
đường, từ đó ghi sâu ân tình của cách mạng, ”.
Dùng cấu trúc câu “Bên cạnh A còn có B” để chuyển ý khi giữa ý trên và ý
dưới có quan hệ ngang hàng. V• dụ:
“Bên cạnh viên quản ngục còn có viên thơ lại cũng là một người làm nhầm
nghề, sống nhẩm nơi. Ông hẳn cũng là người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” như
chủ nên đã để ý đến cái tài của Huấn Cao, nhất nhất làm theo những phép đối xử
đặc biệt mà viên quản ngục dành cho người tử tù nổi tiếng, ”.
Dùng câu có cấu trúc “Do A nên dẫn đến B”, “Sở dĩ A là vì có B” nếu ý trước
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
23
và ý sau có quan hệ nhân – qủa. V• dụ:
“Bởi có tấm lòng “Biệt nhỡn liên tài” như vây nên viên quản ngục đã không
nề hà nguy hiểm, phá bỏ những phép tắc thông thường trong nhà ngục để biệt đãi
Huấn Cao. Ngày ngày, ngoài những thức ăn thường Huấn Cao còn được thêm
phần rượu thịt, ”.
- Dùng câu có cấu trúc “Hơn cả A là B”, “Không chỉ A mà còn B” nếu ý sau
ở mức độ cao hơn ý trước.
“Không chỉ có kh• phách hiên ngang, kiên cường và sự tài hoa phóng khoáng,
mà nhân vật Huấn Cao còn có cái tâm trong sáng, cao thượng. Điều đó được thể
hiện ở nhiều chi tiết, ”.
- Dùng một câu triết l• hoặc câu thơ, câu văn, ý kiến nhận định để thay lời
chuyển ý. V• dụ:
“Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”
muốn sâu sắc còn phải biết biện luận; biện luận là đưa ra l• lẽ ý kiến khác để tranh
luận phải trái, khẳng định ý kiến mà mình cho là đúng.
Chẳng hạn, trong bài viết về truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyên
Minh Châu, có thể có những câu văn triết l• như sau, chú ý câu văn in nghiêng:
Để có được cái đẹp đ•ch thực, nghệ thuật lại phải một lần nữa hành trình để
kiếm tìm và cuộc hành trình này tất nhiên cũng không hề dễ dàng. Nếu không có
một tâm hồn lớn, một sự đồng cảm sâu sắc nhà văn sẽ không tìm thấy viên ngọc
ẩn giấu sau lớp vỏ hiện thực trần trụi kia. Điều đó cũng giống như việc người
nghệ sĩ trong tác phẩm, sau sự ngộ nhận đầu tiên nếu như không khám phá ra vẻ
đẹp tiềm ẩn trong người đàn bà làm nghề chài lưới kia có lẽ sẽ vĩnh viễn mất đi
niềm tin vào sự tồn tại của cái đẹp trong cuộc sống”.
- Câu văn giàu hình ảnh:
+ Muốn viết câu văn giàu hình ảnh phải tưởng tượng phong phú, phải biết diễn
đạt sự tưởng tượng ấy bằng các phép so sánh.
+ Tưởng tượng tái tạo là tưởng tượng ra thế giới hình tượng của câu thơ, câu
văn rồi tái hiện nó như một bức tranh có đường nét, màu sắc, âm thanh bằng ngôn
ngữ của riêng mình.
+ Tưởng tượng sáng tạo là dùng phép liên tưởng để làm sự vật trước mắt phải
hiện ra, phải cho người ta cái k•nh viễn vọng để nhìn xa hơn, nhìn vào cả lương lai,
phải tượng ra cái phẩn ở ngoài của câu chữ nhưng phù hợp với quy luật của đời
sống.
Có thể tham khảo v• dụ dưới đây, chú ý những từ ngữ được in nghiêng:
“Trên hành trình đến chân trời tương lai của sự nghiệp, một ngày kia Hộ gặp
Từ, một cô gái dịu dàng đoan trang thuỳ mị, thuỷ chung, xinh đẹp, chịu thương,
chịu khó đang rơi vào cảnh khốn cùng. Là con người giàu lòng nhân hậu, Hộ đã
sẵn sàng chìa bàn tay niềm mại của mình ra cứu vớt, dìu dắt cuộc dời Từ ra khỏi
chốn bơ vơ. Từ khi Hộ ghép cuộc đời Từ vào cuộc đời hắn, hắn có cả một gánh
nặng vật chất gia đinh phải chăm lo.”
- Câu văn giàu cảm xúc:
+ Viết văn là viết ra những điều mình hằng quan tâm, suy nghĩ và cảm xúc về