MỤC LỤC
STT
TÊN ĐỀ MỤC
TRANG
1
1. MỞ ĐẦU
2
2
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2
3
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2
4
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3
5
10
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆ ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC, VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG
NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG
19
11
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
20
12
3.1. KẾT LUẬN
20
13
3.2. KIẾN NGHỊ
21
1. MỞ ĐẦU
do bản thân cảm nhận và thực sự rung động với đoạn thơ, bài thơ.
Bản thân là một giáo viên, tôi luôn trăn trở tìm ra các biện pháp tối ưu vừa
giúp học sinh nắm vững các yêu cầu cách làm bài nghị luận văn học, vừa rèn
luyện một số kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học nói chung và bài thơ, đoạn thơ
nói riêng nhằm từng bước nâng cao chất lượng của bài viết và hiệu quả của việc
giáo dục, đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục hiện nay. Xuất phát từ tình hình
trên, bản thân xin đưa ra một vài ý kiến, kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy với
mục đích trao đổi cùng các đồng nghiệp qua sáng kiến: “Một số kinh nghiệm rèn
luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho học sinh lớp
9 ở trường THCS Tân Sơn”.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Là một giáo viên môn Ngữ văn, tôi luôn tâm đắc với câu nói như là một
chân lí quý báu của Lep- Tôn- xtôi: “Vấn đề không phải biết là quả đất tròn mà là
làm thế nào để biết được quả đất tròn”. Và tôi biết cái khó trong việc dạy văn,
nhất là dạy Tập làm văn, kiểu bài Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ là làm sao giúp
2
học sinh biết cách tìm ra cái hay,cái đẹp trong bài thơ, đoạn thơ ấy. Đồng thời tôi
cũng đánh giá cao hoạt động học của trò là tìm tòi, sáng tạo nên trong quá trình
giảng dạy tôi luôn trân trọng những bài làm có lối viết riêng thể hiện được những
cảm xúc chân thật, những nhận xét, phân tích tinh tế sáng tạo của học sinh đối với
tác phẩm văn học nói chung và bài thơ, đoạn thơ nói riêng. Cùng với mong muốn
hạn chế cách viết khô cứng, máy móc, sáo rỗng, lan man, lệch lạc về vấn đề nghị
luận của học sinh. Đó chính là động lực thôi thúc tôi đầu tư vào sáng kiến kinh
nghiệm này, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên, học sinh ở
bộ môn Ngữ văn và chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Giáo viên dạy Ngữ văn và học sinh lớp 9 Trường THCS Tân Sơn, thành
phố Thanh Hóa, một số bài viết của học sinh lớp 9 về nghị luận văn học. Cụ thể là:
Đất nước ta đang trên đà đổi mới, ngành giáo dục đang có những bước
chuyển mình theo nhịp đi lên của thời đại. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy
học là vấn đề cần thiết và quan trọng trong tình hình hiện nay. Trong đó việc đổi
mới phương pháp dạy học môn ngữ văn được các cấp quản lí giáo dục và giáo
viên đã và đang tổ chức thực hiện bước đầu cũng đã đạt được một số kết quả nhất
định. Một trong những biện pháp tối ưu trong quá trình dạy học là phương pháp
dạy học tích cực và dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng. Vậy nên, để góp phần
nâng cao hiệu quả giáo dục ở bộ môn ngữ văn trong nhà trường hiện nay, người
giáo viên ngoài việc giúp học sinh nắm vững kiến thức, biết cảm thụ tác phẩm văn
học thì cần chú trọng hơn nữa đến việc rèn luyện kĩ năng nói và viết, nhất là rèn
luyện kĩ năng viết văn nghị luận về tác phẩm văn học nói chung và thơ ca nói
riêng ở bậc THCS theo chuẩn kiến thức và kĩ năng mà ngành yêu cầu.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Từ thực tế giảng dạy bản thân nhận thấy thực trạng đa số học sinh còn yếu
môn Ngữ văn nói chung, về phân môn Tập làm văn nói riêng. Điều mà ai cũng dễ
nhận ra phân môn Tập làm văn đóng vai trò quan trọng trong việc cảm thụ, tiếp
thu những kiến thức cơ bản về tác phẩm văn học, cung cấp các tri thức cơ bản về
các kiểu văn bản, hình thành các kĩ năng nói, viết, hiểu khái quát về văn bản và bố
cục chung của nó. Biết cách liên kết các từ ngữ, cách dùng từ, các biện pháp nghệ
thuật, hiểu được ý nghĩa của từ …Nhưng trong quá trình tổ chức cho học sinh làm
bài kiểm tra ở lớp cũng như ở kiểm tra học kì và các kì thi khảo sát, tôi nhận thấy
học sinh làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học, đặc biệt là nghị luận về một
bài thơ, đoạn thơ còn rất nhiều hạn chế. Bài làm của học sinh thường sơ sài, chung
chung, lan man, vừa thừa, vừa thiếu, có khi xa đề, lạc đề; bài viết thiếu tính liên
kết, bố cục không rõ ràng. Có bài chỉ viết được 7 đến 8 dòng là hết, có nhiều em
không biết mở bài, không biết xây dựng luận điểm…Phải chăng là do các em cảm
nhận về các bài thơ, đoạn thơ chưa được sâu sắc, và các em chưa được rèn luyện
nhiều về kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học. Cũng có thể do giáo viên chỉ quan
tâm đến việc cung cấp lí thuyết mà chưa chú trọng đến rèn luyện kĩ năng qua các
SL
%
SL
%
SL
%
9A
39
04
10,2
5
11
28,20
19
48,71
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải
quyết vấn đề
a. GV giúp HS nắm vững phần lí thuyết kiểu bài văn nghị luận văn học
nói chung và nghị luận về bài thơ, đoạn thơ nói riêng.
Thực ra ở các lớp dưới học sinh đã được học khá nhiều về các kiểu bài, thao
tác nghị luận. Lên lớp 9, nghị luận về văn học là sự kế thừa, nâng cao kiến thức đã
cung cấp, kĩ năng đã rèn luyện ở các lớp trước. Song đa số học sinh vẫn còn rất
mơ hồ nên giáo viên cần khắc sâu thêm một số nét cơ bản:
- Văn nghị luận là dùng ý kiến, lí lẽ của mình để bàn bạc, thuyết phục người
khác về một vấn đề nào đó.
- Những thao tác chính của văn nghị luận là: giải thích, chứng minh, phân
tích, bình luận, bác bỏ, so sánh…
- Bên cạnh văn nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống; nghị luận về tư
tưởng, đạo lí thì nghị luận văn học là một mảng quan trọng trong phân môn Tập
làm văn ở lớp 9.Nghị luân văn học là dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn
luận là các vấn đề về văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn học…Trong đó, nghị
luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của người viết về nội
dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy.
b. GV cần trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về đặc trưng thể
loại của thơ.
Trong quá trình tổ chức cho học sinh làm bài, tôi nhận thấy nhiều em còn
chưa phân biệt rõ được tác phẩm thơ và truyện. Vì vậy, giáo viên cần lưu ý về đặc
trưng cơ bản của thơ và có phương pháp hướng dẫn các em cảm nhận tác phẩm
theo đặc trưng thể loại. Cụ thể là:
*Giúp học sinh hiểu rõ khái niệm:
- Thơ là một thể loại văn học được xây dựng bằng hình thức ngôn ngữ ngắn
gọn, xúc tích theo những quy luật ngữ âm nhất định nhằm phản ánh tâm trạng,
thái độ, tình cảm ...của người nghệ sĩ về đời sống thông qua các hình tượng nghệ thuật.
5
này, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ chủ thể trữ tình là con người đang cảm
xúc, suy tư trong tác phẩm. Đó có thể là chính tác giả, cũng có thể là nhân vật do
chính tác giả hóa thân.
Ví dụ: Nhân vật người cháu trong bài thơ “ Bếp lửa” của Bằng Việt.
Sau khi nêu ví dụ, giáo viên có thể yêu cầu học sinh xác định chủ thể trữ
tình ở một số bài thơ đã học để các em khắc sâu hơn như người lính năm xưa trong
“Ánh trăng” của Nguyễn Duy, nhân vật “tôi – ta” và cũng chính là nhà thơ Thanh
Hải trong “Mùa xuân nho nhỏ”.
Các nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình trong thơ chỉ đối diện với độc giả bằng
sắc thái, tình cảm.
- Ngôn ngữ thơ:
Đặc điểm ngôn ngữ của thơ là giàu tính tạo hình, biểu hiện. Thông qua ngôn
ngữ, tác giả phản ánh được hiện thực đời sống một cách sinh động, lại thể hiện
được những nhận thức, suy tư về cuộc đời.
6
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
(Đồng chí - Chính Hữu)
GV gợi ý phân tích:
Các câu thơ cuối đã tạo ra một không gian, thời gian và hoàn cảnh cụ thể,
nhiệm vụ cụ thể của người lính. Từ những thi liệu lấy từ đời sống thực, Chính Hữu
đã khắc sâu tính chất khắc nghiệt, hiểm nguy của cuộc chiến đồng thời khẳng định
được sự gắn bó, đồng cam cộng khổ giữa những người lính. Đặc biệt hình ảnh
“đầu súng trăng treo” đã tạo nên một biểu tượng đầy chất thơ về người lính và
phẩm chất của họ. Từ mối quan hệ giữa chiến tranh- hòa bình, hiện thực- lãng
mạn, người lính- người nghệ sĩ; câu thơ cuối đã sáng ngời, lung linh tâm hồn nhạy
cảm, tinh tế của những người lính.
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
7
-> tếu táo, lạc quan, tinh nghịch của chiến sĩ
Qua ví dụ, giáo viên cần cho học sinh thấy rằng việc sử dụng thể thơ, nhịp
thơ linh hoạt, thanh, vần góp phần tạo nên chất nhạc cho thơ.
- Biện pháp tu từ:
+ Khi làm bài nghị luận về bài thơ, đoạn thơ, giáo viên đặc biệt lưu ý hướng
dẫn các em khai thác tối đa tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng như:
Ẩn dụ, Hoán dụ, Nhân hóa, So sánh, Đảo trật tự cú pháp, Đối, Điệp từ ngữ, cú
pháp ; Câu hỏi tu từ, hệ thống từ loại, tứ thơ, mạch cảm xúc, không gian, thời gian
nghệ thuật.
+ Để làm được điều đó, GV cần chú ý hướng dẫn HS cảm nhận được đầy đủ
giá trị nghệ thuật của tác phẩm ngay từ tiết văn học, phần tìm hiểu tác phẩm.
Ví dụ: Giá trị nghệ thuật của điệp từ “nhóm” trong khổ thơ sau:
“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”
(Bếp lửa - Bằng Việt)
- Gợi ý phân tích:
Điệp từ “nhóm” được nhắc lại 4 lần làm toả sáng hơn nét “kì lạ” và thiêng
liêng bếp lửa. Bếp lửa của tình bà đã nhóm lên trong lòng cháu bao điều thiêng
liêng, kì lạ. Từ “nhóm” đứng đầu mỗi dòng thơ mang nhiều ý nghĩa:
+ Khơi dậy tình cảm nồng ấm
+ Khơi dậy tình yêu thương, tình làng nghĩa xóm, quê hương
+ Khơi dậy những kỉ niệm tuổi thơ, bà là cội nguồn của niềm vui, của ngọt
bùi nồng đượm, là khởi nguồn của những tâm tình tuổi nhỏ.
=> Đó là bếp lửa của lòng nhân ái, chia sẻ niềm vui chung.
hoan , phấn khởi của những người lao động được làm chủ quê hương, cuộc sống,
góp phần đánh dấu sự trở lại của thà thơ Huy Cận với cảm hứng mới mẻ cùng với
“ khúc tráng ca” giàu ý nghĩa.
- Dạng 3: Nghị luận về một khía cạnh, phương diện của tác phẩm thơ:
+ Dạng bài này yêu cầu người viết phải nghị luận về một khía cạnh nào đó
về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm.
+ Giáo viên hướng dẫn HS xác định vấn đề nghị luận được thể hiện trong
những câu thơ, đoạn thơ nào đó. Phân tích những dữ liệu đó rồi khái quát vai trò, ý
nghĩa của chúng trong việc tạo nên giá trị nội dung và sức hấp dẫn của tác phẩm.
Ví dụ: Hình ảnh cây tre trong bài: “ Viếng lăng Bác” của Viễn Phương .
Gợi ý phân tích:
Giới thiệu khái quát nội dung bài thơ và hình ảnh tre trong tác phẩm.
Phân tích ý nghĩa của hình ảnh tre trong việc thể hiện tình cảm của tác giả.
+ Hàng tre bát ngát (hình ảnh tả thực) gợi cuộc sống giản đơn, gần gũi của
Hồ Chí Minh.
+ Hàng tre xanh xanh Việt Nam - bão táp mưa sa ...-> ẩn dụ trở thành biểu
tượng cho con người và dân tộc Việt Nam bất khuất, kiên cường, bền bỉ, dẻo dai.
+ Ước nguyện “Muốn làm cây tre ... chốn này”-> ẩn dụ: Nhà thơ và nhân
dân mãi ở bên Người, canh giấc ngủ cho Người, thể hiện phẩm chất trung hiếu của
con người Việt Nam.
+ Khẳng định hình ảnh tre trong bài thơ, tạo kết cấu đầu cuối tương ứng.
Tuy không phải là một hình tượng chính nhưng nó đã góp phần tôn thêm vẻ đẹp
của Người, thể hiện lòng thành kính, niềm xúc động sâu sắc của tác giả cũng như
nhân dân đối với Bác.
+ Liên hệ, mở rộng tới một số tác phẩm viết về tre. (Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)
- Dạng 4: Kiểu bài so sánh:
Với dạng bài này học sinh cần:
+ So sánh nét tương đồng hoặc khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình
diện nội dung và nghệ thuật.
+ Lý giải sự khác biệt (dựa vào bối cảnh xã hội, phong cách của nhà văn,
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Đánh giá chung:
Hình tượng người lính dù ở thời kì chống Pháp hay chống Mỹ đều mang
phẩm chất cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ. Thời đại đã cung cấp cho các nhà thơ
những nguyên mẫu đẹp đẽ, họ tạo nên những hình tượng làm xúc động lòng người.
c. Giáo viên rèn luyện cho học sinh thành thạo một số kĩ năng
* Rèn kĩ năng xác định yêu cầu của kiểu bài để có phương pháp nghị luận phù hợp
Đối với đề văn nghị luận về bài thơ, đoạn thơ GV lưu ý với HS:
- Đề có các từ: Phân tích, suy nghĩ, cảm nhận (phần câu lệnh) thường đặt
ra yêu cầu cụ thể:
+ Phân tích: Nói tới phân tích tức là nói tới việc mổ xẻ, chia tách đối tượng
ra thành các phương diện, các bộ phận khác nhau để tìm hiểu, khám phá, cắt
nghĩa. Cái đích cuối cùng là nhằm để tổng hợp, khái quát, chỉ ra được sự thống
nhất. Như vậy, phân tích là yêu cầu phân tích tác phẩm để nêu ra nhận xét của
người viết (người nói).
Ví dụ: Phân tích khổ đầu trong bài “ Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Cần làm rõ những cảm nhận ban đầu của nhà thơ về cảnh sang thu của đất trời.
- Thiên nhiên được cảm nhận từ những gì vô hình:
+ Hương ổi phả trong gió se.
+ Từ “phả”: động từ có nghĩa là toả vào, trộn lẫn -> gợi mùi hương ổi ở độ
đậm nhất, thơm nồng quyến rũ, hoà vào trong gió heo may của mùa thu, lan toả
10
khắp không gian tạo ra một mùi thơm ngọt mát - hương thơm nồng nàn hấp dẫn
của những vườn cây sum suê trái ngọt ở nông thôn Việt Nam. Đó là thứ hương vị
đặc biệt – hương thu ở miền Bắc Việt Nam.
+ Sương chùng chình: những hạt sương nhỏ li ti giăng mắc như một làn
sương mỏng nhẹ nhàng trôi, đang “cố ý” chậm lại thong thả, nhẹ nhàng, chuyển
động chầm chậm sang thu. Hạt sương sớm mai cũng như có tâm hồn như thiếu nữ,
là cách nói ẩn dụ, gợi ra phần nào cuộc đời vất vả lo toan của bà.
- Bếp lửa lại đánh thức thêm một kỉ niệm tuổi thơ: Những kỉ niệm đầy ắp
âm thanh, ánh sáng và những tình cảm sâu sắc xung quanh cái bếp lửa quê hương.
Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa.
- Bà tần tảo, chịu thương chịu khó, lặng lẽ hi sinh cả một đời:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
………………………
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”
- Hình ảnh bà luôn gắn với hình ảnh bếp lửa. Chính vì thế mà nhà thơ đã
cảm nhận được trong hình ảnh bếp lửa bình dị mà thân thuộc sự kì diệu, thiêng
liêng: “Ôi kì lạ và thiêng liêng - Bếp lửa!”
=> Như vậy, từ ngọn lửa của bà, cháu nhận ra cả một “niềm tin dai dẳng” về
ngày mai, cháu hiểu được linh hồn của một dân tộc vất vả, gian lao mà tình nghĩa.
Bà không chỉ là người nhóm lửa mà còn là người truyền lửa - ngọn lửa của sự
sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.
Niềm thương nhớ của cháu:
+ Nghị luận về đoạn thơ.
+ Nghị luận về hình tượng.
- Cần sử dụng những thao tác nghị luận nào? Thao tác nào là chính?
- Để giải quyết vấn đề cần sử dụng những dẫn chứng nào? Ở đâu?
* Kĩ năng tìm ý:
Có nhiều cách tìm ý:
- Tìm ý bằng cách lập câu hỏi: Tác phẩm hay ở chỗ nào? Nó xúc động ở
tình cảm, tư tưởng gì? Cái hay thể hiện ở hình thức nghệ thuật nào? Hình thức đó
được xây dựng bằng những thủ pháp nào?
- Tìm ý bằng cách đi sâu vào những hình ảnh, từ ngữ, tầng nghĩa của tác
phẩm,…
* Kĩ năng lập dàn ý:.
Đây là nội dung mà phần nhiều học sinh rất ngại thực hiện. Ở mỗi tiết dạy
cách làm bài tôi thường được nghe câu: “Thưa thầy (cô), lập dàn ý khó lắm! Lập
sao được ạ?”. Các em chỉ muốn thực hiện luôn khâu viết bài để viết một cách tùy
hứng nên thường viết lan man, không rõ ý, bài viết không có trọng tâm. GV hướng
dẫn HS lập dàn ý theo bố cục 3 phần:
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, giới thiệu bài thơ, đoạn thơ (hoàn cảnh sáng tác, vị trí
của đoạn thơ…)
- Dẫn bài thơ, đoạn thơ.
* Thân bài:
- Làm rõ nội dung tư tưởng, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ (Phân tích theo
từng câu, cặp câu, bám sát vào từ ngữ mang giá trị nghệ thuật trong từng câu thơ
=> làm nổi bật giá trị nghệ thuật, cái hay, cái đẹp của bài thơ)
- Bình luận về giá trị của bài thơ, đoạn thơ; cái hay, cái đẹp, giá trị tư tưởng
mà nó mang lại cho người đọc.
Cụ thể HS cần xác định rõ từng luận điểm:
- Nêu luận điểm 1 – luận cứ 1 – luận cứ 2,…(Các luận điểm, luận cứ này
chính là các ý 1,2,3…ý a, ý b,..mà các thầy cô đã giảng dạy trong bài học về tác
* Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại.
- Sự thay đổi của hoàn cảnh sống- không gian khác biệt, thời gian cách biệt,
điều kiện sống cách biệt, cuộc sống công nghiệp hoá, hiện đại hoá của điện gương
đã làm át đi sức sống của ánh trăng trong tâm hồn con người...
- Vầng trăng tri kỉ ngày nào nay đã trở thành “người dưng” - người khách
qua đường xa lạ. => Một sự thay đổi phũ phàng khiến người ta không khỏi nhói
đau. Tình cảm xưa kia nay chia lìa.
* Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng.
- Sự xuất hiện trở lại của vầng trăng thật đột ngột, ở vào một thời điểm
không ngờ. ..
- Bất ngờ đối diện với vầng trăng, con người đã có cử chỉ "ngẩng mặt", tâm
trạng “rưng rưng” .
- Trăng hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào.
- Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không bao giờ được làm người phản
bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên.
c. Kết bài:
"Ánh trăng" - một hình ảnh rất giản dị nhưng mang triết lí sâu xa. Nó gợi ra
trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về cách sống, cách làm người “uống
nước nhớ nguồn” ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ.
Sau khi đã nắm được các bước làm, giáo viên giao bài tập để học sinh lần
lượt thực thực hành kĩ năng ở phần chuẩn bị cho tiết luyện nói hoặc giao bài tập
về nhà và chữa bài vào các buổi học phụ đạo.
* Kĩ năng làm và viết đoạn văn
14
Trong chương trình, học sinh học nghị luận văn học về tác phẩm truyện
hoặc đoạn trích; về một đoạn thơ, bài thơ, giáo viên cần hướng dẫn học sinh viết
bài văn phải có bố cục đầy đủ gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết bài.
đề . Giáo viên lưu ý cho học sinh có thể mở bài theo trình tự như thế nhưng cách
trình bày trên là không bắt buộc. điều bắt buộc về nội dung phải có là (2) và (5) ở
mỗi phần.
Về giới thiệu tác giả, mỗi tác giả, học sinh phải thuộc ít nhất một câu.
* Ví dụ:
- Chính Hữu là nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp.
- Thanh Hải là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách
mạng miền Nam từ những ngày đầu.
* Ví dụ minh họa phần mở bài:
Đề bài: Phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải.
15
Thanh Hải - người con xứ Huế, là một trong những cây bút có công xây
dưng nền văn học cách mạng miền Nam từ những ngày đầu. Nhắc đến Thanh Hải
không thể không nhắc đến “Mùa xuân nho nhỏ”. Bài thơ được viết trước khi nhà
thơ qua đời không lâu, thể hiện niềm yêu mến tha thiết cuộc sống, đất nước và ước
nguyện chân thành của tác giả.
- Cách mở bài gián tiếp được áp dụng với học sinh khá, giỏi.
Mùa xuân là đề tài, nguồn cảm hứng bất tận của thi nhân. Mùa xuân thường
khơi dậy niềm lạc quan, yêu đời cùng những cảm xúc, rung động phong phú trong
lòng nhà thơ để rồi bao bài thơ nổi tiếng được thăng hoa. Với Thanh Hải, một
người con xứ Huế, trước cảnh đất trời, quê hương đổi mới, mùa xuân đã trào dâng
trong tâm hồn thi nhân một niềm say đắm mãnh liệt. Tình cảm ấy được gởi gắm
qua bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ”.
Sau khi đã trang bị phần lí thuyết về đoạn mở bài, giáo viên cung cấp hệ
thống bài tập để rèn kĩ năng viết đoạn mở bài cho học sinh theo các cách thức sau:
- Xen hoặc lồng các dạng bài tập có chứa đoạn mở bài.
Trong chương trình SGK mới không có tiết rèn luyện kĩ năng xây dựng
đoạn văn mở bài, giáo viên phải xen lồng từng dạng bài tập dựng đoạn mở bài
và phân tích nghệ thuật ấy (chú ý vào các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, mà ở đó,
các ý nghĩa độc đáo, tài năng nghệ thuật của tác giả được bộc lộ - lựa chọn chi tiết
không dàn trải) -> (6) Nhận xét, đánh giá về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ (phần
này có thể về cảnh, về tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trực tiếp hoặc
nhân vật trữ tình nhập vai).
Các câu (1), (2), (5), (6) thường bắt buộc phải có khi phân tích. Câu (3), (4)
tùy theo đoạn thơ, khổ thơ mà thực hiện. Riêng câu (4) học sinh khá, giỏi thường
dùng để mở rộng ý.
Ví dụ : Phân tích khổ thơ:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
(Thanh Hải – Mùa xuân nho nhỏ)
Viết đoạn:
(1) Từ cảm nhận về mùa xuân của thiên nhiên, đất nước, nhà thơ đã có ước
nguyện:
(2) “Ta làm con chim hót
................................
Một nốt trầm xao xuyến”
(3) Nhà thơ muốn làm con chim hót để làm vui cho cuộc đời, muốn làm một
cành hoa để khoe sắc và tỏa ngát hương thơm làm đẹp cuộc đời, muốn làm một
nốt trầm trong bản hòa ca đẻ làm tăng ý nghĩa cuộc đời. (4) Nhà thơ đã dùng
những hình ảnh đẹp của tự nhiên như bông hoa, con chim để nói lên ước nguyện
của mình. Những hình ảnh ấy được lặp lại, trở lại mang một ý nghĩa mới: niềm
mong muốn được sống có ích, cống hiến có ích cho đời. Cũng trong thời gian này,
nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài “Một khúc xuân” những suy ngẫm tương tự:
“Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
+ Hoặc rút ra ý nghĩa giáo dục.
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Nói với con” của Y Phương.
Bằng từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi cảm, nhà thơ thể hiện tình cảm gia đình
đầm ấm, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân
tộc mình. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân
tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó truyền thống, với quê hương và ý chí vươn
lên trong cuộc sống.
Có nhiều cách, nhiều kiểu kết bài ( kết bài bằng cách tóm lược, kết bài bằng
cách bình luận, mở rộng và nâng cao...). Dù theo cách nào thì kết bài cũng nhằm
khắc sâu kết luận của người viết để lại ấn tượng cho người đọc và nhấn mạnh ý
nghĩa của vấn đề đã được nghị luận. Song số đông học sinh còn rất lúng túng ở
phần kết bài, có thể do áp lực thời gian, tâm lí hoặc không biết cách làm. Trong
trường hợp này giáo viên lưu ý cho học sinh, khi hết giờ làm bài có thể trình bày
ngắn gọn về cảm nhận của mình về đoạn thơ, bài thơ cũng được.
Ví dụ:
- Thơ ca Việt Nam có những câu thơ, bài thơ hay viết về mùa thu. Đến lượt
mình, Hữu Thỉnh lại làm cho mùa thu có một hương sắc mới.
Như vậy, để viết được một bài văn nghị luận về bài thơ, đoạn thơ hay, ngoài
việc nắm vững đặc trưng thể loại của thơ và có khả năng cảm thụ tốt về tác phẩm
thơ thì việc rèn luyện các lĩ năng phân tích đè, lập ý, lập dàn ý và kĩ năng xây
dựng đoạn, liên kết đoạn là vô cùng quan trọng.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Nhờ có sự đổi mới trong phương pháp dạy và học nên chất lượng bài viết
nghị luận về tác phẩm văn học nói chung và nghị luận về bài thơ, đoạn thơ nói
riêng của học sinh được nâng cao rõ rệt. Đa số bài làm của các em đều đáp ứng
được yêu cầu về nội dung, thể loại. học sinh nắm vững hơn về phương pháp làm
văn nghị luận về tác phẩm văn học; biết xây dựng luận điểm, trình bày các luận
18
SL
%
9A
39
09
23,07 18
46,16
10
25,65
2
5,12
9B
40
10
25,0
0
Tuy nhiên, đó chỉ là kinh nghiệm mang tính chất chủ quan, có thể đã được
nhiều đồng nghiệp thử nghiệm trong quá trình giảng dạy. Rất mong sự đóng góp ý
kiến, trao đổi, bổ sung của các bạn đồng nghiệp.
* Kiến nghị
- Với tính hiệu quả của cách dạy học trên, tôi rất mong muốn chỉ đạo
chuyên môn các cấp nghiên cứu đưa vào sử dụng để việc dạy học văn nghị luận về
bài thơ, đoạn thơ trong chương trình ngữ văn 9 đạt kết quả tốt nhất.
- Các thầy giáo, cô giáo cần nắm vững các nguyên tắc dạy học văn và kết
hợp các phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm của mỗi thể loại, chú trọng
đến việc rèn luyện kĩ năng làm bài Tập làm văn, tăng cường thực hành cho học sinh.
19
- Các cấp quản lí giáo dục tổ chức các chuyên đề cho giáo viên bộ môn Ngữ
văn trong các năm học để giáo viên có cơ hội được học tập, trao đổi kinh nghiệm,
bàn luận tìm ra phương pháp dạy học hiệu quả, góp phần tích cực vào việc nâng
cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn.
- Thời gian nghiên cứu chưa nhiều, bài viết không tránh khỏi sai sót nên tôi
rất mong có sự nhận xét, đóng góp của đồng nghiệp để đề tài của tôi có chất lượng
hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Tân Sơn, ngày 20 tháng 05 năm 2020
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết
Lê Thị Vân Anh