SKKN kinh nghiệm rèn luyện kĩ năng làm dạng đề nghị luận xã hội cho học sinh giỏi người dân tộc thiểu số - Pdf 32

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT SỐ I BÁT XÁT
------------------------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM DẠNG ĐỀ
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI NGƯỜI
DÂN TỘC THIỂU SỐ

Họ và tên: Đinh Thị Minh Hương
Chức vụ: giáo viên
Tổ chuyên môn: Ngữ văn-Lịch sử-GDCD
Đơn vị công tác: Trường THPT số 1 Bát Xát

Bát Xát, tháng 5 năm 2014
MỤC LỤC
1


STT

NỘI DUNG

TRANG

1

MỤC LỤC

1


7

IV/ Thiết kế bài dạy

12

8

V/ Hiệu quả của SKKN

16

9

KẾT LUẬN

17

10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

18

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn nói
riêng cho các kỳ thi tuyển học sinh giỏi là vấn đề luôn được các cấp quản lý, các
giáo viên trực tiếp giảng dạy quan tâm, trăn trở. Đây là công việc hàng năm, khó
khăn thường nhiều hơn thuận lợi nhưng rất có ý nghĩa đối với các trường. Kết quả
thi học sinh giỏi số lượng và chất lượng học sinh giỏi là một trong các tiêu chí

3


NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, đầy những
khó khăn, bởi vì học sinh giỏi là những học sinh có tố chất đặc biệt khả năng cảm
thụ, khả năng tư duy và nhất là khả năng viết. Người giáo viên phải có quá trình
tích lũy kinh nghiệm, sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn để có thể đạt hiệu quả và
thuyết phục học sinh, làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng.
Học sinh giỏi môn ngữ văn trước hết phải là những học sinh có niềm
say mê, yêu thích văn chương. Sự say mê ấy phải được biểu hiện thường
xuyên, liên tục và bằng ý thức tự giác trong học tập, như soạn bài cẩn
thận chu đáo, luôn chủ động tiếp thu kiến thức trong giờ học, đặc biệt
phải thể hiện rõ ý thức trách nhiệm trong các bài làm văn theo quy định
của chương trình và những bài luyện tập, thực hành rèn luyện kỹ năng mà
giáo viên hướng dẫn. Sự say mê sẽ giúp các em chịu khó tìm tài liệu để
mở mang kiến thức, phát huy được trí tưởng tượng, sự liên tưởng để sống
sâu sắc hơn với những cái mình đã đọc, đã học.
Học sinh giỏi môn ngữ văn là những học sinh có khả năng cảm thụ
tinh tế, nhạy trước mọi vấn đề của cuộc sống. Thường thì đây là những
học sinh sống tình cảm, thích gần gũi với thầy cô, bạn bè và với mọi
người, hay bộc lộ quan điểm tình cảm và chiều sâu nội tâm của mình
thông qua cách phát biểu trực tiếp hoặc gián tiếp trong các bài viết.
HSG văn là những học sinh có vốn từ tiếng Việt khá dồi dào, nắm chắc
các kỹ năng làm bài nghị luận.
Văn nghị luận: là loại văn bản được tạo lập nhằm mục đích thuyết
phục người đọc người đọc, người nghe về những ý kiến, quan điểm của
người nói, người viết trước một vấn đề đặt ra.

riêng của cá nhân trước một vấn đề; nắm vững các thao tác lập luận; thấy
được vai trò và những yêu cầu của luận điểm trong bài văn.
Thường những em là học sinh giỏi môn ngữ văn đều có khả năng diễn
đạt trong sáng, hàm súc, giàu cảm xúc, và có dấu ấn riêng; diễn đạt lưu
loát. Bởi lẽ, ngôn ngữ vừa là công cụ, vừa là sản phẩm của tư duy.
Học sinh giỏi môn ngữ văn còn phải có vốn tri thức phong phú và hệ
thống; phải có sự hiểu biết càng nhiều càng tốt về con người và xã hội.
Bởi vậy, khi bồi dưỡng học sinh giỏi dạng đề nghị luận xã hội cho học sinh cần
chú trọng rèn luyện kĩ năng cho học sinh.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

1. Thuận lợi:
Bản thân tôi dành nhiều thời gian tìm tòi, tham khảo nhiều tài liệu, suy ngẫm
và chắt lọc về chuyên môn, giúp ích cho việc dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.
Đam mê tích lũy được một số đề thi học sinh giỏi trong tỉnh, các đề học sinh
giỏi ở các tỉnh khác ... để cập nhật thường xuyên.
Bộ môn ngữ văn là một bộ môn quan trọng, có một vị trí đặc biệt trong trường
phổ thông, ảnh hưởng đến việc xếp loại học lực của học sinh. Môn ngữ văn còn là
một bộ môn nghệ thuật, có sức hấp dẫn riêng nếu chúng ta biết khai thác để tạo
5


hứng thú cho học sinh.
Lãnh đạo nhà trường có sự quan tâm, động viên sâu sắc đúng mức đến công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi. Các thầy cô đồng nghiệp trong tổ, trong trường tích cực
ủng hộ.
Quý phụ huynh học sinh đồng tình và tạo điều kiện, khuyến khích con em theo
học bồi dưỡng. Một số học sinh có năng khiếu tích cực tham gia bồi dưỡng.
2. Khó khăn:
Quan niệm của xã hội nói chung về việc học bộ môn ngữ văn ảnh hưởng đến


sở khoa học. Vì vậy, việc tìm hiểu kết quả học tập của học sinh ở ở
những năm học trước qua điểm tổng kết môn học là rất quan trọng. Ngoài
ra, giáo viên phát hiện cần tham khảo thêm ý kiến giáo viên đã trực tiếp
giảng dạy học sinh năm học trước đó để nắm bắt những mặt mạnh, mặt
yếu của học sinh.
Khi chấm bài, thầy cô không chỉ chú trọng những bài chu đáo, khuôn
mẫu, đầy đủ... mà còn quan tâm đến những bài có thể có chỗ chưa sâu,
chưa đầy đủ, nhưng có sự độc đáo, sâu sắc… phải sửa kỹ, phê kĩ, thật sự
nghiêm khắc khi đánh giá chấm bài. Từ những bài kiểm tra còn thiếu sót,
giáo viên có định hướng bồi dưỡng cho các em ở những bài viết tiếp theo.
2. Lựa chọn hướng ra đề
Tôi luôn ý thức một cách sâu sắc rằng, việc ra đề là khâu quan trọng
đầu tiên của quá trình phát hiện, đánh giá và lựa chọn học sinh giỏi. Đề
đúng và hay sẽ kích thích hứng thú làm bài của học sinh, giúp người thầy
nắm được điểm mạnh, điểm yếu của mỗi học sinh. Từ đó có thể đánh giá
khách quan, chính xác, công bằng năng lực, sự cố gắng vươn lên của học
sinh. Ngược lại, đề thiếu chính xác, sáo mòn không những không đánh
giá được chính xác về năng lực học sinh, mà còn giảm thiểu tính độc lập
sáng tạo không gây được hứng thú học văn. Và hậu quả của nó là việc rèn
kỹ năng sẽ trở nên vô nghĩa.
Theo dõi hướng ra đề thi học sinh giỏi các cấp trong những năm qua,
tôi nhận thấy, đề thi HSG có xu hướng mở, và chú ý đến hình thức nghị
luận xã hội. Khi ra đề để ôn luyện cho học sinh cần tăng cường các đề thi
gắn với thực tiễn đời sống (nghị luận xã hội). Có thể ra đề về những vấn
đề gần gũi với học sinh, thanh niên đó là những vấn đề về lý tưởng, đạo
đức, lối sống… những vấn đề mang tính thiết yếu, cập nhật của xã hội,
đất nước, như về việc học tập, về đọc sách, giải trí, về văn hóa, thiên
nhiên, môi trường v.v…
Từ nhận thức đó, trong quá trình ra đề rèn luyện kỹ năng cho học

thật suốt đêm còn hơn nghi ngờ nó suốt đời”, C. Mác thì thích câu châm ngôn:
“Hoài nghi tất cả”.
Anh/Chị hiểu thế nào về những ý tưởng trên
Đề 6 :
Từ vở kịch Hồn Trương Ba da làng thịt ?( Lưu Quang Vũ) , anh ( chị)
hãy nêu quan niệm thế nào là một cuộc sống có ý nghĩa ?
Đề 7 :
Anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận với chủ đề "Con đường phía
trước"
3. Rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận xã hội:
3.1. Kỹ năng tìm hiểu đề:
Tìm hiểu đề của bài văn nghị luận nhằm xác định yêu cầu cơ bản của
bài văn theo các phương diện: vấn đề trọng tâm ( nội dung) cần bàn luận,
thao tác lập luận chính cần sử dụng, phạm vi tư liệu cần huy động.
Thao tác này có ý nghĩa định hướng cho việc xử lý đề bài của học
8


sinh. Cần phải cho học sinh thấy rằng, không thể có bài làm tốt nếu xác
định sai yêu cầu, kiều dạng đề ra.
Có những dạng đề yêu cầu này được thể hiện ngay ở đề bài, nhưng
cũng có những đề bài không nêu yêu cầu cụ thể về vấn đề và thao tác
nghị luận (còn gọi là đề mở), đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ kĩ càng, gạch
chân những từ ngữ then chốt.
Sau khi đã nhận diện đúng yêu cầu đề, việc xác định thao tác nghị
luận chỉ cần củng cố và hệ thống lại. Điều cần lưu ý với học sinh là dù đề
thi học sinh giỏi có yêu cầu hay không, học sinh vẫn phải vận dụng nhiều
thao tác nghị luận khác nhau trong một bài làm (Phân tích, giải thích,
chứng minh, bình luận, so sánh…) và phải xác định thao tác nào là chính,
thao tác nào là hỗ trợ. Nắm chắc yêu cầu này, học sinh sẽ có cơ sở để xây

viết gì. Tác dụng của khâu này là giúp các em khi đọc đề bài có thể
nhanh chóng hình thành hệ thống luận điểm, đủ ý và mạch lạc; định
hướng kiến thức cho bài viết. Đây cũng là một trong những biểu hiện của
tính khoa học ở một bài văn học sinh giỏi.
Giáo viên cần chú trọng hướng dẫn học sinh cách lập dàn ý. Cụ thể
như:
a) Cách lập dàn ý bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
* Mở bài: Giới thiệu sự việc, hiện tượng; trích dẫn ( nếu đề nêu nhận định
hoặc đoạn tin )
* Thân bài:
- Giải thích hiện tượng (nếu cần thiết).
- Biểu hiện của hiện tượng.
- Nguyên nhân:
+ Khách quan:
+ Chủ quan :
- Hậu quả hoặc ý nghĩa.
- Bày tỏ ý kiến, thái độ ( phê phán, bác bỏ hoặc khẳng định, biểu dương).
- Biện pháp (khắc phục hoặc phát huy).
* Kết bài: Đánh giá lại vấn đề, rút ra bài học, liên hệ bản thân.
b) Cách lập dàn ý bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
* Mở bài: Giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần bàn luận; trích dẫn ( nếu đề đưa ý
kiến nhận định)
* Thân bài:
- Giải thích tư tưởng, đạo lí.
- Bình luận về tư tưởng, đạo lí:
+ Đánh giá, chứng minh: mặt đúng - mặt sai, tốt – xấu, ....
+ Khẳng định, ngợi ca hoặc phê phán.
+ Phương hướng, biện pháp phấn đấu.
* Kết bài: Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.


hợp lý, có kiến thức phong phú, suy đến cùng mới chỉ là điều kiện ban
đầu. Một bài viết tốt, học sinh phải biết trình bày những hiểu biết, những
rung động, suy nghĩ của mình một cách mạch lạc, sáng sủa, giàu cảm xúc
và có sức thuyết phục. Năng khiếu văn chương của học sinh được thể
hiện rõ nhất là ở đây.
Rèn kỹ năng viết văn cho học sinh, tôi thường tiến hành theo hình thức
nâng dần độ khó; đi từ nhỏ tới lơn; từ một ý đến nhiều ý và hoàn thiện.
Viết thành văn một đoạn văn được xác định rõ yêu cầu: viết đoạn văn
11


mở bài, viết đoạn văn kết bài, triển khai những luận điểm ở phần thân bài
thành các đoạn văn. Đối với đoạn văn mở bài học sinh cần giới thiệu vấn
đề nghị luận rõ ràng hấp dẫn, khuyến khich học sinh viết mở bài gián
tiếp. Những đoạn văn triển khai luận điểm cần chú ý đến các câu chuyển
đoạn, chuyển ý để tạo sự liên kết, lôgic cho bài văn.
Viết thành bài văn hoàn chỉnh ở nhà trên cơ sở dàn ý đã được giáo viên
chữa.Viết thành bài văn hoàn chỉnh trên lớp trong thời gian quy định.
Yêu cầu trước hết đối với học sinh là phải diễn dạt lưu loát rõ ý; chữ viết
sạch sẽ, dễ đọc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu. Từ đó nâng
dần yêu cầu học sinh phải viết được những đoạn văn hay, có cách dùng từ
chính xác, sáng tạo, mới lạ, có giọng văn riêng, thể hiện được dấu ấn,
phong cách của người viết.
Để đạt được những yêu cầu đó, học sinh phải tham khảo những bài văn
mẫu do giáo viên lựa chọn, định hướng; có thể học tập cách viết của các
bạn của mình (những đoạn, những ý mà giáo viên cho là đúng và hay).
Hình thức này rất có hiệu quả bởi đó là những đoạn văn, bài văn hay do
chính các em viết. Các em rất tự hào khi có được bài văn, đoạn văn hay
mà được thầy cô và bạn mình trân trọng, kích thích hứng thú học tập cho
các em.

B.TIẾN TRÌNH BÀI HỌC:
I. Ổn định lớp:
II. Tiến hành luyện đề:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ
HS

NỘI DUNG KIẾN THỨC
I. Đề bài:
Anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600
từ) trình bày suy nghĩ của mình về câu chuyện sau:

GV: Ra đề bài

Diễn giả Lê-ô- Bu-sca-gli-a lần nọ kể về một cuộc
thi mà ông làm giám khảo. Mục đích của cuộc thi là
tìm ra đứa trẻ biết quan tâm nhất. Người thắng
cuộc là một em bé bốn tuổi.Người hàng xóm của em
là một ông lão vừa mất vợ. Nhìn thấy ông khóc, cậu
bé lại gần rồi leo lên ngồi vào lòng ông. Cậu ngồi
rất lâu và chỉ ngồi như thế. Khi mẹ em bé hỏi em đã
trò chuyện những gì với ông ấy, cậu bé trả lời:
"Không có gì đâu ạ. Con chỉ để ông ấy khóc."
(Theo Phép màu nhiệm của đời - NXB Trẻ, 2005)
II. Gợi ý làm bài:

GV: Gợi ý HS làm bài câu 1

1. Phân tích đề:
- Vấn đề nghị luận:
Cần xác định rõ nội dung chính và ý nghĩa giáo dục

GV: H/dẫn HS cách MB.
tình huống ấy.
-Giới thiệu vấn đề được đưa ra bàn bạc qua câu
chuyện: để quan tâm, sẻ chia với mọi người cần niềm
cảm thông sâu sắc. Và sự quan tâm chân thành làm
cho con người và cuộc sống tươi đẹp, giàu ý nghĩa
hơn.
* Thân bài:
a) Giải thích nội dung, bài học giáo dục trong
chuyện:
H: TB cần trình bày những
luận điểm nào?

- Cậu bé là người biết quan tâm tới người khác nhất
bởi vì cậu đã dùng cả tấm lòngđồng cảm chân thành
để sẻ chia nỗi đau mất mát với ông cụ.
- Sự quan tâm: là đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của
người khác để thấu hiểu họ một cách chân thành tự
14


( Chú ý các luận điểm xoay quanh
những câu hỏi như: sự quan tâm là

đáy lòng. Đó là sự sẻ chia có ý nghĩa và đáng trân
trọng nhất.
b) Bàn luận về câu chuyện:

- Cuộc sống hiện đại càng cần tới sự quan tâm, sẻ
chia chân thành bởi vì trong cuộc sống đôi khi con

sống.
- Rút ra bài học.

GV: yêu cầu học sinh viết
đoạn văn triển khai:

III. Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn:

- Đoạn mở bài.

Trong cuộc sống, sự quan tâm chân thành có ý
nghĩa rất quan trọng. Bài học vô cùng quý giá mà ta
học được từ những điều hết sức bất ngờ. Những em
bé đôi khi cũng có những việc làm mà mọi người
phải suy ngẫm. Thấu hiểu và chia sẻ với nỗi đau của

- Đoạn kết bài
- Một trong những luận điểm
của phần thân bài

Đoạn văn kết bài tham khảo:

15


HS: Hoạt động độc lập, trình
bày đoạn văn.
GV: nhận xét, đọc đoạn văn
tham khảo.


đạt 02 giải cấp tỉnh
2013-2014 Cụ thể: 1 giải ba (HS là người dân tộc Dao)
và 1 giải khuyến khích.
So với những giáo viên dạy học ở các trường trong tỉnh, kết quả như trên thật
khiêm tốn. Song, đây cũng là thành công bước đầu của cá nhân tôi trong quá trình
bồi dưỡng đề nghị luận xã hội cho học sinh giỏi (trong đó có học sinh là người dân
tộc thiểu số). Với những kinh nghiệm trên, tôi nhận thấy học sinh rất hào hứng và
yêu thích bộ môn hơn trong quá trình bồi dưỡng.

17


KẾT LUẬN
Dạy học là một nghệ thuật. Người giáo viên khi đã chọn nghề dạy học là phải
có tâm yêu nghề, đặc biệt là mục tiêu hướng tới và là niềm hạnh phúc nhất trong
cuộc đời của người thầy là đào tạo bồi dưỡng được thật nhiều học trò giỏi. Tuy
nhiên để có được kết quả thành công tốt đẹp thì mỗi người giáo viên chúng ta phải
luôn tìm tòi, sáng tạo, trăn trở và nổ lực không ngừng với nhiều cách thức và
phương pháp tối ưu nhất để giảng dạy, bồi dưỡng cho các em.
Thực tế giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi trong mấy năm qua
giúp tôi nhận ra rằng, "thiên bẩm" hết sức quan trọng. Song trên thực tế,
không có một tài năng thiên bẩm nào tự nó có thể đi đến thành công, nhất
là đối với những em học sinh là người dân tộc thiểu số thiếu thốn về
nhiều mặt. Bởi thế, vai trò người thầy là hết sức quan trọng. Phương pháp
giảng dạy thì phong phú, kiến thức thì mênh mông rộng lớn vô cùng, nhất là kiến
thức gắn với yêu cầu đề thi của học sinh giỏi. Trong giới hạn của chuyên đề này,
người viết chỉ khiêm tốn đưa ra một vài suy nghĩ về kinh nghiệm rèn kĩ năng dạng
đề nghị luận xã hội cho học sinh giỏi người dân tộc thiểu số có hiệu quả. Đó là
những điều mà người viết suy tư, cọ xát và trải nghiệm qua thực tế giảng dạy. Vì
vậy, muốn có học sinh giỏi, trước hết người thầy phải luôn có ý thức tích

Những bài văn đạt giải quốc gia, NXB Giáo dục.
Các dạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội môn Ngữ văn
10,11,12
NXB Giáo dục, năm 2010.
Tham khảo một số đề thi học sinh giỏi trong tỉnh, ngoài tỉnh.
Tham khảo các tư liệu trên mạng Internet.

19


20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status