SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT VĨNH LỘC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH YẾU, KÉM
LỚP 12 BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: Nguyễn Ngọc Anh
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2019
Mục lục
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu....................................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu.............................. Error: Reference source not found
1.4. Phương pháp nghiên cứu........................ Error: Reference source not found
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm…………………………………2
2. Nội dung……………………………………………………………………
Error: Reference source not found
2.1. Cơ sở lí luận………………………………………………………………
Error: Reference source not found
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.........Error: Reference source not found
2.2.1. Thuận lợi................................................Error: Reference source not found
2.2.2. Khó khăn............................................... Error: Reference source not found
đồng thời đòi hỏi ở người học khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo. Dạng
bài này khiến người viết phát huy năng lực bản thân từ tư duy, suy nghĩ, huy
động vốn hiểu biết đến năng lực trình bày một vấn đề xã hội nào đó sao cho giàu
sức thuyết phục. Chúng ta biết rằng nếu thiếu năng lực thuyết phục thì khó thành
đạt trong cuộc sống. Đây là thực tế cũng là yêu cầu khá cao, các em học sinh
vừa thích thú song cũng gặp không ít khó khăn khi giải quyết những đề bài,
những vấn đề của cuộc sống xã hội cụ thể.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Khi tiến hành đề tài tôi đã dựa trên tình hình giảng dạy và học tập thực tế
của giáo viên và học sinh trong các. Từ đó, đưa ra những cách thức, phương
pháp tập huấn, bồi dưỡng cho phù hợp với đối tượng học sinh và với mục đích
giáo dục.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này nhằm nghiên cứu về Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị
luận xã hội cho học sinh yếu, kém lớp 12
Để thử nghiệm đề tài tôi chọn đối tượng học sinh yếu Trường THPT Vĩnh
Lộc, Năm học 2018-2019
1.4. Phương pháp nghiên cứu
+ Về lí thuyết
- Nghiên cứu tài liệu
- Nắm vững cấu trúc đoạn văn
- Nắm vững mục tiêu, phương pháp, cách thức tổ chức thực hiện
+ Về thực tiễn
- Xác định đối tượng học sinh áp dụng đề tài (Học sinh học sinh yếu về cách viết
đoạn văn nghị luận xã hội lớp 12)
- Kiểm tra sự tiếp thu của học sinh trong quá trình thực nghiệm
- Đánh giá, đưa ra sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp
1
những vấn đề có tính hai mặt của đời sống xã hội đang tác động trực tiếp đến thế
hệ trẻ.
Từ năm học 2008 – 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức đưa vào đề
thi môn văn kì thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh vào các trường Cao đẳng,
Đại học một câu nghị luận xã hội, chiếm tỉ lệ 30% trong tổng số đề ra. Những
vấn đề nghị luận xã hội được đưa ra cho học sinh bàn bạc từ đó đến nay đều rất
phong phú, đa dạng; đề cập đến tất cả các phương diện của đời sống. Vừa
có dạng đề về tư tưởng đạo lí lại vừa có dạng đề về các hiện tượng đời sống. Thế
nhưng thời lượng chương trình dành cho việc giảng dạy và rèn luyện kĩ năng
làm bài nghị luận xã hội trong phân phối chương trình THPT theo qui định của
Bộ Giáo dục là quá ít ỏi, ở lớp 12 cả Ban cơ bản và Ban Khoa học Xã hội nhân
văn đều chỉ có 2 tiết lí thuyết về cách làm bài nghị luận xã hội: một cho dạng bài
nghị luận về một tư tưởng đạo lí, một cho dạng bài nghị luận về một hiện tượng
đời sống. Cả năm học 12 các em chỉ có hai bài viết rèn luyện nghị luận xã hội,
còn lại thì tập trung vào nghị luận văn học. Thực tế đó khiến học sinh không có
điều kiện để rèn luyện nghị luận xã hội một cách thường xuyên dẫn tới kết quả
đạt được không cao.
Học sinh THPT đều ở độ tuổi mới lớn, chưa có điều kiện tiếp xúc nhiều với
thực tế đời sống đa sắc, đa chiều, vốn kiến thức xã hội còn ít ỏi. Nhiều em cách
nhìn nhận vấn đề còn ấu trĩ, thậm chí lệch lạc do đó để hiểu đúng, hiểu sâu
bản chất và bàn luận thấu đáo một vấn đề xã hội là điều không đơn giản đối với
các em.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Thuận lợi
Từ khi đổi mới chương trình thay sách SGK (2006 -2007), SGK từ THCS
đến THPT được chuyển tiếp liền mạch thống nhất trong hệ thống kiến thức môn
học. Được chỉ đạo thống nhất của BGD&ĐT, Sở GD thường xuyên tổ chức các
lớp tập huấn hàng năm cho giáo viên với mục đích giúp cho giáo viên nắm vững
tinh thần đổi mới của chương trình sách giáo khoa và dạy học tốt hơn.
3
2.2.3. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên
Đầu năm học 2018 – 2019, tôi dạy lớp 12C6, 12C7, 12C8 Trường THTP
Vĩnh Lộc., tôi tiến hành kiểm tra. Kết quả cho thấy, việc các em vận dụng kiến
thức xã hội để trình bày một vấn đề chưa tốt, số lượng bài điểm kém, yếu, điểm
trung còn nhiều, điểm khá và giỏi còn khiêm tốn.
Kết quả cụ thể như sau:
Lớp Sĩ số
Loại giỏi
Loại khá
Loại Tb
Loại yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12 C6 46
2
4,3
10
21,7
24
52,0
10
22,0
12 C7 47
3
sức quan trọng.
2.3.1. Giải pháp
2.3.1.1. Củng cố
* Khái niệm đoạn văn
– Hình thức: Đoạn văn là tập hợp của nhiều câu văn.Bắt đầu bằng chữ viết hoa
đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấm. Không được phép xuống dòng.
- Các câu được liên kết với nhau bằng phép nối, phép thế, phép lặp,…Có câu
mở, các câu triển khai và câu kết rõ ràng.
- Nội dung: Các câu đều tập trung thể hiện vấn đề nghị luận, hệ thống luận
điểm, luận cứ rõ ràng, chặt chẽ, có sức thuyết phục.
- Kết cấu: Thường được kết cấu theo cách tổng – phân – hợp, diễn dịch và quy
nạp.
* Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực: chính
trị,đạo đức,xã hội… làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng, sai, tốt,
xấu của vấn đề nêu ra. Từ đó đưa ra cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng
như vận dụng nó vào đời sống.
+ Nghị luận về một tư tưởng đạo lý
– Vấn đề nhận thức: lí tưởng, mục đích sống, nghề nghiệp, ước mơ…
– Vấn đề về đạo đức, tâm hồn, tính cách: lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha,
bao dung, độ lượng; tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa
nhã, khiêm tốn; thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi…
– Vấn đề về các quan hệ gia đình: tình mẫu tử, tình phụ tử, tình anh em…
– Vấn đề về các quan hệ xã hội: tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…
– Vấn đề về cách ứng xử, đối nhân xử thế của con người trong cuộc sống.
+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Đề tài nghị luận thường gần gũi với đời sống và sát hợp với trình độ nhận
thức của học sinh: tai nạn giao thông, hiện tượng môi trường bị ô nhiễm, đại
dịch AIDS, những tiêu cực trong thi cử, nạn bạo hành trong gia đình trong học
đường, phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận động giúp đỡ đồng bào
hoạn nạn, những tấm gương người tốt việc tốt, hiện tượng lãng phí, lối sống thờ
vấn đề phải trúng, vì thế khâu tìm hiểu đề hết sức quan trọng. Theo chúng tôi kỹ
năng cần thiết, rèn luyện đầu tiên là kĩ năng nhận diện phân tích đề.
2.3.1.3.1. Kỹ năng nhận diện phân tích đề, tìm ý.
Xác định được vấn đề nghị luận là thành công bước đầu đối với bài văn,
đoạn văn nói chung và đoạn văn nghị luận nói riêng. Song, cũng không phải học
sinh nào cũng có thể xác định được đặc biệt là đối với học sinh yếu lại càng khó
xác định được vấn đề nghị luận.
* Đọc kỹ đề và tìm hiểu
Theo như đề thi mẫu: Phần nghị luận xã hội chủ yếu được lấy từ bài đọc
hiểu( hoặc có thể không) và yêu cầu học sinh viết một đoạn văn nghị luận xã hội
khoảng 200 chữ.
Nếu đề nghị luận xã hội nằm trong phần đọc hiểu thì trước hết các em phải
tiến hành tìm hiểu các nội dung sau:
- Đọc kỹ bài đọc hiểu, nắm được nội dung cốt lõi của đoạn văn bản - Xác định
xem phần đọc hiểu bàn về vấn đề gì? – nhất là phải xác định được vấn đề đó
thuộc tư tưởng đạo lý hay hiện tượng đời sống.
- Xác định được các thao tác lập luận
- Xác định hệ thống dẫn chứng tiêu biểu.
- Xác định đoạn văn sẽ viết theo kiểu nào? Diễn dich, quy nạp, hay tổng- phânhợp… Giáo viên nên định hướng cho học sinh viết đoạn văn theo Tổng – Phân
– Hợp
Đọc đoạn đọc hiểu sau:
“Leo lên đỉnh núi không phải là để cắm cờ mà là để vượt qua thách thức
tận hưởng bầu không khí và ngắm nhìn quang cảnh rộng lớn xung quanh. Leo
lên đỉnh cao là để các em có thể nhình ngắm thế giới chứ không phải để thế giới
6
nhận ra các em. Hãy đến Paris để tận hưởng cảm giác đắm chìm trong Paris
chứ không phải lướt qua đó để ghi Paris vào danh sách các địa điểm các em đã
đi qua và tự hào mình là con người từng trải. Tập luyện những suy nghĩ độc lập,
+ Kết đoạn – khoảng 2 dòng (hoặc có khi gộp luôn vào chỗ bài học)
* Xây dựng phần mở đoạn
- Phần mở đoạn viết khoảng 1-3 câu, thể hiện cái nhìn tổng quát, khái quát được
nội dung vấn đề cần nghị luận mà đề bài yêu cầu.
- Nên viết theo hướng: nêu khái quát nội dung và dẫn câu nói vào (hoặc trích
cụm từ khóa)
Ví dụ theo đề trên ta viết như sau: “Thành công luôn là khát khao của mỗi
người trên hành trình chinh phục những ước mơ và khát vọng- nhưng khi lên
đến đỉnh của thành công , điều quan trọng nhất vẫn là để “ngắm nhìn thế giới”
chứ không phải để cho ai đó nhận ra mình.”
* Xây dựng phần thân đoạn
7
a. Đối với đề nghị luận về tư tưởng đạo lý
- Phải giải thích được cụm từ khóa, giải thích được cả câu (cần ngắn gọn, đơn
giản)
- Bàn luận;
+ Đặt ra các câu hỏi : Vì sao lại khẳng định như vậy?, Có ý nghĩa như thế nào?,
+ Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến.
+ Dẫn chứng xác thực, phù hợp.
+ Đưa ra phản đề, phê phán mặt trái của ý kiến.
b. Đối với đề nghị luận về hiện tượng đời sống:
- Giải thích, phân tích, chứng minh biểu hiện, nguyên nhân và hậu quả
của sự việc hiện tượng .( Trình bày ngắn gọn, cô đọng)
- Bình luận, đánh giá về hiện tượng: nêu thái độ đối với hiện tượng. Đánh giá
hiện tượng tốt, xấu, lợi, hại như thế nào? Phương hướng, hành động….
* Xây dựng phần kết đoạn
- Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận
- Có thể trình bày bài học nhận thức hành động, liên hệ bản thân ở phần kết
có ý thức tạo hứng thú viết bài cho các em. Điều đó phải được thể hiện từ cách
thức ra đề, cách chấm chữa bài đều tác động không nhỏ đến hiệu quả làm bài
của các em. Nuôi dưỡng cho các em mong muốn, khát vọng muốn được thể hiện
mình qua từng bài viết đó là điều vô cùng quan trọng và có ý nghĩa.
2.3.2. Tổ chức thực hiện
2.3.3.1. Vận dụng hướng dẫn một số đề bài cụ thể
Đề số 1:
Đọc đoạn trích sau:
“ 2.10.1971
Nhiều lúc mình không ngờ nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ
là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự
nhiên quá, bình thản quá và cũng đột ngột quá. Thế là thế nào? Cách đây ít lâu
mình còn là sinh viên. Bây giờ thì xa vời lắm rồi những ngày cắp sách lên giảng
đường, nghe thầy Đường, thầy Đạo…Không biết bao giờ mình sẽ trở lại những
ngày như thế! Hay chẳng bao giờ nữa.! Có thể lắm. Mình đã lớn rồi. Học bao
lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu? Chỉ còm cõi vì trang sach,
gầy xác đi vì mộng mị hão huyền. 28 ngày trong quân ngũ, mình hiểu được
nhiều điều có ích. Sống được nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có
dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng mình. Mình đã bắt đầu sống có trách nhiệm
từ đâu, từ lúc nào?
Có lẽ từ 9.3.1971, tháng 3 của hoa nhãn ban trưa, của hoa sấu, hoa bằng lăng
nước.
... Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn: kia
là ngôi sao Hôm yêu dấu…nhưng khác hơn một chút. Bây giờ ta đọc trong ngôi
sao ấy, ánh lửa cầu vồng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu…Ta như
thấy trong màu kỳ diệu ấy có cả hồng cầu của trái tim ta.”
(Trích Mãi mãi tuổi hai mươi, nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn
Thạc)
Câu nghị luận xã hội là: Viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ)
tạc, âm mưu và hành động thù địch chống phá Đảng và Nhà nước.
+ Phê phán những hành vi ích kỷ , cá nhân, thiếu trách nhiệm với Tổ Quốc.
*Bước 4: Xây dựng kết đoạn
- Liên hệ bản thân, bài học nhận thức hành động: Tuổi trẻ xây dựng lý tưởng
sống…, ý thức sâu sắc trách nhiệm với Tổ Quốc.
*Bước 5: Viết đoạn văn
- Khi viết đoạn văn nghị luận phải đáp ứng được cả yêu cầu về hình thức và nội
dung:
+ Về hình thức : Đoạn văn phải được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa lùi dòng cho
đến dấu chấm kết thúc. Dung lượng đoạn văn khoảng 200 chữ - không thừa quá
nhiều so với yêu cầu đề bài.
+Về nội dung : Đoạn văn phải đáp ứng được các nội dung đã trình bày ở các
bước như trên theo hướng dẫn.
Đề số 2:
Đọc đoạn văn bản về nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị đánh hội đồng: “Một nữ
sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn trong lớp dồn vào góc tường và đánh túi bụi,
nhiều học sinh khác trong đó có cả học sinh nam đã lấy ghế nhựa đập vào đầu
cô bé. Thế nhưng không một ai can ngăn dù nạn nhân khóc thét van xin…”
(Theo Quỳnh Trân- Tri thức trẻ, ngày 10-3-2015)
Câu nghị luận xã hội: Viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ)
thể hiện quan điểm “Nói không với bạo lực học đường”
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài theo các bước sau:
*Bước 1 : Đọc kỹ đề và tìm hiểu
- Đọc kỹ đoạn văn bản ở phần Đọc hiểu – xác định vấn đề nghị luận là: “Nói
không với bạo lực học đường”
- Nghị luận về hiện tượng đời sống.
- Xác định thao tác lập luận : giải thích, phân tích, bình luận…
- Tìm hệ thống dẫn chứng :
- Xác định đoạn văn viết theo Tổng – Phân – Hợp
* Bước 2 : Xây dựng phần mở đoạn
+ Về hình thức: Đoạn văn phải được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa lùi đầu dòng
cho đến dấu chấm kết thúc. Dung lượng đoạn văn khoản 200 chữ - không thừa
quá nhiều so với yêu cầu đề bài.
+Về nội dung : Đoạn văn phải đáp ứng được các nội dung đã trình bày ở các
bước như trên đã hướng dẫn.
Đề số 3:
Đọc mẩu chuyện sau:
“Có một con kiến đang tha chiếc lá trên lưng. Chiếc lá lớn hơn con kiến
gấp nhiều lần. Đang bò, kiến gặp phải một vết nứt trên nền xi măng. Nó dừng
lại trong giây lát, đặt chiếc lá ngang vết nứt, rồi vượt qua bằng cách bò lên trên
chiếc lá. Đến bờ bên kia con kiến lại tiếp tục tha chiếc lá và tiếp tục cuộc hành
trình”.
Câu nghị luận xã hội: Viết đoạn văn ( khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ
của anh/ chị về ý nghĩa của câu chuyện trên.
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu qua các bước:
*Bước 1: Đọc kỹ đề và tìm hiểu
- Đọc kỹ câu chuyện ở phần Đọc hiểu, nắm được nội dung câu chuyện – Xác
định vấn đề cần nghị luận: Cuộc sống nhiều khó khăn thử thách đòi hỏi mỗi
người phải có ý chí, nghị lực, sự dũng cảm, niềm tin để vượt qua.
11
- Xác định thao tác lập luận : giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận.
- Tìm các dẫn chứng tiêu biểu.
- Xác định loại đoạn văn :Tổng- Phân – Hợp
* Bước 2: Xây dựng phần mở đoạn
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận trong câu chuyện: Cuộc sống nhiều khó khăn
thử thách đòi hỏi mỗi người phải có ý chí, nghị lực, sự dũng cảm, niềm tin để
vượt qua. Câu chuyện đã nêu lên bài học sâu sắc về cách sống, cách ứng phó của
con người trước khó khăn thử thách.
thấy được hiệu quả khả quan của đề tài:
2.4.1. Sau khi vận dụng đề tài vào dạy - học
2.4.1.1. Đối với giờ học
Với cách làm này tôi nhận thấy qua bài học:
- Đảm bảo kết quả cần đạt của bài học. Đảm bảo được sự tương tác giữa
giáo viên và học sinh, học sinh và giáo viên, học sinh và học sinh.
12
- Giờ học sôi nổi, mới lạ, lôi cuốn được sự chú ý theo dõi tiếp nhận kiến
thức của học sinh yếu trong lớp.
- Đa số học sinh hiểu bài, nắm vững kiến thức và các kỹ năng làm bài.
2.4.1.2.Đối với học sinh
Từ sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh rất hào hứng, nhiệt tình tham gia phát
biểu ý kiến, tranh luận về các vấn đề đặt ra trong đoạn văn, đồng thời nắm một
cách chắc chắn về kiến thức, kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội của các em
học yếu.
2.4.1.3. Đối với bản thân và đồng nghiệp
Nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài trong việc rèn luyện, phụ đạo
học sinh yếu từ phát triển kỹ năng đến hoàn thiện kiến thức. Chúng tôi viết sáng
kiến kinh nghiệm này mong được bày tỏ một số suy nghĩ để trao đổi cùng đồng
nghiệp. Điều tôi muốn khẳng định trong việc dạy văn nói chung, rèn luyện kỹ
năng làm văn cho học sinh nói riêng người thầy luôn luôn phải ý thức khơi dậy
và nhen lên ở các em học sinh tình yêu, trách nhiệm đối với môn học.
2.4.2. Kết quả khảo sát qua đề kiểm tra
Để kiểm nghiệm chính xác hơn, chúng tôi đã kiểm tra bằng một đề cụ thể
áp dụng cho các đối tượng
2.4.2.1. Đề kiểm tra
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
“Ngày 13.12.2016, với lòng dũng cảm, trách nhiệm và tình người sâu
Hướng dẫn chấm
NLXH Từ văn bản đọc hiểu, anh(chị) hãy viết một đoạn văn ngắn
2.0
(khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Trình bày suy nghĩ của anh/chị
về sức mạnh của lòng dũng cảm.
* Yêu cầu về kỹ năng: Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận
0.25
200 từ, xác định đúng vấn đề cần nghị luận; triển khai vấn đề
nghị luận thành đoạn văn; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết
hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; khuyến khích sáng tạo;
đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
* Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều
cách song cần đảm bảo một số ý chính sau:
– Giải thích
0,25
Giải thích được : Dũng cảm là không sợ nguy hiểm, khó khăn.
Người có lòng dũng cảm là người không run sợ, không hèn
nhát, dám đứng lên đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, các thế
lực tàn bạo để bảo vệ công lí, chính nghĩa.
– Bàn luận
0,5
+ Dũng cảm là phẩm chất tốt đẹp của con người ở mọi thời
đại(dẫn chứng thực tế từ câu chuyện trên và mở rộng dẫn
chứng)
+ Trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc
Việt Nam ( h/s lấy dẫn chứng)
+ Ngày nay: trên mặt trận lao động sản xuất, đấu tranh phòng
chống tội phạm ( h/s nêu một vài tấm gương tiêu biểu của chiến
sĩ cảnh sát, bộ đội…)
+ Trong cuộc sống hàng ngày: cứu người bị hại, gặp nạn( các cô
%
SL
%
SL
%
SL
%
12 C6 46
2
4,3
10
21,7
24
52,2
10
22,0
12 C7 47
3
6,4
12
25,5
24
51,0
10
21,3
12 C8 38
1
3,0
8
21,1
14
29,8
27
57,4
2
4,3
12 C8 38
2
5,3
10
26,2
24
63,2
2
5,3
Như vậy, từ bảng so sánh kết quả bài làm của học sinh hai lớp trước và sau
khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm để viết đoạn văn nghị luận xã hội, chúng tôi
thấy học sinh đã biết cách viết đoạn văn nghị luận xã hội. Các em đã có những
kỹ năng cần thiết để làm câu nghị luận xã hội viết một đoạn văn, cùng với những
kiến thức đọc hiểu và nghị luận văn học có thể làm tốt các bài thi.
15
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Qua nhiều năm làm giảng dạy và đặc biệt là công tác phụ đạo học sinh
yếu, bản thân tôi nhận thấy vai trò của người thầy trong việc định hướng, hướng
dẫn các em ở phân môn làm văn nói chung và ở kiểu bài nghị luận xã hội nói
riêng. Muốn bài viết đạt được cái đích: đúng, hay, sáng tạo người dạy phải định
16
17
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Đức Hùng, Viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 từ. NXB Đại học quốc
gia HN, 2017.
2. Nguyễn Quang Ninh, 150 bài tập rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn văn. NXB
Giáo dục Việt Nam, 1997.
3. Nguyễn Phước Bảo Khôi (chủ biên), Bí quyết viết đoạn văn nghị luận xã hội
theo hướng đề thi mới. NXB Đại học sư phạm TPHCM, 2017.
4. Thiều Thị Huệ. Ôn thi trung học phổ thông quốc gia môn Ngữ văn. NXB
Giáo dục Việt Nam, 2017.
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH
VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường THPT Vĩnh Lộc
TT Tên đề tài SKKN
1
2
3
4
Cấp đánh