skkn rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9 - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội ở lớp 9.
2. Lĩnh vực áp dụng: Môn Ngữ văn
3. Tác giả
Nguyễn Thị Kim Vị

Nam (nữ): nữ

Ngày tháng/ năm sinh: 21/ 04/ 1977.
Chức vụ, đơn vị công tác, điện thoại: Giáo viên trường THCS Văn Đức- Chí
Linh- Hải Dương.
4. Chủ đầu tư sáng tạo ra sáng kiến:
Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Vị
Tên đơn vị: Trường THCS Văn Đức
Địa chỉ: Khê Khẩu- Văn Đức- Chí Linh- Hải Dương.
Điện thoại: 03203930489.
5. Các điều kiện để áp dụng sáng kiến
Giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học ngay từ đầu năm học và triển khai thực
hiện, kiểm tra đánh giá mức độ nhận biết nắm được bài của học sinh. Mặt khác
giáo viên có chuyên môn vững vàng, có lòng nhiệt tình, tận tâm với nghề nghiệp,
có khả năng sư phạm để từ đó cuốn hút, thuyết phục học sinh học văn.
Học sinh có ý thức học tập tốt, có ý chí vươn lên học hỏi một cách chủ động tự
giác, các em tự có ý thức đào sâu, bổ trợ kiến thức cho riêng mình. Tích cực thực
hiện yêu cầu của giáo viên, ham học hỏi tìm tòi, đọc tài liệu tham khảo, có ý thức
quan sát vấn đề trong cuộc sống.
Nhà trường có đủ cơ sở vật chất, có sự quan tâm chỉ đạo của ban giám hiệu,
tổ chuyên môn và nhóm chuyên môn. Phụ huynh có ý thức quan tâm đến việc học
tập của con em mình.
6. Thời gian áp dụng kinh nghiệm tại nhà trường lần đầu tháng 9 năm 2014.
HỌ TÊN TÁC GIẢ


quanh, có lí lẽ, nhận xét đánh giá trình bày quan điểm lập trường của mình.
Phải có sự phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh, phụ huynh đôn đốc,
động viên, tạo điều kiện về vật chất và thời gian để học sinh học tập tốt nhất.
Nhà trường cần tổ chức các cuộc thảo luận giữa nhóm chuyên môn,đầu tư
trang thiết bị: máy chiếu, kết nối mạng internet và mua sách tài liệu thao khảo.
3. Nội dung sáng kiến:
2


Trong sáng kiến của mình tôi đã chỉ ra được thực trạng, nguyên nhân dẫn đến
thực trạng và tìm giải pháp tháo gỡ. Cụ thể tôi đã đề xuất 4 giải pháp.
3.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:
Trong sáng kiến này tôi đã lựa chọn nội dung sáng kiến là “Rèn luyện kĩ năng
làm bài văn nghị luận xã hội lớp 9” đây là vấn đề mà ít các thầy cô đưa ra và quan
tâm đúng mức, giải pháp tôi đưa ra trong sáng kiến có tính mới giúp học sinh dễ
nhận biết dễ hiểu dễ nắm được quy cách làm kiểu dạng bài nghị luận xã hội. Vì
thực tế phần lí thuyết ở trong sách giáo khoa còn chung chung, tôi đã hướng dẫn
học sinh cách làm bài nghị luận rõ ràng hơn, cụ thể hơn rất nhiều.
3.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
Khả năng áp dụng và triển khai rộng rãi ở tất cả các nhà trường THCS, đối
tượng lớp 9, có thể áp dụng cả cho lớp 7,8 (khi ôn đội tuyển học sinh giỏi)
Cách thức áp dụng: trong mỗi biện pháp tôi đã trình bày rất rõ ràng cụ thể: nghị
luận xã hội là gì, các dạng và, yêu cầu, các bước làm bài văn nghị luận xã hội
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến.
Học sinh đã hiểu và nắm được cách làm một bài nghị luận xã hội, biết trình
bày quan điểm thái độ của mình về một vấn đề xã hội bằng hình thức bình và bàn
luận mở rộng. Nêu được bài học cho bản thân. Biết cách tìm hiểu đề, lập dàn ý,
viết bài văn nghị luận. Rèn luyện kĩ năng quan sát, khả năng diễn đạt, khả năng
lập luận, rèn kĩ năng dựng đoạn, viết bài. Chủ động hứng thú, có ý thức chủ động
tìm tòi nghiên cứu tham khảo trên nhiều kênh thông tin khác nhau

Văn khối lớp 9 nhiều năm tôi trăn trở làm thế nào để rèn luyện được kĩ năng cho
học sinh giúp các em có kĩ năng làm tốt bài văn nghị luận. Cũng như làm thế nào
để các em nắm được các bước cơ bản của từng dạng bài nghị luận trong sách giáo
khoa Ngữ Văn- Tập 2- Lớp 9. Làm thế nào để các em hứng thú, thích học Văn,
say mê tìm tòi hứng thú trước một đề văn. Và cái đích cuối cùng đó là kết quả
phân môn Văn các em thi vào trường THPT các em đạt điểm số cao.
2. Cơ sở lí luận của vấn đề.

4


Ở chương trình tập làm văn lớp 9 các em tiếp cận với dạng nghị luận xã hội
và nghị luận văn học. Nghị luận văn học bao giờ cũng là nội dung và phương thức
biểu đạt (nghệ thuật) là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật,
sự kiện chủ đề… thì nghị luận xã hội là bộc lộ những quan điểm của mình trước
vấn đề xã hội. Mà vấn đề xã hội không giống vấn đề văn chương, Goethe đã từng
nói “Nếu coi văn chương là lí thuyết thì xã hội chính là cuộc đời. Mọi lí thuyết đều
màu xám chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”, ở đây màu xám ta hiểu theo một nét
nghĩa nào đó là cái chuẩn mực có đơn vị kiến thức cơ bản đã được cung cấp, còn
cây đời- cuộc đời xã hội thì muôn màu muôn vẻ, phong phú, đa dạng có rất nhiều
góc độ để soi chiếu. Văn nghị luận nói chung là dùng lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng
tỏ một vấn đề nào đó từ đó thuyết phục người đọc người nghe.
Làm văn nghị luận xã hội quả thật không dễ với đông đảo học sinh bởi kiểu
bài này không chỉ đòi hỏi kĩ năng lập luận mà còn là sự thể hiện vốn sống, ý thức
quan tâm đến xã hội, bản lĩnh tư duy độc lập và một thế giới tâm hồn phong phú
nhạy cảm chân thành. Nghị luận xã hội là loại hình văn bản quan trọng với học
sinh. Vì sau này khi các em học xong phổ thông thì có phải ai cũng đi vào con
đường văn chương đâu. Nhưng ai chẳng phải đối diện với những vấn đề xã hội.
Trong cuộc sống nhiều trường hợp ta buộc phải giải thích, bày tỏ quan điểm, thái
độ tư tưởng của mình trước một vấn đề nào đó và phải thuyết phục ai đó nghe theo

đề văn mà giáo viên giao cho.
Các em đã được tiếp xúc và học dạng văn nghị luận về một sự việc hiện
tượng xã hội và nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí từ lớp 7 nên các em đã biết và
hình dung cách làm kiểu bài này.
3.2. Khó khăn
3.2.1. Giáo viên dạy:
Giáo viên cũng không thích dạy các tiết tập làm văn bằng các tiết văn bản và
các tiết tiếng Việt nên ít thày cô chọn các tiết hội giảng, tiết chuyên đề ngoại khóa
về tập làm văn. Thậm chí ngay trong các kì thi giáo viên giỏi các cấp các thầy cô
cũng không muốn dạy tiết tập làm văn.
6


Giáo viên đã có ý thức ra bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh tuy
nhiên hệ thống bài tập chưa nhiều, đôi khi chưa cung cấp đầy đủ cách làm các
dạng văn nghị luận dẫn đến học sinh lúng túng khi xác định hệ thống luận điểm.
3.2. 2. Về phía học sinh học:
Những năm gần đây học sinh có xu thế ngại học văn, sợ học văn hầu hết các
em không hững thú với việc học văn mà chủ yếu thiên về các môn tự nhiên dẫn
đến kĩ năng làm văn của nhiều học sinh còn hạn chế, nhiều học sinh đứng trước
một đề văn các em không xác định được yêu cầu của đề bài, không phân định rõ
đó là dạng nghị luận gì, từ đó khó có thể xác định và tìm được hướng đi của bài,
thậm chí các em chỉ làm qua loa, đại khái cho xong có em còn làm lạc đề hoặc kết
cấu bài làm thiếu ý, đoạn văn thiếu mạch lạc rõ ràng. Cá biệt nhiều em không cần
suy nghĩ cách làm, khi giáo viên giao đề văn thì ngay lập tức đi tìm sách tham
khảo để xem để chép hoặc dựa vào dàn ý cô giáo cho sẵn để làm dẫn đến bài viết
không linh hoạt khô cứng, không chân thật có phần gượng ép.
Kiểu loại văn nghị luận xã hội phạm vi bao hàm của nó rất rộng đa dạng
phong phú, muôn hình muôn vẻ mà thời lượng dành cho các tiết lí thuyết còn ít
dẫn đến kĩ năng làm bài còn hạn chế.

hoạt động khác mà các em bắt buộc phải tham gia đó là các cuộc thi do Đội, Đoàn
…. phát động.
Nhiều bậc phụ huynh học sinh do mải làm ăn bươn trải cuộc sống, rất nhiều
em hiện bố mẹ đi nước ngoài ở nhà với ông bà già hoặc ở với cô, dì, chú, bác nên
việc đốc học tập của con em mình ôn học còn hạn chế. Đây cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến chất lượng học và ý thức học của học sinh giảm sút.
Nguyên nhân chủ quan:
Nhiều em học sinh chưa chú ý chuyên tâm vào việc học nên không có ý thức
tìm tòi học hỏi, một bộ phận không nhỏ các em học sinh đến lớp mà không chuẩn
bị bài và làm bài tập được giao hoặc có chuẩn bị cũng chỉ là sự miễn cưỡng chống
đối, có học sinh không tự làm bài mà mượn vở của bạn, chép trong sách tham
khảo để đối phó với cô giáo khi bị kiểm tra.
8


3. 3. Điều tra thực trạng.
Năm học 2014- 2015 tôi được nhà trường phân công dạy hai lớp ngữ văn 9,
ngay từ đầu năm học tôi đã xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của giáo viên dạy lớp
9 đó là ngoài giảng dạy kiến thức trong sách giáo khoa theo phân phối chương
trình 37 tuần thì song song với đó nhiệm vụ trọng trách nặng nề đó là ôn luyện,
rèn kĩ năng thuần thục, cung cấp kiến thức đầy đủ để cuối năm học các em còn
tham dự kì thi tuyển vào THPT. Chính vì thế ngay từ đầu tháng 9 tôi đã ra tiến
hành ra đề nghị luận kiểu dạng nghị luận xã hội mà các em đã học ở lớp 7 sau đó
tôi tiến hành chấm bài mục đích để nắm bắt được khả năng làm bài nghị luận của
học sinh. Đề khảo sát ( phụ lục 3). KÕt quả bài kiểm tra của các em như sau:
Lớp
9A
9C

Sĩ số

bàn luận tốt đẹp hơn trong cuộc sống.
9


4.2. Phân biệt dạng bài nghị luận:
Khi cầm đề trên tay học sinh cần ngay lập tức xác định đó là dạng đề nào, nó
là hiện tượng sự kiện hay là tư tưởng đạo lí, nhiều khi ranh giới để xác định rất
mong manh thậm chí đan hòa với nhau. Để học sinh xác định được đề thuộc dạng
thứ nhất hay dạng thứ hai thì cần đi vào hiểu khái niệm của từng dạng bài như
sau:
4.2.1. Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống là bàn về một sự việc hiện
tượng đời sống xã hội có ý nghĩa đáng khen đáng chê hay đáng suy nghĩ.
Ví dụ sự việc hiện tượng đáng khen như tấm gương học sinh nghèo vượt khó
hay các cuộc vận động giúp đỡ đồng bào bão lụt….Sự việc hiện tượng đáng chê,
đáng suy nghĩ như: bàn về việc học tập: học tủ học vẹt hay tiêu cực trong thi cử,
vấn đề ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông…
4.2.2. Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí là bàn về lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối
sống…của con người. Các vấn đề thường gặp là:
- Vấn đề nhận thức: lí tưởng, mục đích sống…
- Tâm hồn tính cách: lòng yêu nước, tính trung thực, khiêm tốn….
- Quan hệ gia đình như: tình mẫu tử, tình phụ tử…
- Quan hệ xã hội: tình yêu, tình bạn...
- Cách ứng xử của mọi người trong cuộc sống.
4. 3. Hướng dẫn xác định yêu cầu của từng kiểu bài nghị luận xã hội.
4.3.1. Yêu cầu về nội dung:
4.3.1.1. Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống yêu cầu là
phân tích mặt đúng, mặt sai, mặt lợi, mặt hại chỉ ra nguyên nhân, bày tỏ thái độ, ý
kiến nhận định của người viết.
4.3.1.2. Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí phải làm sáng tỏ bằng
cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu để chỉ ra chỗ đúng, chỗ sai của một

Kiểu bài nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống: giải thích(nếu cần), thực
trạng; nguyên nhân; hậu quả; biện pháp.
Kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lí: giải thích; phân tích; bác bỏ; đánh giá.
11


Để thực hiện bước tìm ý học sinh bắt buộc tự đặt câu hỏi và lập ý cho bài văn.
Ví dụ1: Cho đề bài: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động như thế nào
để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông.
- Tai nạn giao thông là gì?
- Thực trạng tai nạn giao thông? Diễn ra ở đâu ? Nhờ đâu mà em biết được điều
đó? Dẫn chứng bằng số liệu cụ thể về số vụ việc, người và vụ mà em biết.
- Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (khách quan và chủ quan)
- Hậu quả xấu gây ra là gi? (ảnh hưởng đến bản thân, gia đình, xã hội như thế
nào?)
- Biện pháp khắc phục (với cá nhân, với cộng đồng xã hội, đề nghị với cơ quan
chức năng…)
4.4.3. Bước 3: Lập dàn ý
Làm bài văn giống như dựng một ngôi nhà trước hết phải đủ vật liệu cần thiết,
vật liệu ở đây chính là các luận điểm, luận cứ, các ý lớn, ý nhỏ, các dẫn chứng.
Sau khi chuẩn bị để viết bài người viết tiến hành dựng khung cho ngôi nhà hay
còn gọi làm đề cương, lập dàn ý cho bài viết. Đây là bước quan trọng vì không thể
viết bài mà không lập dàn ý. Ngay cả những cây bút chuyên nghiệp cũng phải có
đề cương trước khi viết. Đành rằng phải hiểu đề cương một cách linh hoạt dàn ý
có thể viết ra giấy nháp nhưng cũng có thể là ý ở trong đầu người viết. Miễn là
trước khi viết mô hình bài viết cần được hình thành với những ý và sự sắp xếp các
ý để làm nổi bật vấn đề mà mình muốn làm sáng tỏ. Trong nhà trường học sinh
đang ở giai đoạn học tập và rèn luyện vì thế bắt buộc phải lập dàn ý ra giấy.
Không thể làm tắt hoặc bắt chước một số cây bút chuyên nghiệp. Thực chất mục
đích của lập dàn ý ra giấy là buộc người viết phải động não suy nghĩ trước khi


Mở bài: Giới thiệu sự việc, hiện tượng.

2.

Thân bài:

- Giải thích thế nào là học vẹt và học tủ. Bản chất của học vẹt, học tủ khác nhau
như thế nào ?
- Thực trạng : học vẹt, học tủ diễn ra ở đâu ? ở những bậc học nào? ( diễn ra ở
khắp các ngôi trường trên cả nước, trừ các trường mầm non. Trường em lớp em
13


cũng có các hiện tượng này, các bạn học không đều, học vẹt học tủ nên bài kiểm
tra bài thì điểm rất cao, bài lại có điểm rất thấp.
- Nguyên nhân là do đâu ? Do nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
(do bản thân ý thức việc học tập không tốt, do gia đình không đốc thúc, quan tâm
đến việc học hành của con cái hoặc gia đình tạo áp lực học tập dẫn đến con cái
phải học tập một cách gượng ép không thoải mái, chỉ biết học thuộc cho xong, do
môi trường giáo dục chưa chú ý đến lực học học của học sinh thúc giục quá học
sinh đành phải học vẹt, học tủ cho qua.
- Hậu quả của việc học tủ, học vẹt chỉ có lợi ngay trước mắt nhưng lại rất có hại
cho bản thân, gia đình, và xã hội.
- Từ hậu quả nêu trên cần bày tỏ quan điểm bác bỏ, phê phán lối học này, tuy
nhiên không nên xa lánh học mà cần gần gũi, giúp đỡ để họ hiểu và thực hiện tốt
hơn.
- Giải pháp : Cần làm gì để ngăn chặn hiện tượng này ? Đối với bản thân, với gia
đình, dòng họ với xã hội.
3. Kết bài : Bài học thấm thía sâu sắc và đưa ra lời khuyên.

đặt ra ở phần đề bài để lát nữa phần thân bài sẽ đi giải quyết. Vì thế mở bài không
được lấn sâu vào phần thân bài như giải thích, nhận xét, đánh giá.
Ví dụ viết phần mở bài cho đề sau: Suy nghĩ về đức hi sinh.
Con người Việt Nam đã từ lâu có nhiều phẩm chất đạo đức tốt đẹp như nhân
nghĩa, thủy chung, cần cù, chăm chỉ, dũng cảm…Một trong những phẩm chất tốt
đẹp ấy đó là đức hi sinh. Vậy chúng ta nên hiểu thế nào về đức tính này tôi và các
bạn cùng bàn luận nhé.
4.4.4.2. Hướng dẫn viết thân bài:
Phần thân bài bao hàm nhiều ý để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận (nhiều luận
điểm) mỗi luận điểm là một đoạn văn, đoạn văn ấy phải đúng quy cách:
Về hình thức của đoạn văn viết hoa đầu đoạn, hết đoạn có dấu chấm câu, các
câu văn trong đoạn văn phải sắp xếp theo trình tự hợp lí. Về nội dung các câu văn
trong đoạn văn đều phải tập chung làm sáng rõ chủ để của đoạn văn, đoạn văn ấy
15


có câu mang luận điểm, các câu khác trong đoạn làm nhiệm vụ tập chung làm sáng
tỏ cho câu mang luận điểm. Tương tự như vậy các đoạn văn trong bài văn cần tập
chung làm sáng tỏ cho luận đề của bài văn. Mỗi đoạn văn có một nội dung độc lập
và diễn đạt lưu loát, hành văn trong sáng có sử dụng lí lẽ dẫn chứng để chứng
minh thuyết phục người đọc người nghe.
Giữa các đoạn văn (các luận điểm) cần có sự liên kết, chuyển ý, chuyển đoạn
nhịp nhàng bằng các phép liên kết đã học để bài văn mượt mà, tránh gò bó, máy
móc, công thức.
Ví dụ viết đoạn văn giải thích đức hi sinh là gì?
Trước tiên ta cần hiểu thế nào là đức hi sinh? “đức”ở đây là nói đến một đạo
đức, đức tính tốt đẹp trong cuộc sống. “Hi sinh”là chịu thiệt, nhận phần thiệt thòi
về mình để cho người khác hưởng những điều tốt đẹp. Hi sinh mang ý nghĩa cao
cả, cống hiến những điều mà bản thân đang có cho người khác vì mục đích cao
đẹp. “Đức hi sinh” là sự cống hiến, hi sinh bản thân mình vì người khác, vì nghĩa

ra đề bài cho đề học sinh viết bài, giáo viên thu chấm bài và kết quả bài viết cụ
thể :
Lớp
9A
9C

Sĩ số
Giỏi- TL % Khá- TL % TB- TL %
Yếu- TL %
35
6 - 17,1
21- 60,1
8- 22,8
0- 0
34
0–0
8- 23,7
24- 70,5
2- 5,8
Bảng 2: Kết quả khảo sát sau khi áp dụng các biện pháp..
Từ kết quả trên tôi thấy có sự thay đổi đáng khích lệ, học sinh tiến bộ hơn

số lượng bài làm đạt bài giỏi và khá tăng lên, ở lớp 9A tỉ lệ giỏi tăng từ 5,5% đến
17,1%, khá tăng từ 45,8% lên 60,1% bài trung bình giảm từ 45,8% xuống 22,8%,
tỉ lệ học sinh yếu không còn nữa, vì lớp 9A là lớp đối tượng một. Ở lớp 9C tỉ lệ
học sinh khá tăng từ 14,7% lên 23,75 trung bình tăng 64,7% lên 70,5% còn tỉ lệ
bài yếu giảm rõ rệt từ 20,6% xuống còn 5,8% , điều này chứng tỏ
5.1. Về kiến thức: Học sinh đã hiểu và nắm được cách làm một bài nghị luận xã
hội, biết trình bày quan điểm thái độ của mình về một vấn đề xã hội bằng hình
thức bình và bàn luận mở rộng. Nêu được bài học cho bản thân, đề xuất biện pháp

các đồng chí đồng nghiệp và các cấp chính quyền và của ngành giáo dục.

18


KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Nội dung nghiên cứu mà tôi đưa ra khá phong phú đòi hỏi sự kiên trì. Ở
sáng kiến này tôi đã đưa ra nội dung các giải pháp để tiến hành dạy kiểu bài nghị
luận xã hội. Trong đó đánh giá thực trạng mặt thuận lợi và khó khăn của việc dạy
học văn nói chung và làm kiểu bài nghị luận nói riêng, tìm nguyên nhân, các giải
pháp từ đó tôi thấy có sự chuyển biến tích cực và rõ rệt nhưng vẫn còn hạn chế
19


nhất định. Với khả năng của bản thân tôi mới chỉ đưa ra giải pháp cơ bản nhằm
mục đích giúp học sinh hiểu và làm tốt kiểu bài nghị luận xã hội, trong sáng kiến
tôi đưa ra 5 giải pháp (đã trình bày trong phần mô tả) với mong muốn làm sao học
sinh hứng thú học văn, không ngại học văn, đứng trước đề văn các em phản ứng
nhanh làm bài tốt, bài nghị luận của các em đủ ý, giàu tính thuyết phục trình bày
được quan điểm, chứng kiến của mình và đặc biệt là trong kì thi tuyển vào lớp vào
THPT các em ghi điểm số cao giúp các em đỗ đạt vào các trường công lập.
2. Khuyến nghị :
Để sáng kiến đạt hiệu quả cao tôi mạnh dạn đề nghị các cấp quản lí giáo dục
cần mở đợt học tập bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên hàng năm, ở
các đợt bồi dưỡng ấy nên tập chung vào từng dạng cụ thể. Tổ chức hội thảo cụm
liên trường để giáo viên có điều kiện giao lưu học hỏi kinh nghiệp từ các đồng
nghiệp khác ngoài nhà trường. Hàng năm tổ chức khen thưởng những thầy cô giáo
có thành tích trong công tác ôn thi học sinh lớp 9 theo từng môn cụ thể từ đó tạo
động lực để giáo viên hăng hái và say sưa hơn với chuyên môn của mình. Lựa

: tỉ lệ.

HS

: học sinh

SGK : sách giáo khoa


: hoạt động
22




: Luận điểm

Phụ lục 3: Đề khảo sát trước khi thực hiện biện pháp, giải pháp.
A. Đề: Em có suy nghĩ gì về thực trạng học vẹt, học tủ của học sinh ngày nay.
B. Hướng dẫn chấm:
a. Mức độ tối đa:
* Về nội dung:( 8 điểm)
Bài viết của học sinh cần đảm bảo các ý sau:
Nêu được vấn đề nghị luận:
23


a. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
b. Thân bài:
-

Giải pháp: mỗi học sinh cần tự cố gắng học tập để tự khẳng định mình, với

gia đình cần quan tâm, động viên, ngăn chăn kịp thời lối học này. Nhà trường các
thầy cô cần phân loại đối tượng học sinh, giao bài tập đúng sức…
c. Kết bài: Kết luận về tình trạng học vẹt học tủ, bài học, lời khuyên.
* Về hình thức và tiêu chí khác ( 2 điểm)
- Bài viết bố cục đảm bảo ba phần.
- Bài viết không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt
- Lời văn mạch lạc, trong sáng, từ ngữ giàu hình ảnh, dùng từ đặt câu , dựng đoạn
tốt.
b. Mức độ chưa tối đa:
Chưa đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về nội dun và hình thức nêu trên.
c. Mức độ không đạt: Không làm bài hoặc lạc đề
24


Phụ lục 4: Đề khảo sát sau khi đưa ra biện pháp, giải pháp.
A. Đề bài: Suy nghĩ về tính tự lập.
B. Hướng dẫn chấm:
a. Mức độ tối đa:
* Về nội dung: (8 điểm) Học sinh cần nêu được các ý cơ bản sau
a. Mở bài: Nêu được vấn nghị luận, vai trò của tự lập.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status