1. Phần mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong chương trình ngữ văn ở bậc Trung học cơ sở, thể loại văn nghị luận
nói chung, nghị luận văn học nói riêng chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Từ
lớp 7, các em đã làm quen với khái niệm nghị luận, các phương thức nghị luận
và bước đầu tiếp xúc với nghị luận văn học. Lên lớp 8, các em tiếp tục được học
khá kĩ về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm, tự sự và
miêu tả. Lên lớp 9 tiếp tục sự kế thừa, nâng cao kiến thức về văn nghị luận. Các
em học về nghị luận về tác phẩm văn học mà cụ thể là nghị luận về tác phẩm
truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ…
Có thể nói, Nghị luận văn học là một kiểu bài khó so với văn nghị luận
nói riêng và phân môn Tập làm văn nói chung. Kiểu bài này đòi hỏi học sinh
phải có năng lực phân tích, đánh giá từ khái quát đến cụ thể, có sự hiểu biết về
xã hội, về Văn học, về Lịch sử... và đặc biệt là kĩ năng trình bày. Thế nhưng,
qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy, đối với học sinh THCS, kĩ năng viết văn của
các em còn nhiều hạn chế: Bài viết rời rạc, khô khan, dùng câu dùng từ chưa
chính xác, bố cục chưa rõ ràng, lập luận chưa có sức thuyết phục, vốn từ nghèo
nên diễn đạt lủng củng tối nghĩa, dài dòng, không thoát ý, mắc nhiều lỗi chính
tả....
Từ thực trạng trên, tôi tìm tòi, học hỏi bạn bè, đồng nghiệp và mạnh dạn
áp dụng một số biện pháp trong quá trình giảng dạy phần văn nghị luận nói
chung và nghị luận văn học nói riêng ở chương trình lớp 9. Giáo viên không chỉ
giúp học sinh nắm vững các yêu cầu, cách làm bài nghị luận văn học ở từng kiểu
bài, mà còn chú trọng định hướng cho học sinh rèn luyện kĩ năng làm bài tốt
nhất nhằm từng bước nâng cao chất lượng của bài viết và hiệu quả của việc giáo
dục, đáp ứng yêu cầu của mực tiêu giáo dục hiện nay. Xuất phát từ tình hình
trên, bản thân xin nêu một vài kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy với mục
đích trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp qua sáng kiến: “Rèn luyện kĩ năng viết
bài văn nghị luận lớp 9”.
1.2. Điểm mới của đề tài
1
sinh phát huy được tích tích cực, chủ động, có kĩ năng viết tốt bài văn nghị luận
văn học, để hiệu quả giáo dục ngày một đi lên.
2
* KẾT QUẢ KHẢO SÁT BÀI VIẾT CỦA HỌC SINH TRƯỚC KHI
THỰC HIỆN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Khối lớp
Tổng số
KẾT QUẢ XẾP LOẠI
học sinh
Giỏi
Trung
Khá
TS
%
TS
%
bình
TS
1
4
5
20
13
52
6
24
Qua bảng số liệu tôi nhận thấy: Đúng như tình trạng chung của việc học
tập bộ môn, học sinh lớp 9A và 9B nắm kiến thức về văn nghị luận nói chung
cũng như nghị luận về tác phẩm văn học nói riêng vẫn còn nhiều điểm yếu, kém.
Nguyên nhân chính dẫn đến tỉ lệ điểm yếu, kém cao đó là do các em thiếu kĩ
năng viết bài.
Trước tình trạng này, tôi rất lo lắng bởi tâm lí chung của các học sinh yếu
kém, đã viết bài không được là không thích học, chán học, làm bài qua loa cho
xong việc. Tôi đã trăn trở, tìm cách để cố gắng khắc phục tình trạng này. Trong
mỗi giờ lên lớp, tôi cố gắng tìm tòi những giải pháp thích hợp để cuốn hút các
em vào bài giảng, huy động tối đa suy nghĩ, trí tuệ của các em khi tìm hiểu sự
việc, nhân vật, chủ đề, nghệ thuật... của tác phẩm; đồng thời định hướng cho các
em kĩ năng viết bài đảm bảo yêu cầu đặc trưng thể loại.
2.2. Các giải pháp
tác phẩm để lại sâu sắc trong lòng người đọc về nội dung hay nghệ thuật hoặc cả
nội dung và nghệ thuật.
Như vậy, từ phân tích chỉ định về phương pháp, từ suy nghĩ nhấn mạnh
tới nhận định, phân tích, từ cảm nhận lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của người
viết. Nếu học sinh không hiểu thì đề bài yêu cầu gì đi nữa thì học sinh đều phân
tích hết.
b. Hướng dẫn học sinh cách làm và viết đoạn văn nghị luận văn học:
Giáo viên luôn nhắc học sinh viết bài văn phải có bố cục đầy đủ gồm ba
phần: mở bài, thân bài, kết bài. Tuy nhiên, để viết được văn bản, trước hết, học
sinh phải viết được những đoạn văn hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một luận
điểm.
4
* Đối với đoạn thơ, bài thơ, học sinh phải xác định được bố cục. Phân
tích theo lối cắt ngang ở từng đoạn thơ, khổ thơ. Từ văn bản thơ, học sinh tiến
hành chia đoạn và tìm những ý chính của mỗi đoạn. Đối với từng khổ thơ, đoạn
thơ, câu thơ vẫn có thể chia tách ra thành các ý nhỏ được. Sau khi tìm được ý
chính của mỗi đoạn thì biến những ý chính ấy thành các luận điểm.
Ban đầu tập cho học sinh phân tích một câu, rồi đến hai câu. Từ hai câu
rồi đến một khổ thơ, từ khổ thơ (đoạn thơ) rồi đến bài thơ.
Ví dụ: Khổ thơ đầu của bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồn cùng gió khơi.
Giáo viên tập cho học sinh phân tích câu thơ thứ nhất, rồi đến câu thơ thứ
hai. Phân tích một lượt hai câu (một và hai). Trong khi hướng dẫn học sinh phân
tích lưu ý cho học sinh không thể cắt ngang câu 3 vì câu thơ thứ 3 và câu thứ 4
cùng nói về hoàn cảnh đoàn thuyền ra khơi, còn câu 1 và 2 là cảnh thiên nhiên
Giáo viên trình bày quy trình ở đoạn văn phần mở bài về nhân vật văn học
và về đoạn thơ, bài thơ để học sinh nhận biết qua đối chiếu sau:
Về đoạn thơ, bài thơ
Về nhân vật văn học
(a) Giới thiệu tác giả -> (b) Tên tác (a) Giới thiệu tác giả -> (b) Tên tác
phẩm -> (c) Thời diểm, hoàn cảnh sáng phẩm -> (c) Thời điểm, hoàn cảnh sáng
tác -> (d) Đoạn trích ở đâu -> (e) Nêu tác -> (d) Nhân vật chính -> (e) Nêu ý
nhận xét, đánh giá sơ bộ về nội dung, kiến, đánh giá sơ bộ của mình về nhân
nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
vật.
Nhìn vào phần mở bài của hai kiểu bài, học sinh sẽ thấy cả hai đề có thể
giống nhau từ (a), (b), (c) nhưng bắt đầu khác nhau từ (d) và (e). Điều này giúp
học sinh dễ nhớ.
Giáo viên lưu ý cho học sinh có thể mở bài theo trình tự như thế nhưng
cũng có thể trình bày sáng tạo theo nhiều cách khác nhau, điều bắt buộc về nội
dung phải có là (b) và (e) ở mỗi phần.
* Ví dụ minh họa phần mở bài:
Đề 1: Phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Hữu Thỉnh vốn rất gắn bó với cuộc sống nông thôn. Ông có nhiều bài thơ
hay về con người và cuộc sống nông thôn, về mùa thu. Bài thơ “Sang thu” được
6
Hữu Thỉnh sáng tác gần cuối năm 1977, giới thiệu lần đầu tiên trên báo Văn
nghệ. Bài thơ là những cảm nhận, suy tư của nhà thơ về sự biến chuyển của đất
trời từ hạ sang thu.
Đề 2: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa
Pa” của Nguyễn Thành Long.
Nguyễn Thành Long là một cây bút chuyên về truyện ngắn. Truyện ngắn
“Lặng lẽ Sa Pa” được sáng tác vào mùa hè năm 1970, trong một chuyến đi lên
Một nốt trầm xao xuyến”
(Thanh Hải – Mùa xuân nho nhỏ)
Viết đoạn:
(1) Từ cảm nhận về mùa xuân của thiên nhiên, đất nước, nhà thơ đã có
ước nguyện:
(2)
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
(3) Nhà thơ muốn làm con chim hót để làm vui cho cuộc đời, muốn làm
một cành hoa để khoe sắc và tỏa ngát hương thơm làm đẹp cuộc đời, muốn làm
một nốt trầm trong bản hòa ca để làm tăng ý nghĩa cuộc đời. (4) Nhà thơ đã
dùng những hình ảnh đẹp của tự nhiên như bông hoa, con chim để nói lên ước
nguyện của mình. Những hình ảnh ấy được lặp lại, trở lại mang một ý nghĩa
mới: niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến có ích cho đời. Cũng trong
thời gian này, nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài “Một khúc xuân” những suy
ngẫm tưng tự:
Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.
Nét riêng trong những câu thơ của Thanh Hải là ở chỗ nó đề cập đến một
vấn đề lớn nhân sinh quan – vấn đề ý nghĩa của đời sống cá nhân trong mối quan
hệ với cộng đồng – một cách thiết tha, nhỏ nhẹ, khiêm nhường được thể hiện
qua những hình tượng đơn sơ mà chưa đựng nhiều xúc cảm.
8
níu lấy tay cha, lúc thì sà vào lòng mẹ. Điệp ngữ “bước tới” gợi bước chân chập
9
chững của đưa con, sự mong chờ, vui mừng đón nhận của đôi vợ chồng trẻ. Nhà
thơ đã tạo một không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt, hạnh phúc.
Ví dụ 3: Phân tích khổ thơ :
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
(Nguyễn Duy – Ánh trăng)
Viết đoạn: Khổ thơ cuối bài thơ mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới
chiều sâu tư tưởng triết lí:
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
“Tròn vành vạnh” là trăng rằm, tròn đầy, một vẻ đẹp viên mãn. “Im phăng
phắc” là im như tờ, không một tiếng động nhỏ. Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng
lẽ “kể chi người vo tình”. “Trăng cứ tròn vành vạnh” như tượng trưng cho quá
khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ, cho sự bao dung độ lượng, của
nghĩa tình thủy chung trọn vẹn. “Ánh trăng im phăng phắc” là hình ảnh nhân
hóa, chính là người bạn – nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở
nhà thơ (và cả mỗi chúng ta). Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng
thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn luôn tròn đầy, bất diệt.
- Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc trích:
Giáo viên hướng cho học sinh viết đoạn theo cách trình bày nội dung
đoạn văn theo lối diễn dịch hoặc quy nạp. Giáo viên cho học sinh nắm cách trình
Câu (1) là câu chủ đề luận điểm
Câu (2) là câu chuyển để đưa dẫn chứng
Câu (3), (4) là dẫn chứng gián tiếp từ tác phẩm
Câu (5) và (6) là những câu phân tích, nhận xét từ dẫn chứng
của người viết.
Cái khó là học sinh không biết phân tích, nhận xét nên giáo viên cho học
sinh đặt câu hỏi để trả lời. Chẳng hạn như: Vì sao anh lại giới thiệu những con
người khác ở Sa Pa? Anh nghĩ điều gì mà giới thiệu như vậy? Học sinh trả lời
đúng, nghĩa là học sinh đã biết nhận xét, đánh giá.
+ Quy nạp là cách trình bày ngược với cách diễn dịch. Giới thiệu cách
quy nạp để học sinh biết và viết đúng nhằm thay đổi thao tác lập luận trong khi
làm bài.
Học sinh xác định được đặc điểm, tính cách của nhân vật theo trình tự
diễn biến của truyện thì lần lượt viết được đoạn văn ở phần thân bài.
c.3/ Kết bài
11
* Ví dụ minh họa phần Kết bài:
Theo sách giáo khoa phần kết bài ở mỗi kiểu bài như sau:
Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn
thơ bài thơ.
Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích): Nhận định đánh giá
chung của mình về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
Phần này giáo viên cần cụ thể hơn để học sinh hiểu:
- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:
+ Khái quát giá trị, ý nghĩa: có thể về nghệ thuật, nội dung hoặc vị
trí của đoạn thơ, bài thơ trong dòng văn học ấy.
+ Hoặc rút ra ý nghĩa giáo dục.
lượt mình, Hữu Thỉnh lại làm cho mùa thu có một hương sắc mới.
- Nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa đã gợi lên
trong lòng người đọc về vẻ đẹp và ý nghĩa cảu những công việc thầm lặng, cống
hiến sức mình cho công cuộc xây dựng đất nước.
2.2.3. Kết quả đạt được:
Với quyết tâm giảng dạy thật sự có hiệu quả kiểu bài Nghị luận văn học
và làm sao để học sinh viết bài được tốt, tôi đã cố gắng hết sức để hướng dẫn
học sinh từ lối viết bài qua loa, thụ động đi đến thái độ học tích cực, chủ động.
Qua thực tế tôi nhận thấy đã có sự biến chuyển tích cực về chất lượng viết văn
của học sinh, năm sau cao hơn năm trước. Đã có nhiều bài viết của học sinh có
cảm thụ sâu sắc, cách viết sáng tạo, đạt chất lượng cao. Sau khi tiến hành vận
dụng một số kinh nghiệm dạy học theo phương pháp mới như đã trình bày ở
trên, tôi tiến hành khảo sát chất lượng của học sinh qua bài viết 2 tiết và khảo sát
chất lượng cuối năm. Cụ thể như sau:
Khối lớp
9A
9B
Giỏi
Tổng số
học sinh
27
25
TS
4
4
13
học sinh giỏi, khá tăng, đồng thời, số học sinh yếu kém giảm rõ rệt. Chính hiệu
quả đạt được như trên, đã động viên, thôi thúc tôi hoàn thành SKKN này.
3. Phần kết luận
3.1. Ý nghĩa của đề tài
Giảng dạy văn nói chung, giảng dạy Tập làm văn nói riêng quả là một
điều không dễ, nhất là phần Nghị luận văn học. Người giáo viên là người đóng
vai trò tổ chức hướng dẫn các hoạt động học cho học sinh cho nên đòi hỏi ngoài
kiến thức chuyên môn, ngoài nhiệt tình nghề nghiệp còn đòi hỏi một năng lực sư
phạm thực sự. Mà tất cả những yếu tố đó phải đặt trong tính định hướng chung
của chương trình của phương pháp và mục tiêu môn học, bài học cụ thể. Đó là
những điểm luôn luôn gắn kết, hoà quyện không thể tách rời.
Trong giảng dạy, bên cạnh việc giúp học sinh nắm bắt kiến thức trọng tâm
của bài học thì việc rèn luyện kĩ năng là khâu vô cùng quan trọng giúp học sinh
có định hướng trong việc tìm hiểu, phân tích tác phẩm văn học và tạo lập văn
bản khi thực hành. Cho nên việc hướng dẫn học sinh cách làm văn nghị luận về
tác phẩm văn học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng được
chuẩn kiến thức và kĩ năng trong phương pháp dạy học mới hiện nay.
Với sáng kiến kinh nghiệm “Rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận lớp
9”, tôi đã cố gắng trình bày cô động những kinh nghiệm của mình trong việc rèn
luyện cho học sinh kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học. Trong từng phần,
nghị luận về đoạn thơ (bài thơ), nghị luận về nhân vật văn học, cũng như trong
các đoạn, các phần của bố cục bài viết, tôi đã đưa ra các ví dụ cụ thể và có sự so
sánh, đối chiếu rõ ràng, giúp học sinh dễ nhận ra, dễ nhớ. Từ đó học sinh hình
thành được kĩ năng viết bài một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả.
Vì thời gian nghiên cứu đề tài có hạn và tôi chỉ nghiên cứu ở một phạm vi
nhỏ, do đó, tôi chỉ đưa ra những vấn đề cơ bản nhất đã áp dụng vào hai lớp 9 mà
luận về tác phẩm truyện nói riêng.
+ Có đầy đủ các phương tiện học tập như: SGK, vở bài tập, vở nháp
+ Đổi mới trong suy nghĩ, trong cách học, phải tự giác học, chủ động, sáng
tạo, có ý thức trách nhiệm về hoạt động học tập của mình, không qua loa, chiếu
lệ, không thụ động...
+ Xác định rõ mục đích, yêu cầu của giờ học, không chỉ về kiến thức mà
còn về cả kỹ năng thự hành.
3.2.3. Đối với các tổ chức, cá nhân liên quan:
15
+ Gia đình học sinh và các tổ chức đoàn thể xã hội cần quan tâm hơn nữa
và trách nhiệm hơn nữa tới việc học tập của con em mình.
+ Đề nghị các cấp lãnh đạo tạo điều kiện giúp đỡ học sinh và giáo viên có
nhiều hơn nữa tài liệu sách tham khảo đổi mới và phòng thư viện để nghiên cứu
học tập nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ .
+ Nhà trường cần tổ chức các buổi trao đổi phương pháp giảng dạy. Có tủ
sách lưu lại các tài liệu chuyên đề bồi dưỡng ôn tập của giáo viên hàng năm để
làm cở sở nghiên cứu phát triển chuyên đề.
Vì khả năng có hạn, tầm quan sát tổng thể chưa cao, lại nghiên cứu trong
một thời gian ngắn, phạm vi hẹp nên khó tránh khỏi thiếu sót và khiếm khuyết.
Rất mong được lãnh đạo và đồng nghiệp chỉ bảo, giúp đỡ và bổ sung cho để
sáng kiến được đầy đủ hơn và có thể vận dụng được tốt để có chất lượng trong
những năm học sau.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
16