PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
Trường THCS Lý Nhật Quang
* * * * *
ĐỀ TÀI BCNCKHSPƯD
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN CHƯƠNG
CHO HỌC SINH LỚP 9 THCS
- Môn Ngữ Văn -
Người báo cáo: Nguyễn Thị Vững
Giáo viên tổ khoa học xã hội
Năm thực hiện: 2009 - 2010
SĐT cơ quan: 0383871400
SĐT cá nhân: 0975574078
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI BÁO CÁO
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
THCS
I. Lí do thực hiện nghiên cứu
1. Văn bản nghị luận là một kiểu văn bản mà việc tạo lập là vô cùng khó đối với
học sinh THCS. Nó không chỉ đòi hỏi phải có kiến thức chính xác sâu rộng, phong
phú; những suy nghĩ, quan điểm đúng đắn về văn chương, về đời sống xã hội, mà đòi
hỏi cả sự tư duy lôgíc, chặt chẽ, với những cách lập luận sắc sảo, thấu tình đạt lí thì
mới có thể hấp dẫn thuyết phục được người đọc người nghe.
2. Dạng bài mà học sinh phải tạo lập thì nhiều, mỗi dạng lại có những yêu cầu
cách thức nghị luận khác nhau. Nào là nghị luận văn chương, rồi nghị luận đời sống
xã hội. Trong đó, riêng nghị luận văn chương lại có những dạng cụ thể hơn nữa, kiến
thức lại phức tạp hơn.
Nghị luận văn chương gồm có nghị luận về một vấn đề văn học, một nhân vật
văn học, một tác phẩm hay đoạn trích văn học…Đó là chưa kể nhân vật thì có nhiều
kiểu, tác phẩm văn học thì có nhiều thể loại, với những đặc điểm không giống nhau.
3.Trong nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7- tập II, Ngữ văn 8- tập
II và Ngữ văn 9- tập II, có đưa ra những bài học về cách thức tạo lập văn bản nghị
học sinh giỏi Ngữ văn các cấp thì lại phong phú đa dạng hơn những gì các em được
trang bị qua chương trình sách giáo khoa, đề ra lại còn ngày càng mới lạ, vì ai ra đề
cũng không muốn lặp lại đề người khác ra rồi, năm trước làm rồi… Viết một bài nghị
luận đã được học đã khó, viết một bài không được hướng dẫn cụ thể trong chương
trình lại càng khó hơn.
4. Học sinh hiện nay, đa số không ham muốn học tập môn Ngữ văn, nhất là ngại
làm những bài văn. Thời gian các em chủ yếu đầu tư cho việc các môn thuộc khoa
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
3
học tự nhiên. Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì một phần cũng do
làm văn quá khó, lại mất nhiều thời gian. “Công thức” làm văn cho các em lại không
được hình thành cụ thể. Các em không phân biệt rõ các thao tác nghị luận chính mà
mình sử dụng. Càng ngày, kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh càng kém hơn, và rất
hiếm có những bài văn nghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởi cách lập luận
rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm luận cứ…Bài viết của các em
khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát, không đúng với nội dung
nghị luận của đề bài. Ví dụ, đề bài yêu cầu cảm nhận các em lại làm như một bài phân
tích, thiếu cảm xúc, thái độ tình cảm; đề bài yêu cầu nghị luận về một nội dung của
tác phẩm các em lại nghị luận về toàn bộ tác phẩm đó; các em không không phân biệt
được viết như thế nào là bài bình giảng, viết như thế nào là bài phân tích một đoạn thơ
bài thơ; hoặc khi nghị luận kết hợp giải quyết một ý kiến nào đó liên quan tới tác
phẩm, các em lại quên mất việc giải quyết ý kiến đó (quên giải thích ý kiến, quên
xoáy vào tác phẩm để làm rõ ý kiến) mà cứ sa vào nghị luận toàn bộ tác phẩm…
Nguyên nhân mấu chốt là học sinh thiếu kĩ năng hoặc còn non kém về kĩ năng
làm bài văn nghị luận.
Vậy nên, việc nâng cao mở rộng, luyện tập thêm cho học sinh kĩ năng làm bài
văn nghị luận là rất cần thiết.
II. Một số công trình, bài viết khác liên quan
Gần đây có một số công trình nghiên cứu, một số bài viết của các tác giả khác có
nội dung liên quan đến việc nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh đã
5
* Trong mi ni dung ln nh u ó cú vớ d minh ho c th. Phn cui ti
l mt s bi vit ca cỏc em hc sinh t c trong v sau quỏ trỡnh rốn luyn k
nng lm vn ny qua cỏc nm hc.
NI DUNG BO CO
* * *
Phn 1
Kĩ năng làm các dạng bài văn
nghị luận văn chơng
A. Mc tiờu cn t
Giỳp HS:
- Hiu v phõn bit c cỏc phộp ngh lun ( thao tỏc ngh lun) thng dựng trong
vn ngh lun: Gii thớch, chng minh, phõn tớch, cm nhn, bỡnh ging, bỡnh lun
- Bit phõn bit vi phng phỏp lp lun s dng trong mt bi ngh lun c
th: quy np, din dch, tng ng, tng phn, nhõn qu, tng phõn hp,
- K nng s dng cỏc thao tỏc ngh lun v phng phỏp lp lun thụng qua cỏc
dng bi ngh lun c th i vi tng i tng ngh lun vn chng.
B. Ni dung dy hc
I. Bn cht ca cỏc phộp ngh lun trong vn ngh lun
1. Cỏc phộp ngh lun trong vn ngh lun
* Gii thớch:
- T in: Gii thớch l lm cho hiu rừ
N.T.Vng- Rốn luyn k nng lm bi vn ngh lun vn chng cho hc sinh lp 9
6
- SGK Ngữ văn 7- tập II viết: Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người
đọc hiểu rõ các tư tưởng, đạo lí, phẩm chất, quan hệ…cần được giải thích nhằm nâng
cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho con người.
Người ta giải thích bằng cách: nêu định nghĩa, kể ra các biểu hiện, so sánh, đối
chiếu với các hiện tượng khác, chỉ ra các mặt lợi hại, nguyên nhân, hậu quả, cách đề
phòng hoặc noi theo…của hiện tượng hoặc vấn đề được giải thích.
khen), là biểu dương. Thực chất là bộc lộ sự rung động, say mê, sự cảm kích, cảm
phục của mình trước áng văn, bài thơ, trước tâm hồn và tài hoa tác giả. Bộc lộ sự đánh
giá đề cao chân thành và sâu sắc vÒ giá trị của các bình diện nào đó của tác phẩm hoặc
tác giả. Mà nói chung, ngọn nguồn của lời bình bao giờ cũng phải là sự đồng cảm.
Tiếng nói của người bình là tiếng nói tri âm, dù lời bình rất cần đến sự hoa mĩ của
ngôn từ. Còn giảng là giảng giải, là cắt nghĩa, lí giải. Bởi thế lời bình thường ngắn,
còn phần giảng lại phải dài. Nếu bình thiên về cảm, thì giảng thiên về hiểu. Bình
nghiêng về những rung động tâm hồn thì giảng nghiêng về nhận thức trí tuệ. Bình là
sự thăng hoa, sự cất cánh còn giảng là sự đào sâu làm cơ sở, làm điểm tựa, làm đòn
bẩy cho việc cất cánh. Giảng càng thông tuệ bao nhiêu, bình càng dễ thăng hoa bấy
nhiêu! Bởi thế trong hai thao tác này, giảng rất gần với phân tích. Người nào hay lẫn
với phân tích là do bình ít mà giảng nhiều.”
* Cảm nhận: - Từ điển: Cảm nhận là nhận biết bằng cảm tính hoặc bằng giác quan.
- Trong văn nghị luận: Cảm nhận là phép nghị luận vừa trình bày những nhận
thức, hiểu biết, suy nghĩ về đối tượng bằng cảm tính hoặc bằng giác quan; vừa trình
bày những cản xúc, đánh giá về đối tượng ấy.
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
8
Nghĩa là hiểu một cách nôm na rằng cảm nhận là phép lập luận có kết hợp giữa
phân tích và phát biểu cảm nghĩ ( học ở lớp 7), nhưng việc phân tích ở đây không đòi
hỏi phải chi tiết cặn kẽ như khi làm bài lập luận phân tích.
“ Cảm nhận xoáy vào những ấn tượng chủ quan của người viết” về đối tượng
nghị luận,“vì vậy yêu cầu người viết phải biết lắng nghe, chắt lọc những cảm xúc,
những rung động của chính mình” để viết; “ Cảm nhận nghiêng về “cảm”, còn phân
tích nghiêng về “ hiểu”. Nếu như phân tích tác động vào nhận thức, lí trí thì cảm
nhận tác động vào cảm xúc, tâm hồn”( Như cô giáo Hoàng Thu Hà viết trong Tạp chí
“ Văn học & Tuổi trẻ”- tháng 5-2009)
* Trình bày suy nghĩ, ý kiến:
- Từ điển: Suy nghĩ là vận dụng sự hoạt động của trí óc để tìm hiểu và giải quyết
vấn đề, từ một phán đoán và ý nghĩ này đi đến những phán đoán và ý nghĩ khác có
hướng, ở mục đích của việc phân tích thôi. Nếu phân tích nhằm minh hoạ, làm sáng
tỏ một vấn đề nào đó, ấy là bạn đang làm văn chứng minh. Còn phân tích nhằm cắt
nghĩa, lí giải một vấn đề nào đó thì sẽ là giải thích. Và tất nhiên, việc phân tích để
hướng vào bàn bạc tranh luận, trao đổi, đánh giá một vấn đề nào, thì tức là bạn đang
làm văn bình luận rồi…”
Như vậy muốn làm tốt các dạng bài nghị luận cần nắm vững kĩ năng phân tích,
vận dụng phân tích để luận điểm bài nghị luận đưa ra được rõ ràng, cụ thể,thuyết phục.
- Một số lưu ý cho việc phân tích:
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
10
a. Đối với một đoạn thơ, bài thơ: Phân tích là thường chia ra từng câu, từng
đoạn để xem xét nghệ thuật, nội dung. Cũng có trường hợp phân tích theo từng
phương diện nội dung của bài thơ, đoạn thơ.
VD: Phân tích bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận)
b. Đối với một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích: Phân tích lại thường chia ra hai
phương diện nội dung và nghệ thuật để xem xét. Khi phân tích từng phương diện ấy
lại cần thiết xem xét kĩ sâu sắc ở từng nhân vật sự việc, từng đặc sắc nghệ thuật…
Cũng có khi phân tích theo bố cục, cuối cùng tổng hợp lại đặc sắc về nội dung và
nghệ thuật.
VD: Phân tích đoạn trích “ Chiếc lược ngà” ( Nguyễn Quang Sáng)
c. Đối với một nhân vật:
+ Nếu là nhân vật trữ tình: chủ yếu phân tích theo từng biểu hiện của diễn biến
tâm trạng, cảm xúc ( diễn biến này được thể hiện rõ qua cách tổ chức bố cục)
VD:- Phân tích hình tượng con hổ trong bài thơ “ Nhớ rừng” ( Thế Lữ)
- Tấm lòng của người cha trong bài thơ “ Nói với con” ( Y Phương)
+ Nếu nhân vật trong tác phẩm tự sự, thì cần chia ra phân tích trên các phương
diện cơ bản sau: Thứ nhất là cuộc đời, số phận, hoàn cảnh công việc…; thứ hai là
những đặc điểm phẩm chất, tính cách. Khi phân tích đặc điểm phẩm chất cũng nên
xem xét ở từng phẩm chất tiêu biểu một sao cho sâu sắc, cụ thể…Lưu ý đối với những
câu chuyện có cốt truyện tâm lí, nhân vật chủ yếu được xây dựng miêu tả về diễn biến
“ Kiều ở lầu Ngững Bích” là một trong những đoạn thơ tả chảnh ngụ tình
thành công nhất trong “Truyện Kiều”. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ đáng thương
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
12
của Thuý Kiều trong những ngày đầu sau khi bán mình cho Tú Bà, Mã Giám
Sinh, đồng thời ngợi ca tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo, vị tha của nàng .”
+ Tổng hợp sau khi phân tích một nhân vật là khái quát lại về cuộc đời, đặc điểm
phẩm chất của nhân vật.
+ Tổng hợp sau khi phân tích một sự việc hiện tượng thì cần khái quát lại tất cả
những điều đã phân tích một cách ngắn gọn (chú ý ở nguyên nhân, lợi hại ).
VD: Phân tích cái hại của việc hút thuốc lá.
“Thuốc lá là một sản phẩm gây độc hại cho sức khoẻ con người. Hút thuốc
lá không những ảnh hưởng đến sức khoẻ mà còn làm sa sút, suy giảm về mọi mặt
trong đời sống con người và xã hội.Hãy không hút thuốc lá và tuyên truyền để
mọi người cùng loại bỏ thuốc lá. Như thế là chúng ta đã tự bảo vệ mình và bảo
vệ mọi người.”
- Thường sau khi tổng hợp người ta còn đưa ra những nhận xét đánh giá
mang tính nâng cao, mở rộng về đối tượng phân tích.
+ Phân tích đoạn thơ bài thơ, tác phẩm truyện đoạn trích: Thì có thể đánh giá về
vị trí, sự thành công của nó trong sự nghiệp sáng tác của tác giả hoặc trong một giai
đoạn, một thời kì văn học…
VD: Phân tích đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích”…
“ Kiều ở lầu Ngững Bích” là một trong những đoạn thơ tả cảnh ngụ tình
thành công nhất trong “Truyện Kiều”. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ đáng thương
của Thuý Kiều trong những ngày đầu sau khi bán mình cho Tú Bà, Mã Giám
Sinh, đồng thời ngợi ca tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo, vị tha của nàng . Qua
đoạn thơ, Nguyễn Du đã chứng tỏ tài năng văn chương xuất chúng của mình. Và
quan trọng nhất, giàu tính nhân văn nhất vẫn là tấm lòng nhân đạo cao cả của
nhà thơ dành cho những người bất hạnh.”
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
- Nếu phép nghị luận là yêu cầu chung cho tất cả những bài văn nghị luận có
cùng một dạng, thì phương pháp lập luận lại yêu cầu cụ thể cho từng bài văn, cho
từng đoạn văn, và bài văn đoạn văn nào cũng có thể lựa chọn sử dụng linh hoạt những
phương pháp lập luận (mỗi bài văn, đoạn văn là trình bày một luận điểm). SGK Ngữ
Văn 7- tập 2 viết ở bài “ Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận”
như sau: “Để xác lập luận điểm trong từng phần và mối quan hệ giữa các phần ta có
thể sử dụng các phương pháp lập luận khác nhau như suy luận nhân quả, suy luận
tương đồng…”. Nghĩa là, ta có rất nhiều cách trình bày luận cứ để làm thuyết phục
luận điểm. Cụ thể:
+ Lập luận theo quan hệ nhân quả
+ Lập luận theo quan hệ tương đồng hoặc tương phản
+ Lập luận theo quan hệ tổng- phân- hợp
+ Lập luận quan hệ diễn dịch hay quy nạp
…
Như vậy, học sinh cần nắm vững các phÐp nghị luận và các phương pháp lập
luận để làm được bài nghị luận đúng yêu cầu, chặt chẽ và thuyết phục.
II. KĨ NĂNG LÀM CÁC DẠNG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CỤ THỂ
II.1 Kĩ năng làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
1. Kĩ năng chung
- Đọc kĩ bài thơ, đoạn thơ để nắm được nội dung và nghệ thuật cơ bản
- Nắm được những thông tin xuất xứ: tác giả, hoàn cảnh ra đời bài thơ. Đặc biệt
phải thấy được sự chi phối của phong cách nghệ thuật của tác giả và hoàn cảnh ra đời
đến giá trị bài thơ, đoạn thơ.
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
15
- Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ thường phải bám vào các đặc điểm riêng của thơ
ca nhất là đặc trưng về nghệ thuật để khai thác làm rõ nội dung nghị luận. Đó là thể
thơ, là hình ảnh, ngôn từ, giọng điệu, các biện pháp tu từ…Vì vậy, có thể đặt các câu
hỏi sau để định hướng cho việc nghị luận
+ Nội dung chủ yếu của bài thơ, đoạn thơ là gì?
mình về đoạn thơ cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu về thao tác nghị luận
cơ bản của từng đề ra.
c. Kết bài: Đánh giá vai trò ý nghĩa của đoạn thơ trong việc thể hiện chủ đề tư
tưởng của toàn bài. Nêu những cảm nghĩ, ấn tượng sâu đậm nhất về đoạn thơ.
VD : Cho đoạn thơ:
“ Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”
( Sang thu – Hữu Thỉnh)
a. Đặt câu hỏi để định hướng khai thác đoạn thơ
b. Viết đoạn văn trình bày cảm nhận về đoạn thơ trên.
c. Viết đoạn văn phân tích đoạn thơ trên.
Gợi ý:
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
17
a. Hệ thống câu hỏi có thể là:
- Đoạn văn có những từ ngữ nào đặc sắc? Tác dụng như thế nào?( Một loạt
phó từ : vẫn, đã, cũng kết hợp với những động từ diễn tả sự tồn tại:còn, vơi, bớt
-> sự biến đổi rất tinh tế của các hiện tượng tự nhiên, của thời tiết, khí hậu lúc
sang thu)
- Biện pháp tu từ nghệ thuật có giá trị trong đoạn thơ là gì? ( Biện pháp nhân
hoá-ẩn dụ: Sấm- ẩn dụ cho những vang động, những bất thường, sóng gió của cuộc
sống; hàng cây đứng tuổi ẩn dụ cho những con người đã “sang thu” già dặn, chín
chắn,…-> Ý nghĩa triết lí về cuộc sống…)
- Giọng điệu đoạn thơ như thế nào? ( nhẹ nhàng, sâu lắng, đậm chất suy tư-
> bài học ý nghĩa càng trở nên thấm thía sâu sắc với người đọc, người nghe)
- Nội dung bao trùm đoạn thơ là gì? ( diễn tả tinh tế những biến chuyển rõ
rệt của thời tiết, khí hậu lúc sang thu và đưa ra bài học triết lí về con người, về
cuộc đời).
hàng cây lâu năm không còn bất ngờ trước những tiếng sám chuyển mùa nữa. “
Sấm” và “ hàng cây đứng tuổi” là những hình ảnh ẩn dụ được nhà thơ sử dụng
một cách có chọn lọc. “Sấm” chỉ những vang động sóng gió của cuộc đời. Còn
“hàng cây đứng tuổi” chỉ những con người từng trải, thường điềm tĩnh hơn, chín
chắn thêm trước những vang động sóng gió cuộc đời. Rõ ràng, từ những thay đổi
của mùa thu thiên nhiên, khổ thơ gợi chúng ta liên tưởng đến sự thay đổi của
mùa thu đời người, và cũng từ những thay đổi của đời người mà khổ thơ cho ta
bài học triết lí sâu sắc về cuộc đời con người: hãy biết chấp nhận, bình tĩnh đối
mặt với hiện thực cuộc sống để ta dày dạn hơn, có ý chí nghị lực hơn; đồng thời
hãy mở rộng lòng mình để yêu thiên nhiên, yêu đất nước con người, yêu cuộc đời
như nhà thơ đã sống và đã yêu.”
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
19
3. Kĩ năng làm bài nghị luận về một bài thơ
Các đối tượng của đề bài nghị luận về một bài thơ là rất phong phú đa dạng. Có
thể nghị luận về toàn bộ bài thơ, có thể nghị luận về một phương diện của bài thơ:
một nhân vật trữ tình, một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật tiêu biểu…Mỗi đối
tượng ấy cũng có một số kĩ năng riêng . Cụ thể:
Dạng 1: Nghị luận về toàn bộ bài thơ
- Cần phát hiện mạch cảm xúc của bài thơ và mạch cảm xúc ấy chi phối bố cục
bài thơ như thế nào? Nắm vững nội dung từng phần, từng đoạn một cách cụ thể.
- Vì là nghị luận cả bài nên ở nhiều câu, nhiều đoạn không bắt buộc phải khai
thác kĩ như nghị luận về một đoạn. Người viết cần biết lướt qua, tóm lược ở những
đoạn, những câu không góp phần nhiều vào việc thể hiện giá trị của bài thơ.
- Cần thấy được vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp của tác giả, cũng như của cả
một giai đoạn văn học, một thời kì văn học, thậm chí là cả của nền văn học dân tộc.
- Có những bài thơ, nhất là những bài thơ dài, người viết có thể trình bày cách
cảm, cách hiểu của mình theo chiều dọc ( về từng phương diện nội dung của bài). Khi
khai thác từng phương diện cũng yêu cầu khai thác cả những tín hiệu nghệ thuật đặc
sắc góp phần diễn đạt nội dung ấy.
- Lần lượt cảm nhận cụ thể:
+ Vẻ đẹp của người mẹ Tà Ôi: một người phụ nữ giàu tình yêu thương, giàu
ước mơ và giàu nghị lực… Đó là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc
sống lao động và chiến đấu, vẻ đẹp của những người mẹ anh hùng.
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
21
+ Tình cảm thái độ của tác giả dành cho mẹ: sự thấu hiểu, cảm thương,
niềm trân trọng, khâm phục, ngợi ca tự hào…
* Lưu ý: Có thể theo một trong hai cách: Cảm nhận từng khúc ru hoặc cảm
nhận về hình tượng thơ: Người mẹ và tình cảm tác giả…Ở đây hướng dẫn theo
cách thứ hai, cảm nhận về hình tượng thơ. Khi trình bày phải biết dừng lại ở
những câu thơ, từ ngữ đặc sắc để cảm nhận sâu kĩ hơn, làm xoáy trọng tâm…)
3. Kết bài: Khẳng định giá trị của bài thơ về cả nội dung và nghệ thuật; nâng
cao, mở rộng.
Dạng 2: Nghị luận về một phương diện của bài thơ
-Vì chỉ cảm nhận về một phương diện nội dung hay nghệ thuật của bài thơ, nên
khi làm bài tránh phân tích, cảm nhận cả bài. Và như vậy không thể khai thác theo bố
cục bài thơ được.
- Nếu nghị luận về một phương diện nội dung bài thơ thì người viết phải biết
chọn những biểu hiện như hình ảnh, câu từ nào trong bài thơ liên quan đến phương
diện cần nghị luận để phân tích, chứng minh.
- Nếu nghị luận về phương diện nghệ thuật thì phải phát hiện và phân tích tất cả
những yếu tố nghệ thuật tiêu biểu. Sau đó phải tìm hiểu xem vẻ đẹp nghệ thuật ấy thể
hiện tập trung nhất ở những yếu tố nào như hình ảnh thơ, nhạc điệu, từ ngữ, các biện
pháp tu từ…. Nhưng không phải chỉ đơn thuần là nghị luận về nghệ thuật mà điều cần
thiết, quan trọng ở dạng bài này là người viết phải biết phân tích đánh giá được những
nghệ thuật ấy nhắm biểu đạt nội dung, tư tưởng nào mà tác giả gửi gắm. Nếu không
nghệ thuật có hay có đặc sắc đến mấy cũng thành vô nghĩa.
- Sau khi làm xong phải biết đánh giá giá trị, vai trò của phương diện nội dung
hay nghệ thuật vừa nghị luận đối với giá trị của toàn bài thơ.
thương yêu, lòng biết ơn, quý trọng…
* Để diễn tả tình bà cháu cao đẹp như vậy nhà thơ đã thành công trong việc
lựa chọn thể thơ 8 chữ, trong xây dựng hình ảnh mang nhiều ý nghĩa, cách dùng
điệp từ điệp ngữ…
=> Tình bà cháu đựơc thể hiện trong bài thơ rất chân thành cảm động.
Càng cảm động và thiêng liêng hơn khi tình cảm ấy được gắn liền hoà quyện với
tình yêu quê hương đất nước. Mỗi chúng ta cần biết trân trọng nâng niu, bồi đắp
tình cảm gia đình cho mình…
c. Kết bài: Khẳng định vẻ đẹp của tình bà cháu trong bài thơ
- Liên hệ tình bà trong những tác phẩm khác và trong thực tế cuộc sống.
Ví dụ 2: Sức hấp dẫn của cách nói “không có” trong “Bài thơ về tiểu điệu
đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
a. Mở bài:
- Giới thiệu bài thơ
- Khẳng định sức hấp dẫn của cách nói “Không có”, tạo nên vẻ đẹp độc
đáo, ấn tượng cho bài thơ.
b. Thân bài:Trình bày phân tích, lí giải sức hấp dẫn của cách nói “không
có”
* Trước tiên từ cách nói “không có”, nhà thơ đã xây dựng được một hình
tượng thơ lạ- hình tượng những chiếc xe không kính.
* Nói về những chiếc xe với rất nhiều những cái “không có” là Phạm Tiến
Duật nhằm tôn nổi hơn những cái “có” trong vẻ đẹp tâm hồn những người lính
lái xe: có tinh thần ung dung, bình tĩnh; có thái độ coi thường bât schấp gian
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
24
khổ hiểm nguy; có tâm hồn lạc quan, trẻ trung, lãng mạn ; và trên hết là có trái
tim yêu nước và ý chí quyết chiến quyết thắng.
* Khẳng định, đánh giá: Cách nói “không có” là nghệ thuật đòn bẩy, nghệ
thuật tương phản đối lập làm nổi bật cái “có”, tạo nên một tứ thơ mới lạ, độc
đáo cho bài thơ. Cách nói “không có” cũng tạo nên giọng điệu hào hùng, hóm