Đề tài: Rèn luyện kỹ năng cảm thụ thơ trữ tình hiện đại cho học sinh lớp 9
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU:
Con người ta sống một cuộc sống gọi là đầy đủ với hai điều kiện: đầy đủ về
vật chất và đầy đủ về tinh thần. Chỉ nói riêng về cuộc sống tinh thần cũng thật đa
dạng và phong phú. Biểu hiện của sự đa dạng, phong phú ấy là: được yêu thương,
biết yêu thương; được ước mơ, được thưởng thức cái hay cái đẹp của cuộc đời;
được thưởng thức và được cống hiến. Và một trong những điều mang lại cho con
người niềm vui trong cuộc sống là biết thưởng thức những cái hay, cái đẹp, ý
nghĩa cuộc đời qua những áng thơ văn, dù sau này con người ấy có theo nghề nào
đi chăng nữa. Vì ở các tác phẩm văn chương, cuộc sống đã được kết tinh thành
cái đẹp qua tài năng, tình cảm, tâm huyết của người sáng tạo tác phẩm rồi.
Là loại hình tác phẩm được cấu trúc bởi một kiểu ngôn ngữ đặc biệt, khác
hẳn ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ văn xuôi, để bộc lộ ý thức tình cảm con
người một cách trực tiếp; là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt, là sản phẩm của
những rung động đột xuất, độc đáo - thơ trữ tình đến với người đọc tự nhiên mà
nồng nàn, giản dị mà sâu sắc, dễ dàng mà khó quên, bất chợt để trường tồn, một
chút xôn xao để rồi sâu lắng. Một cái nhìn, một ánh mắt, một tiếng gọi trong thơ
ta gặp một lần để rồi cứ nhấp nháy mời gọi, ngân nga hoài trong ta mãi không
thôi. Cái “tôi” trữ tình luôn cảm xúc thực sự, bộc lộ hẳn ra.Tiếng nói trữ tình trở
thành tiếng lòng thầm kín của mọi người. Quả thật nó là “Lời gửi của nghệ sĩ với
cuộc đời”. Nói như cố nhà thơ Tố Hữu: “Thơ là tiếng nói của người nào đó đến
với những người nào đó dựa trên cơ sở đồng ý, đồng tình. Thơ là tiếng nói
đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”.
Tuy nhiên, có những bài thơ người ta đọc một lần rồi sau đó mãi mãi để trong
quên lãng; có những bài thơ người ta đọc đi đọc lại mãi không muốn thôi. Hoặc
lại cũng có bài thơ, người này đọc thấy hay, thấy xúc động, người khác lại chẳng
thấy gì là thích thú. Đấy là do sức hấp dẫn từ bản thân tác phẩm và một điều quan
trọng nữa là hứng thú và kĩ năng cảm nhận ở mỗi người khi đến với văn bản thơ.
Năng lực cảm thụ của mỗi người không giống nhau, cũng không phải tự nhiên
vốn sẵn có mà phải qua quá trình hình thành bồi dưỡng. Nhất là đối với các em
thụ tác phẩm diễn ra trước, trong và sau tiết bài dạy- học đọc - hiểu văn bản thơ
trữ tình. Đây là những việc làm khó.
Như trên đã nói, việc cảm thụ văn chương ở mỗi người không hề giống
nhau hơn nữa hoạt động thưởng thức văn chương của học sinh trong nhà trường
không giống như hoạt động thưởng thức của bạn đọc ở ngoài xã hội. Hoạt động
thưởng thức văn chương ở ngoài xã hội là hoàn toàn tự do, hoàn toàn mang tính
chất cá nhân. Còn hoạt động thưởng thức văn chương trong nhà trường là có giới
hạn nhất định về thời gian kể cả trong chính khoá và ngoại khoá; có sự hướng dẫn
của giáo viên, có sự kích thích tác động lẫn nhau của những người cùng thưởng
thức, được khuyến khích phát hiện thưởng thức những cái hay, cái đẹp theo một
cách riêng nhưng chủ yếu phải thưởng thức, tiếp nhận cái hay, cái đẹp là những
kiến thức có tính mục tiêu khái quát về tác phẩm. Và nguyên tắc dạy học văn
cũng chỉ ra rằng: dạy học văn chương phải vừa dạy môn khoa học vừa dạy môn
nghệ thuật bởi văn học vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Vì thế việc cảm thụ tác
phẩm phải dựa trên cả tính khoa học, nghệ thuật và tính nhà trường. Rõ ràng việc
rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn, nhất là qua đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình là một
việc đòi hỏi tính liên kết khá cao.
Phần nữa, xét về kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn chương của những học sinh
lớp 9 hiện tại - cụ thể là ở lớp 9 của trường THCS Tuân Đạo tôi được phụ trách
Người thực hiện: Bùi Thanh Hải Giáo viên trường THCS Tuân Đạo
2
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng cảm thụ thơ trữ tình hiện đại cho học sinh lớp 9
cũng còn nhiều điều nan giải. Chỉ nói về kĩ năng tiếp xúc với tác phẩm đã có rất
nhiều điều phải bàn.
Thứ nhất là các em rất lười đọc. Chưa nói đến những kĩ năng cao siêu, đọc là
khâu đầu tiên để học sinh tiếp cận tác phẩm, song vì có lẽ cho là mình đang là
người lớn nên phần lớn các em học sinh chỉ đọc bằng cách lia mắt lướt qua để rồi
sau đó vội vội vàng, vàng trả lời mấy câu hỏi hướng dẫn trong sách giáo khoa
cho xong việc chuẩn bị bài để tránh bị cán bộ lớp hoặc cô giáo phê bình. Thử làm
một phép điều tra nho nhỏ đầu năm với bài chuẩn bị học đoạn trích “Quang
học những bài thơ trữ tình hay. Trước đây, với phương pháp dạy học cũ, thầy
giảng trò nghe, dạy những bài thơ như: “Đoàn thuyền đánh cá”, không ít giáo
viên đã để “cháy” giáo án vì thầy giáo quá say sưa với những ngôn từ, vẻ đẹp
trong cách thể hiện của tác giả. Hiện nay, với phương pháp dạy học mới, người
thầy lại không bị “cháy” vì mình quá say sưa mà “cháy” vì học sinh không biết
tìm ra những tín hiệu nghệ thuật để phân tích, hoặc giả các em chẳng hề rung
động trước bất cứ hành động nào. Kĩ năng đọc đã yếu, kĩ năng phát hiện và cảm
nhận các tín hiệu nghệ thuật trong một bài thơ ở các em lại càng yếu.
Hay nói đến các biện pháp nghệ thuật cũng vậy. Học sinh nhầm lẫn biện
pháp nghệ thuật và biện pháp tu từ. Hoặc các em đồng nhất hai khái niệm đó,
hoặc nhầm giữa biện pháp tu từ này với biện pháp tu từ khác và hầu như việc tìm
ra giá trị của biện pháp nghệ thuật ấy trong bài thơ là rất hạn chế.
Một điều đáng nói nữa là hình tượng trong tác phẩm trữ tình. Nếu như hình
tượng trong tác phẩm tự sự là hình tượng tính cách, các em dễ hình dung thì hình
tượng trong tác phẩm trữ tình lại là hình tượng tâm sự. Tiếng nói trong tác phẩm
trữ tình là tác phẩm của những tâm trạng. Thơ trữ tình chứa đầy tâm trạng, cảm
xúc và tâm trạng đó được gắn liền với sự rung động về vần điệu, hình tượng âm
thanh. Việc hiểu tâm trạng trong thơ để đồng điệu cũng rất khó. Hiểu không đúng
dễ dàng dẫn đến cảm nhận cũng lơ mơ, trệch hướng.
Tóm lại: Thực trạng của vấn đề có nhiều điều tác động, đòi hỏi trong quá
trình thực hiện dạy - học văn bản thơ trữ tình phải giải quyết để đạt hiệu quả:
Làm thế nào để khơi gợi hứng thú cảm nhận cho các em, taọ cơ sở cho việc
rèn kỹ năng cảm thụ ?
Làm thế nào để giúp các em có được và phát triển kĩ năng cảm thụ trong
điều kiện thực tế và thời lượng cụ thể giành cho mỗi văn bản thơ trữ tình?
Làm thế nào để các em biết vận dụng kỹ năng cảm thụ để làm tốt bài tập
làm văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ trong chương trình để đảm bảo nguyên tắc
dạy học văn theo hướng thích hợp?
Đó là những điều đặt ra với tôi trong quá trình dạy học văn bản thơ trữ tình.
Căn cứ vào tình hình thực tế học sinh, bám sát đặc điểm loại thể thơ trữ
điệu, cảm nhận được cái nhìn của nhà thơ về cuộc sống, con người. Các em buồn
cái buồn, vui niềm vui của nhà thơ, bị nhà thơ thuyết phục hoặc tranh luận với
nhà thơ. Là chủ thể chủ động, các em phải có sự giao tiếp, sự cộng hưởng cảm
xúc với nhà văn, tiếp nhận những thông điệp thẩm mỹ của nhà văn qua tác phẩm.
Để học sinh thực sự trở thành chủ thể tiếp nhận tác phẩm, trong giờ dạy - học đọc
- hiểu văn bản nhất là văn bản trữ tình cần:
Trước hết các em phải được khơi gợi hứng thú đọc tác phẩm và hướng dẫn
chuẩn bị tìm hiểu tác phẩm ở nhà một cách cụ thể. Làm sao để khi bước vào giờ
học, các em như mong muốn được thể hiện giọng đọc, sự đồng sáng tạo của
mình, muốn trình bày, muốn tranh luận những điều cảm thụ, nhận thức được về
tác phẩm. Thưởng thức nghệ thuật chỉ thực sự bắt đầu khi có nhu cầu về thỏa mãn
về tình cảm, tâm hồn, trí tuệ, những nhu cầu về bên trong.
Với chương trình Ngữ Văn 9, những bài thơ trữ tình được đưa vào dạy -
học phần lớn đề cập đến những tình cảm đẹp đẽ của con người, rất phù hợp với
tâm lý tuổi mới lớn của các em (tình đồng chí đồng đội, tình bà cháu, tình yêu quê
Người thực hiện: Bùi Thanh Hải Giáo viên trường THCS Tuân Đạo
5
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng cảm thụ thơ trữ tình hiện đại cho học sinh lớp 9
hương đất nước, yêu thiên nhiên). Người giáo viên phải bám sát đặc trưng “tiếng
nói tình cảm” của các bài mà hướng các em vào việc đọc, tìm hiểu, tạo cho các
em sự đồng cảm cùng nhà thơ để đạt hiệu quả cảm thụ.
Tiếp theo việc khơi gợi hưng thú đọc là tiến trình dạy - học. Trong tiết dạy
- học, giáo viên cần hướng dẫn các em tự phát hiện, thưởng thức tác phẩm,
khuyến khích các em có những cảm nhận, những phát hiện riêng nhưng không
suy diễn tuỳ tiện, có những điều trăn trở vấn vương của các em về tác phẩm cần
được thầy cô giúp đỡ giải đáp kịp thời. Sau tiết học, các em được mở ra những
khả năng mới để tiếp tục thưởng thức, khám phá tác phẩm ở mức sâu, rộng hơn,
các em như cảm nhận được những biến đổi, vận động phong phú hơn trong tâm
hồn mình. Với ưu thế dễ đọc, dễ nhớ và tình cảm sâu lắng, các bài thơ trữ tình
đầy đủ khả năng tạo ra hứng thú cho các em. Người giáo viên bám sát đặc trưng
vì đảm bảo thời gian, phần vì để cho học sinh có độ “ngấm” sâu hơn nên cho các
em về nhà làm bài tập viết đoạn (vào giấy) và kiểm tra lại bằng cách cho các em
nộp lại cho giáo viên đánh giá.
Phương pháp dạy học tích cực chỉ ra rằng: người học - chủ thể hoạt động -
phải tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách tìm ra kiến thức thông qua hành động
của chính mình. Chỉ có bằng hành động tự tìm hiểu khi các em tự nói ra những
điều mình cảm nhận được thì bài thơ sẽ “sống” mãi, và lúc đó quá trình cảm thụ
mới thật sự thành công.
3.Vận dụng cụ thể vào việc rèn kĩ năng.
a. Rèn luyện kĩ năng đọc: Như trên đã nói, đọc là bước đầu tạo tiền đề cho
hoạt động tái hiện và có khả năng thực hiện dễ dàng, đầy đủ hoạt động tái hiện.
Với tác phẩm trữ tình, đọc vừa là đồng cảm, vừa là diễn cảm. Cũng nhờ đọc mà
học sinh vừa được chứng kiến, vừa được thể nghiệm. Vì thế đọc - tái hiện, tri giác
hình tượng thơ là hoạt động không thể coi nhẹ trong quá trình dạy - học thơ trữ
tình. Tái hiện hình tượng trong thơ không những là một thao tác tư duy để đi vào
tác phẩm mà còn là một bí quyết truyền thụ nữa.
Một bài thơ như bài thơ “Bếp lửa” chẳng hạn mà việc đọc và tái hiện hình
tượng không thực hiện tốt thì khó thu được kết quả. Cả một dòng hoài niệm tuôn
chảy theo thời gian sống dậy trong tâm tưởng nhà thơ nếu như không được tái
hiện thì khó mà gợi được rung động cảm xúc.
Nhận thức như vậy nên khi dạy - học bài thơ “Bếp lửa” tôi chú trọng
hướng dẫn học sinh đọc trước ở nhà. Đọc và hình dung cảnh “Bếp lửa” quê
hương có Bà tần tảo nắng mưa, có Bà chăm chút cháu, có Bà gắn liền bên “Bếp
lửa”. Đến lớp, cô giáo bằng giọng đọc truyền cảm của mình, đọc mẫu cho học
sinh đoạn thơ đầu: “Một bếp lửa chờn vờn ……… sống mũi còn cay”, sau đó
hướng dẫn học sinh đọc và đọc tiếp trong quá trình phân tích. Kết hợp đọc của
thầy, đọc của trò, học sinh đã có những cảm nhận bước đầu về bài thơ theo đúng
hướng.
Với những bài thơ khác như bài “Đồng chí ”, “Bài thơ về tiểu đội xe
không kính”, “Mùa xuân nho nhỏ”, “Viếng lăng Bác” là những bài thơ được
Còn rất nhiều điều các em cần phải phát hiện và phân tích nữa như: ngôn
ngữ, các biện pháp tu từ, kết cấu. Trong phạm vi thời gian của từng tiết học, dưới
sự hướng dẫn của giáo viên qua mỗi bài sẽ củng cố, rèn luyện thêm cho các em.
Bằng hệ thống câu hỏi hướng dẫn, bằng phương pháp gợi tìm, nghiên cứu kết hợp
với quá trình truyền cảm thụ của giáo viên và với tính tích cực được phát huy, các
em sẽ có được kết quả cảm thụ tốt hơn.
c. Để cho những cảm nhận được kiểm nghiệm, để cho những câu thơ,
bài thơ hay sống mãi trong cảm nhận của các em thì chỉ đọc, tìm hiểu chưa gọi
là đủ. Các em còn phải biết thể hiện, trình bày cảm nhận của mình.
Kết thúc quá trình dạy - học trên lớp với một tác phẩm trữ tình không phải
là hết mà các em cần tiếp tục “suy ngẫm”, “nhấm nháp”, “thưởng thức”. Sau mỗi
bài học, giáo viên cần ra những bài tập rèn luyện kĩ năng cảm thụ cho học sinh để
các em tự trình bày những điều mà các em đã thu nhận được.
Người thực hiện: Bùi Thanh Hải Giáo viên trường THCS Tuân Đạo
8
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng cảm thụ thơ trữ tình hiện đại cho học sinh lớp 9
Thông thường, phần luyện tập của mỗi tiết bài đọc - hiểu đều có bài tập.
Thiết nghĩ không nên yêu cầu học sinh làm ngay tại lớp những bài tập cảm thụ
mà nên để cho học sinh “thấm” bài học rồi về nhà làm bài tập viết đoạn thể hiện
cảm xúc, suy nghĩ của mình.
Ví dụ: Khi dạy xong bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên, tôi yêu cầu các
em làm bài tập cảm thụ.
Bài tập 1: (Cho những học sinh đối tượng trung bình)
Qua bài thơ, em có suy nghĩ gì về những lời hát ru?
Bài tập 2: (cho học sinh đối tượng khá hơn).
Suy nghĩ của em về tấm lòng người mẹ qua hai câu thơ:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.
Với cả hai bài tập, hai đối tượng sau khi đã đọc, hiểu bài thơ đều đã viết
được những đoạn văn thể hiện cảm nhận của mình về lời hát ru (lời hát ru gắn
nghe. Để các em thích đọc, tôi có giảng giải cho các em đôi điều sơ lược về cách
nói của đồng bào miền núi - xoá dần cho các các em cảm giác “bài thơ này trúc
trắc, khó đọc”, sau đó tôi giao nhiệm vụ cụ thể: đọc thầm 2 - 3 lần, đọc to 2 - 3
lần (ở nhà). Nếu có thể đọc theo trí nhớ 1 - 2 lần (ở lớp) và đọc thuộc lòng khi
học xong bài. Và khi dạy - học trên lớp, tôi có cho điểm đọc. Vì thế học sinh, đầu
tiên là quyết tâm đọc để có điểm cao, sau đó là học thuộc và thích đọc bài thơ.
Cũng để tạo hứng thú, trong giờ học tôi kể chuyện cho các em về cuộc sống
của đồng bào miền núi (vốn quen thuộc với các em). Vì thế các em biết đựơc sâu
hơn về cuộc sống sinh hoạt của người miền núi, giúp các em hiểu cách tư duy của
đồng bào miền núi, hiểu các câu thơ trong bài, không ngỡ ngàng khi tìm hiểu tác
phẩm.
Khi hướng dẫn các em tìm hiểu bài thơ, tôi gợi ý cho các em tìm hiểu:
“Nói với con” là khúc tâm tình của người cha dặn dò con, thể hiện lòng thương
yêu con của người miền núi mong muốn con phát huy truyền thống của quê
hương. Nội dung này được gắn với nội dung bài thơ “Khúc hát ru những em bé
lớn trên lưng mẹ” để các em so sánh, đối chiếu hiểu thêm về sinh hoạt của các
dân tộc ít người và niềm ước mong của họ, tạo điều kiện cho các em hình thành
cảm xúc tự hào, ý nguyện phát huy truyền thống của cha ông.
Hoặc khi phân tích đoạn đầu của bài thơ - tôi gợi ý cho các em phân tích
hình ảnh cụ thể gợi không khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc mà ở đó cha mẹ chăm
chút con, thể hiện niềm vui trên từng bước đi của con “Một bước chạm tiếng nói,
hai bước tới tiếng cười ”, giúp các em hiểu và có thêm tình yêu gia đình và tự
hào với gia đình hạnh phúc.
Để các em có kĩ năng phát hiện và phân tích các biện pháp tu từ của bài
thơ, tôi yêu cầu các em ôn lại các biện pháp điệp ngữ, so sánh để tìm hiểu tác
dụng của chúng trong đoạn thơ; các câu hỏi tập trung khai thác về cách nói giàu
hình ảnh, phóng khoáng và cụ thể, vừa giàu sức khái quát, vừa mộc mạc giàu chất
thơ, giọng điệu thiết tha trìu mến và sau khi học xong bài thơ, tôi yêu cầu các em
học sinh suy nghĩ làm bài tập về nhà.
C. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
14/27
12/25
11/25
13/25
* Bài học rút ra từ quá trình rèn luyện kĩ năng cảm thụ trên là:
1. Người giáo viên dạy thơ phải yêu thơ, ham thích tìm hiểu và có kĩ năng
tìm hiểu, phân tích bình giá thơ và phải có kế hoạch cụ thể để hướng dẫn cho các
em.
2. Người giáo viên phải khéo léo tác động vào tình cảm của các em, khơi
dậy những tình cảm có sẵn cho các em, tạo điều kiện cho các em nâng cao năng lực
cảm thụ và trong quá trình dạy – học; phải có kĩ năng hướng dẫn từng bước cho
học sinh.
3. Sự kết hợp hài hoà giữa chủ động của học sinh với hướng dẫn chu đáo
của giáo viên là điều kiện tất yếu dẫn đến kết quả.
4. Thời lượng quy định trên lớp là bắt buộc song rất ít, cần giành thời gian
ngoại khoá để rèn kĩ năng cho các em.
Rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh là việc làm không thể thiếu trong
quá trình dạy học văn chương, nhất là dạy tác phẩm trữ tình.
Người thực hiện: Bùi Thanh Hải Giáo viên trường THCS Tuân Đạo
11
Đề tài: Rèn luyện kỹ năng cảm thụ thơ trữ tình hiện đại cho học sinh lớp 9
Bám sát đặc trưng bộ môn, quán triệt các nguyên tắc dạy học, vận dụng
phương pháp đổi mới, tăng cương tính tích hợp, tích cực trong quá trình dạy học
là những giải pháp thiết thực để thực hiện rèn kĩ năng .
Bước đầu những tiết dạy với những nội dung và biện pháp trên, tôi đã thu
được kết quả song còn rất hạn chế.
Trong quá trình dạy học những năm sau tôi sẽ tiếp tục bổ sung, rút kinh
nghiệm để đạt hiệu quả tốt hơn.
Tuân Đạo, tháng 5 năm 2010
Người thực hiện