PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÒA BÌNH
TRƯỜNG THCS VĨNH THỊNH
CHUYÊN ĐỀ: PHÁT HUY HIỆU QUẢ KĨ NĂNG
LẬP NIÊN BIÊU MÔN LỊCH SỬ 8
Người thực hiện: V õ Văn Út
Chức vụ: Giáo viên
V ĩnh Th ịnh, ng ày 15 th áng 11 n ăm 2013
CHUYÊN ĐỀ: PHÁT HUY HIỆU QUẢ KĨ NĂNG LẬP
NIÊN BIỂU MÔN LỊCH SỬ 8
I. Đặc vấn đề:
1. Lý do chọn đề tài.
Trong thời gian qua, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đã được đề cập và
thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, quản lý giáo dục, giáo viên trực tiếp
giảng dạy. Nhìn chung đều khẳng định, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
phát huy tính tích cực của học sinh là rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
giáo dục.
Với quan điểm đó, trong những năm qua đã dấy lên một cuộc vận động đổi
mới phương pháp dạy học trong hệ thống giáo dục nói chung và các trường phổ
thông nói riêng. Đồng thời nhiều đợt tập huấn, hội thảo đổi mới phương pháp dạy
học đã được tổ chức ở những cấp độ khác nhau, nhằm nâng cao năng lực sư phạm
cho giáo viên. Từ đó đã có nhiều phương pháp mới đã được giáo viên ứng dụng
trong việc dạy học và đã dấy lên một phong trào thi đua dạy học, trao đổi kinh
nghiệm chuyên môn trong đội ngũ giáo viên ở các trường học. Những hoạt động
trên đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng giáo dục trong thời gian qua.
Với tình hình chung, đổi mới phương pháp giảng dạy của bộ môn Lịch sử
cũng đã được sự quan tâm đúng mức. Nhiều phương pháp mới theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh đã được sử dụng, đặc biệt là ứng dụng CNTT trong
dạy học.
Cũng phải thấy rằng, việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử là sự
kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn của cả hệ thống phương pháp, mỗi phương pháp đều
có vai trò nhất định riêng. Trong đó phương pháp lập niên biểu trong sách giáo
Biện pháp tuy có thể nói không mới lắm, nhưng với sự chủ động hướng dẫn
của giáo viên và sự tích cực của học sinh đã đem đến một kết quả khả quan hơn
trong quá trình học.
Dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng yêu cầu người giáo viên
phải biết sử dụng linh hoạt các phương pháp trong tiết dạy thì mới giúp cho học
sinh khắc sâu kiến thức một cách chủ động. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng yêu
cầu học sinh phải hệ thống tất cả các kiến thức trong các tiế ôn tập, làm bài tập,
tổng kết. Nếu học sinh chưa hiểu bài, chưa tổng hợp được sự kiện sẽ làm mất thời
gian. Do đó yêu cầu người giáo viên phải có nghệ thuật sư phạm khi dạy học lịch
sử. Biết hệ thống, biết khái quát, biết phân tích nội dung của sự kiện và phải biết
hướng dẫn học sinh nắm được những nội dung của bài học thông qua lập niên biểu
trong các tiết làm bài tập, ôn tập, tổng kết chương. Từ đó biết khái quát, tổng hợp,
nội dung bài học.
II. NỘI DUNG:
1. Thực trạng:
Bộ môn Lịch sử với những đặc trưng riêng của nó có vai trò và tác động to
lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ hiện nay. Tuy nhiên ngày nay việc học sinh
không thích học cũng như tìm hiểu về lịch sử dân tộc ngày càng nhiều. Nhiều em
cho rằng đây là một môn học thuộc lòng mất nhiều thời gian lại khô khan, nhàm
chán. Thiếu hiểu biết lịch sử là điều vô cùng nguy hiểm khi văn hóa Việt Nam, con
người Việt Nam hội nhập với văn hóa và con người của nhiều dân tộc trên thế giới.
Vậy tại sao học sinh lại thiếu hiểu biết và không thích học Lịch sử? Cũng có
nhiều nguyên nhân. Song không thể phủ nhận nguyên nhân xuất phát từ việc dạy và
học Lịch sử của chúng ta từ trước đến nay còn nặng về cung cấp kiến thức gây ra
tình trạng quá tải cho học sinh.
Do đặc điểm của việc nhận thức Lịch sử là không trực tiếp quan sát sự kiện,
nhân vật quá khứ nên việc tạo biểu tượng là một yêu cầu quan trọng trong dạy học
bộ môn. Biểu tượng lịch sử là hình ảnh chân thực của quá khứ về hiện thực quá khứ
được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất.
Việc phát huy hiệu quả kĩ năng lập niên biểu môn lịch sử 8, là một biện pháp
Học sinh yếu kém đã và đang cố gắng nắm bắt các kiến thức trọng tâm cơ
bản thông qua các hoạt động học như thảo luận nhóm, vấn đáp, đọc sách giáo khoa.
Các em đã mạnh dạn hăng hái xung phong lên bảng và sẵn sàng ghi nhớ các sự
kiện, nhân vật, trong việc chiếm lĩnh kiến thức của mình.
* Khó khăn:
Ở trường THCS Vĩnh Thịnh một số học sinh còn lười học và chưa có sự say
mê môn học Lịch sử, cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch
sử còn yếu. Nhiều em chưa độc lập suy nghĩ để trả lời một câu hỏi mà chỉ đọc
nguyên xi trong sách giáo khoa hay chỉ nêu được diễn biến sự việc mà không lí giải
được vì sao nó lại diễn ra như thế hay sự kiện đó nói lên điều gì. Bởi vậy, bản thân
các em nên có một phương pháp học tích cực để chiếm lĩnh kiến thức từ bài giảng
của giáo viên.
Vẫn còn một số ít giáo viên chưa thực sự thay đổi hoàn toàn phương pháp
dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy, chưa tích cực hoá hoạt động của học sinh
tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, chiếm lĩnh và nắm vững kiến thức. Do đó nhiều
học sinh chưa nắm vững được kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc, trả
lời câu hỏi thì nhìn vào sách giáo khoa hoàn toàn
Một số tiết học giáo viên chỉ huy động một số học sinh khá, giỏi trình bày kĩ
năng lập niên biểu mà chưa giành cho đối tượng học sinh yếu kém. Cho nên đối
tượng học sinh yếu kém ít được chú ý và không được tham gia hoạt động, điều này
làm cho các em thêm tự ti về năng lực của mình và các em cảm thấy chán nản môn
học.
Mặt khác giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường một phần nào đó
chưa gây được sự hứng thú, tìm tòi và khám phá cho học sinh trong việc học bộ
môn, cho nên nhiều học sinh chán ghét bộ môn và học chỉ để đối phó dẫn đến chất
lượng kiểm tra một số em ở một số lớp còn thấp. Nhằm giảm bớt số lượng học sinh
yếu kém và nâng cao chất lượng dạy và học của của bộ môn, bản thân tôi đã thấy
được điều đó và cố gắng đưa ra các phương pháp học tập tích cực mà cụ thể là:
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng và luôn tìm tòi những
phương lập niên biểu một cách hiệu quả nhất.
dễ hiểu và gây hứng thú cho học sinh. Chính yêu cầu đó sẽ giúp người giáo viên
nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm trong các giờ lên lớp.
Ngoài ra các giờ sử dụng niên biểu trong dạy học giáo viên chủ yếu đóng vai
trò hướng dẫn, chỉ đạo, còn học sinh phải tự nghiên cứu để rút ra kiến thức. Giáo
viên phải khắc phục khó khăn, trao đổi chuyên môn tổ, chuyên môn cụm để có
cách lập niên biểu một cách hiệu quả nhất.
Bên cạnh đó học sinh học sinh phải tự giác tìm hiểu thời gian và sự kiện lịch
sử dưới sự hướng dẫn gợi mở của giáo viên, tiếp nhận kiến thức một cách chủ
động.
Sử dụng niên biểu đúng mục đích, đúng lúc, đúng mức độ. Cường độ kết hợp
lập niên biểu với các đồ dùng được trang bị tốt. Nội dung lập niên biểu phải rõ
ràng, sinh động, hấp dẫn với phương pháp thường hay sử dụng.
Với những kĩ năng cơ bản và các nguyên tắc nêu trên, dưới đây là một số
ứng dụng cụ thể:
Ví dụ 1:
Khi dạy bài 4: Phong trào công nhân và sự ra đời của chủ nghĩa Mác
Giáo viên hướng dẫn và yêu cầu học sinh lập niên biểu về phong trào công
nhân nửa đầu thế kỉ XIX theo: (Thời gian, phong trào, nội dung chủ yếu, kết quả)
Giáo viên nhận xét và hoàn thành nội dung theo bảng sau:
Thời gian Phong trào Nội dung chủ yếu Kết quả
Đầu thế kỉ XIX - Đập phá máy
móc.
- Bãi công.
- Phá máy móc đốt
công xưởng.
- Đòi tăng lương
giảm giờ làm.
Thành lập các công
đoàn.
1831 Khởi nghĩa công
rõ nét.
Ví dụ 2:
Khi dạy bài 5: công xã Pari 1871
Giáo viên hướng dẫn và yêu cầu học sinh lập niên biểu về công xã Pari 1871
theo: (Thời gian, diễn biến, kết quả),
Giáo viên nhận xét và hoàn thành nội dung theo bảng sau:
Thời gian Diễn biến Kết quả
4-9-1870 Nhân dân Pa-ri (công
nhân và tiểu tư) sản khởi
Lật đổ chính quyền Na-
pô-lê-ông III, lập chế độ
nghĩa. cộng hòa.
18-3-1871 Khởi nghĩa ở Pa-ri. Nhân dân làm chủ Pa-ri.
26-3-1871 Bầu củ Hội đồng công xã. 86 đại biểu chúng cử,
công xã được thành lập.
Đầu tháng 4 đến đầu
tháng 5-1871
Quân Véc-xai bắt đầu tấn
công Pari.
Quân Véc-xai chiếm phía
Tây và phía Nam Pa-ri.
20-5-1871 Quân Véc-xai tổng tấn
công Pa-ri.
Tuần lễ đẫm máu.
27-5-1871 Trận chiến đấu ở ngĩa địa
Cha La-se-dơ.
Trận chiến cuối cùng,
công xã sụp đổ.
Ví dụ 3:
Khi dạy bài 11: các nước Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX
Khởi nghĩa ở cao
nguyên Bô-lô-ven
Gây cho Pháp
nhiều tổn thất,
bước đầu thành lập
liên minh chống
Pháp.
In-đô-nê-xi-a 1905-1908 Thành pập công
đoàn xe lửa.
Thành lập Hội liên
hiệp công nhân.
Đảng Cộng sản In-
đô-nê-xi-a thành
lập.
Ví dụ 4:
Khi dạy bài 14: Ôn tập lịch sử thế giới cận đại (từ giữa thế kỉ XVI đến
năm 1917).
Giáo viên hướng dẫn và yêu cầu học sinh lập niên biểu về các sự kiện chính
của lịch sử thế giới cận đại theo: (Thời gian, sự kiện, kết quả)
Giáo viên nhận xét và hoàn thành nội dung theo bảng sau:
Thời gian Sự kiện Kết quả
8-1566 Cách mạng Hà Lan. Lật đổ ách thống trị của
vương quốc Tây Ban Nha.
1640-1688 Cách mạng tư sản Anh. Mở đường cho chủ nghĩa
tư bản phát triển, đem lại
quyền lợi cho quí tộc mới
và tư sản.
1775-1783 Chiến tranh giành độc lập
cùa các thuộc địa Anh ở
Bắc Mĩ.
lập của công nha6ncac1
nước ra đời. Quốc tế thứ
hai.
1911 Cách mạng Tân Hợi
(Trung Quốc)
Thành lập Trung Hoa dân
quốc.
1- 1868 Cuộc Duy tân Minh Trị. Nhật Bản phát triển lên
chủ nghĩa tư bản.
1914-1918 Chiến tranh thế giới thứ
nhất.
Thuộc địa thế giới được
chia lại.
Ví dụ 5:
Khi dạy bài 24: Cuộc kháng chiến từ năm 1858-1873
Giáo viên hướng dẫn và yêu cầu học sinh lập niên biểu về các sự kiện chính trong
cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ 1858 đến năm 1873 theo: (Thời
gian, sự kiện)
Giáo viên nhận xét và hoàn thành nội dung theo bảng sau:
Thời gian Sự kiện
1-9-1858 Pháp tấn công Đà Nẵng.
17-2-1859 Pháp tấn công Gia Định.
24-2-1861 Pháp tấn công Đại đồn Chí Hòa.
10-12-1861 Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu giặc trên sông Vàm Cỏ.
5-6-1862 Triều đình ký với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất.
2-1863 Pháp tấn công căn cứ Tân Hòa (Gò Công).
20-8-1864 Trương Định hy sinh.
24-6-1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây.
1867\1875 Hàng loạt cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổ ra ở Nam Kì.
Triều đình đầu hàng nhưng
phong trào kháng chie6n11
của nhân dân không chấm
dứt.
5. Kết quả
Thông qua việc hướng dẫn học sinh lập niên biểu trong quá trình học bộ môn
Lịch sử thông qua củng cố bài, thực hiện ở các tiết làm bài tập, tổng kết, ôn tập, kết
quả bộ môn của các lớp khi kết thúc năm học 2012-2013 như sau:
- kết quả kĩ năng niên biểu:
HỌC KÌ I HỌC KÌ II
42% 89%
- kết quả học sinh hiểu bài:
HỌC KÌ I HỌC KÌ II
63% 95%
- kết quả học tập:
Tổng số học
sinh
HỌC KÌ I CẢ NĂM
Trên trung
bình
Dưới trung
bình
Trên trung
bình
Dưới trung
bình
124 96 28 117 7
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận
Từ kết quả thu được tôi nhận thấy việc lập niên biểu trong dạy học là rất cần
trong quá trình học bộ môn.
Qua kết quả giảng dạy đã đạt được tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và áp
dụng đề tài vào quá trình giảng dạy để nâng cao chất lượng bộ môn và chất lượng
giáo dục trong trường học.
Trên đây là ý tưởng của tôi bằng kinh nghiệm thực tiễn tôi đã giúp cho các
em học sinh có ý thức cao trong học tập, chịu khó tìm tòi, học hỏi để nắm được bài
một cách tốt nhất, khiến các em ngày càng yêu thích môn học Lịch sử hơn, từ đó
góp phần hình thành nhân cách đạo đức, tư tưởng và lối sống cho các em trở thành
những con người hoàn thiện cả về đức – trí - thể - mĩ và đặc biệt là không quay
lưng lại với lịch sử dân tộc.
Tuy nhiên với những hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân, đề tài có thể
chưa đáp ứng được nhiều yêu cầu của giáo viên. Dù vậy, qua nội dung của vấn đề
chắc chắn sẽ góp phần trong việc trao đổi kinh nghiệm chuyên môn cùng đồng
nghiệp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Rất mong sự đóng góp của hội đồng khoa học nhà trường và các đồng
nghiệp để chuyên đề này được hoàn chỉnh và mang lại giá trị thực tiễn.
2. Kiến nghị
Hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói chung và dạy
học Lịch sử nói riêng đang ngày càng trở nên phổ biến ở các trường học phổ thông.
Việc ứng dụng đề tài này, đặc biệt là việc lập niên biểu trong dạy học Lịch sử đòi
hỏi các trường học phải đầu tư nhiều về trang thiết bị như phòng học đảm bảo tiêu
chuẩn, hệ thống máy tính có kết nối Internet, máy chiếu…để làm sao tiết học nào
cũng có thể sử dụng máy móc làm phương tiện dạy học, tiến tới mỗi phòng học
phải được trang bị một hệ thống máy chiếu để sử dụng cho tất cả các tiết học và tất
cả các bộ môn.
Về phía giáo viên phải chịu khó học hỏi, nắm bắt công nghệ thông tin, phải
trang bị máy tính để chuẩn bị bài ở nhà và đặc biệt phải có nhiều bảng phụ có liên
quan đến bài dạy. Hơn nữa với môn học Lịch sử còn có một ưu thế nữa hơn các
môn học khác là có nhiều tranh ảnh tài liệu cũng như phim tư liệu liên quan đến nội
dung bài học để minh họa cho bài giảng làm tăng tính trực quan sinh động. Vì vậy
b) Về hình thức: . . . . . /10 điểm
2. Căn cứ kết quả đánh giá, xét duyệt của Hội đồng khoa học ngành giáo dục và
đào tạo, Trưởng phòng Phòng GD&ĐT Hòa Bình thống nhất công nhận SKKN và xếp
loại: . . . . . . . . . . . . . .
Hòa Bình, ngày…. . tháng . . . . năm 20….
TRƯỞNG PHÒNG