skkn rèn nluyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9 THCS - Pdf 24

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
Trường THCS Lý Nhật Quang
* * * * *
ĐỀ TÀI BCNCKHSPƯD
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN CHƯƠNG
CHO HỌC SINH LỚP 9 THCS
- Môn Ngữ Văn -
Người báo cáo: Nguyễn Thị Vững
Giáo viên tổ khoa học xã hội
Năm thực hiện: 2009 - 2010
SĐT cơ quan: 0383871400
SĐT cá nhân: 0975574078
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI BÁO CÁO
Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương
cho học sinh lớp 9 THCS
I. Lí do thực hiện nghiên cứu
1. Văn bản nghị luận là một kiểu văn bản mà việc tạo lập là vô cùng khó đối với
học sinh THCS. Nó không chỉ đòi hỏi phải có kiến thức chính xác sâu rộng, phong
phú; những suy nghĩ, quan điểm đúng đắn về văn chương, về đời sống xã hội, mà đòi
hỏi cả sự tư duy lôgíc, chặt chẽ, với những cách lập luận sắc sảo, thấu tình đạt lí thì
mới có thể hấp dẫn thuyết phục được người đọc người nghe.
2. Dạng bài mà học sinh phải tạo lập thì nhiều, mỗi dạng lại có những yêu cầu
cách thức nghị luận khác nhau. Nào là nghị luận văn chương, rồi nghị luận đời sống
xã hội. Trong đó, riêng nghị luận văn chương lại có những dạng cụ thể hơn nữa, kiến
thức lại phức tạp hơn.
Nghị luận văn chương gồm có nghị luận về một vấn đề văn học, một nhân vật
văn học, một tác phẩm hay đoạn trích văn học…Đó là chưa kể nhân vật thì có nhiều
kiểu, tác phẩm văn học thì có nhiều thể loại, với những đặc điểm không giống nhau.
3.Trong nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7- tập II, Ngữ văn 8- tập
II và Ngữ văn 9- tập II, có đưa ra những bài học về cách thức tạo lập văn bản nghị

học sinh giỏi Ngữ văn các cấp thì lại phong phú đa dạng hơn những gì các em được
trang bị qua chương trình sách giáo khoa, đề ra lại còn ngày càng mới lạ, vì ai ra đề
cũng không muốn lặp lại đề người khác ra rồi, năm trước làm rồi… Viết một bài nghị
luận đã được học đã khó, viết một bài không được hướng dẫn cụ thể trong chương
trình lại càng khó hơn.
4. Học sinh hiện nay, đa số không ham muốn học tập môn Ngữ văn, nhất là ngại
làm những bài văn. Thời gian các em chủ yếu đầu tư cho việc các môn thuộc khoa
học tự nhiên. Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì một phần cũng do
làm văn quá khó, lại mất nhiều thời gian. “Công thức” làm văn cho các em lại không
được hình thành cụ thể. Các em không phân biệt rõ các thao tác nghị luận chính mà
mình sử dụng. Càng ngày, kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh càng kém hơn, và rất
hiếm có những bài văn nghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởi cách lập luận
rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm luận cứ…Bài viết của các em
khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát, không đúng với nội dung
nghị luận của đề bài. Ví dụ, đề bài yêu cầu cảm nhận các em lại làm như một bài phân
tích, thiếu cảm xúc, thái độ tình cảm; đề bài yêu cầu nghị luận về một nội dung của
tác phẩm các em lại nghị luận về toàn bộ tác phẩm đó; các em không không phân biệt
được viết như thế nào là bài bình giảng, viết như thế nào là bài phân tích một đoạn thơ
bài thơ; hoặc khi nghị luận kết hợp giải quyết một ý kiến nào đó liên quan tới tác
phẩm, các em lại quên mất việc giải quyết ý kiến đó (quên giải thích ý kiến, quên
xoáy vào tác phẩm để làm rõ ý kiến) mà cứ sa vào nghị luận toàn bộ tác phẩm…
Nguyên nhân mấu chốt là học sinh thiếu kĩ năng hoặc còn non kém về kĩ năng
làm bài văn nghị luận.
Vậy nên, việc nâng cao mở rộng, luyện tập thêm cho học sinh kĩ năng làm bài
văn nghị luận là rất cần thiết.
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
3
II. Một số công trình, bài viết khác liên quan
Gần đây có một số công trình nghiên cứu, một số bài viết của các tác giả khác có
nội dung liên quan đến việc nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh đã

N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
4
NI DUNG BO CO
* * *
Phn 1
Kĩ năng làm các dạng bài văn
nghị luận văn chơng
A. Mc tiờu cn t
Giỳp HS:
- Hiu v phõn bit c cỏc phộp ngh lun ( thao tỏc ngh lun) thng dựng trong
vn ngh lun: Gii thớch, chng minh, phõn tớch, cm nhn, bỡnh ging, bỡnh lun
- Bit phõn bit vi phng phỏp lp lun s dng trong mt bi ngh lun c
th: quy np, din dch, tng ng, tng phn, nhõn qu, tng phõn hp,
- K nng s dng cỏc thao tỏc ngh lun v phng phỏp lp lun thụng qua cỏc
dng bi ngh lun c th i vi tng i tng ngh lun vn chng.
B. Ni dung dy hc
I. Bn cht ca cỏc phộp ngh lun trong vn ngh lun
1. Cỏc phộp ngh lun trong vn ngh lun
* Gii thớch:
- T in: Gii thớch l lm cho hiu rừ
- SGK Ng vn 7- tp II vit: Gii thớch trong vn ngh lun l lm cho ngi
c hiu rừ cỏc t tng, o lớ, phm cht, quan hcn c gii thớch nhm nõng
cao nhn thc, trớ tu, bi dng t tng, tỡnh cm cho con ngi.
Ngi ta gii thớch bng cỏch: nờu nh ngha, k ra cỏc biu hin, so sỏnh, i
chiu vi cỏc hin tng khỏc, ch ra cỏc mt li hi, nguyờn nhõn, hu qu, cỏch
phũng hoc noi theoca hin tng hoc vn c gii thớch.
* Chng minh:
- T in: Chng minh l lm cho thy rừ l cú tht, l ỳng bng s vic hoc lớ l
- SGK Ng vn 7- tp II vit: Chng minh trong vn ngh lun l mt phộp lp
lun dựng nhng lớ l, bng chng chõn thc, ó c tha nhn chng t lun

Tiếng nói của người bình là tiếng nói tri âm, dù lời bình rất cần đến sự hoa mĩ của
ngôn từ. Còn giảng là giảng giải, là cắt nghĩa, lí giải. Bởi thế lời bình thường ngắn,
còn phần giảng lại phải dài. Nếu bình thiên về cảm, thì giảng thiên về hiểu. Bình
nghiêng về những rung động tâm hồn thì giảng nghiêng về nhận thức trí tuệ. Bình là
sự thăng hoa, sự cất cánh còn giảng là sự đào sâu làm cơ sở, làm điểm tựa, làm đòn
bẩy cho việc cất cánh. Giảng càng thông tuệ bao nhiêu, bình càng dễ thăng hoa bấy
nhiêu! Bởi thế trong hai thao tác này, giảng rất gần với phân tích. Người nào hay lẫn
với phân tích là do bình ít mà giảng nhiều.”
* Cảm nhận: - Từ điển: Cảm nhận là nhận biết bằng cảm tính hoặc bằng giác quan.
- Trong văn nghị luận: Cảm nhận là phép nghị luận vừa trình bày những nhận
thức, hiểu biết, suy nghĩ về đối tượng bằng cảm tính hoặc bằng giác quan; vừa trình
bày những cản xúc, đánh giá về đối tượng ấy.
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
6
Nghĩa là hiểu một cách nôm na rằng cảm nhận là phép lập luận có kết hợp giữa
phân tích và phát biểu cảm nghĩ ( học ở lớp 7), nhưng việc phân tích ở đây không đòi
hỏi phải chi tiết cặn kẽ như khi làm bài lập luận phân tích.
“ Cảm nhận xoáy vào những ấn tượng chủ quan của người viết” về đối tượng
nghị luận,“vì vậy yêu cầu người viết phải biết lắng nghe, chắt lọc những cảm xúc,
những rung động của chính mình” để viết; “ Cảm nhận nghiêng về “cảm”, còn phân
tích nghiêng về “ hiểu”. Nếu như phân tích tác động vào nhận thức, lí trí thì cảm
nhận tác động vào cảm xúc, tâm hồn”( Như cô giáo Hoàng Thu Hà viết trong Tạp chí
“ Văn học & Tuổi trẻ”- tháng 5-2009)
* Trình bày suy nghĩ, ý kiến:
- Từ điển: Suy nghĩ là vận dụng sự hoạt động của trí óc để tìm hiểu và giải quyết
vấn đề, từ một phán đoán và ý nghĩ này đi đến những phán đoán và ý nghĩ khác có
chứa tri thức mới.
Ý kiến là cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá riêng của mỗi người về sự vật, sự
việc hay một vấn đề nào đó.
- Trình bày suy nghĩ hay ý kiến trong bài văn nghị luận chính là phép nghị luận

làm văn bình luận rồi…”
Như vậy muốn làm tốt các dạng bài nghị luận cần nắm vững kĩ năng phân tích,
vận dụng phân tích để luận điểm bài nghị luận đưa ra được rõ ràng, cụ thể,thuyết phục.
- Một số lưu ý cho việc phân tích:
a. Đối với một đoạn thơ, bài thơ: Phân tích là thường chia ra từng câu, từng
đoạn để xem xét nghệ thuật, nội dung. Cũng có trường hợp phân tích theo từng
phương diện nội dung của bài thơ, đoạn thơ.
VD: Phân tích bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận)
b. Đối với một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích: Phân tích lại thường chia ra hai
phương diện nội dung và nghệ thuật để xem xét. Khi phân tích từng phương diện ấy
lại cần thiết xem xét kĩ sâu sắc ở từng nhân vật sự việc, từng đặc sắc nghệ thuật…
Cũng có khi phân tích theo bố cục, cuối cùng tổng hợp lại đặc sắc về nội dung và
nghệ thuật.
VD: Phân tích đoạn trích “ Chiếc lược ngà” ( Nguyễn Quang Sáng)
c. Đối với một nhân vật:
+ Nếu là nhân vật trữ tình: chủ yếu phân tích theo từng biểu hiện của diễn biến
tâm trạng, cảm xúc ( diễn biến này được thể hiện rõ qua cách tổ chức bố cục)
VD:- Phân tích hình tượng con hổ trong bài thơ “ Nhớ rừng” ( Thế Lữ)
- Tấm lòng của người cha trong bài thơ “ Nói với con” ( Y Phương)
+ Nếu nhân vật trong tác phẩm tự sự, thì cần chia ra phân tích trên các phương
diện cơ bản sau: Thứ nhất là cuộc đời, số phận, hoàn cảnh công việc…; thứ hai là
những đặc điểm phẩm chất, tính cách. Khi phân tích đặc điểm phẩm chất cũng nên
xem xét ở từng phẩm chất tiêu biểu một sao cho sâu sắc, cụ thể…Lưu ý đối với những
câu chuyện có cốt truyện tâm lí, nhân vật chủ yếu được xây dựng miêu tả về diễn biến
tâm lí thì khi phân tích có thể men theo các biểu hiện của tâm lí nhân vật đặt trong
những hoàn cảnh, tình huống cụ thể. Và đề bài nhiều khi cũng yêu cầu cụ thể phân
tích về diễn biến tâm trạng của nhân vật.
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
8
VD1: Phân tích nhân vật Thuý Kiều trong đoạn trích “ Chị em Thuý Kiều” ( Nguyễn Du)

những điều đã phân tích một cách ngắn gọn (chú ý ở nguyên nhân, lợi hại ).
VD: Phân tích cái hại của việc hút thuốc lá.
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
9
“Thuốc lá là một sản phẩm gây độc hại cho sức khoẻ con người. Hút thuốc lá không
những ảnh hưởng đến sức khoẻ mà còn làm sa sút, suy giảm về mọi mặt trong đời sống con
người và xã hội.Hãy không hút thuốc lá và tuyên truyền để mọi người cùng loại bỏ thuốc lá.
Như thế là chúng ta đã tự bảo vệ mình và bảo vệ mọi người.”
- Thường sau khi tổng hợp người ta còn đưa ra những nhận xét đánh giá
mang tính nâng cao, mở rộng về đối tượng phân tích.
+ Phân tích đoạn thơ bài thơ, tác phẩm truyện đoạn trích: Thì có thể đánh giá về
vị trí, sự thành công của nó trong sự nghiệp sáng tác của tác giả hoặc trong một giai
đoạn, một thời kì văn học…
VD: Phân tích đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích”…
“ Kiều ở lầu Ngững Bích” là một trong những đoạn thơ tả cảnh ngụ tình thành công
nhất trong “Truyện Kiều”. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ đáng thương của Thuý Kiều trong
những ngày đầu sau khi bán mình cho Tú Bà, Mã Giám Sinh, đồng thời ngợi ca tấm lòng thuỷ
chung, hiếu thảo, vị tha của nàng . Qua đoạn thơ, Nguyễn Du đã chứng tỏ tài năng văn
chương xuất chúng của mình. Và quan trọng nhất, giàu tính nhân văn nhất vẫn là tấm lòng
nhân đạo cao cả của nhà thơ dành cho những người bất hạnh.”
+ Phân tích về một nhân vật thì có thể đánh giá về sự điển hình tiêu biểu của
nhân vật cho một tầng lớp, giai cấp hay một thế hệ…Cũng có thể đánh giá về vai trò
của nhân vật đối với sự thành công của tác giả, tác phẩm.
VD: Phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ “ Bếp lửa” ( Bằng Việt)
“ Hiện lên qua dòng hồi tưởng, suy ngẫm của người cháu là hình ảnh người bà với cuộc
đời và những phẩm chất tốt đẹp thật đáng ngợi ca, khâm phục. Hình ảnh bà phải chăng là
hình ảnh của quê hương đất nước. Cháu nhớ bà, trân trọng, biết ơn bà cũng chính là biểu hiện
cụ thể của tình yêu gia đình, tình yêu mảnh đất nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Ai cũng có một
tuổi thơ hạnh phúc bên bà, lớn lên từ chiếc nôi của gia đình và quê hương như thế. Vì vậy, đọc
bài thơ, ta như gặp lại người bà dấu yêu của mình, và được trở về với những ngày xưa tưởng

+ Lập luận quan hệ diễn dịch hay quy nạp

Như vậy, học sinh cần nắm vững các phÐp nghị luận và các phương pháp lập
luận để làm được bài nghị luận đúng yêu cầu, chặt chẽ và thuyết phục.
II. KĨ NĂNG LÀM CÁC DẠNG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CỤ THỂ
II.1 Kĩ năng làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
1. Kĩ năng chung
- Đọc kĩ bài thơ, đoạn thơ để nắm được nội dung và nghệ thuật cơ bản
- Nắm được những thông tin xuất xứ: tác giả, hoàn cảnh ra đời bài thơ. Đặc biệt
phải thấy được sự chi phối của phong cách nghệ thuật của tác giả và hoàn cảnh ra đời
đến giá trị bài thơ, đoạn thơ.
- Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ thường phải bám vào các đặc điểm riêng của thơ
ca nhất là đặc trưng về nghệ thuật để khai thác làm rõ nội dung nghị luận. Đó là thể
thơ, là hình ảnh, ngôn từ, giọng điệu, các biện pháp tu từ…Vì vậy, có thể đặt các câu
hỏi sau để định hướng cho việc nghị luận
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
11
+ Nội dung chủ yếu của bài thơ, đoạn thơ là gì?
+ Có thể chia bố cục của bài thơ, đoạn thơ không?
+ Bài thơ, đoạn thơ sử dụng những từ ngữ nào hay, độc đáo? Giá trị biểu đạt là gì?
+ Biện pháp tu từ nào được sử dụng có hiệu quả và hiệu quả như thế nào?
+ Trong bài thơ, đoạn thơ có những hình ảnh nào cần phân tích? Phân tích ra sao?
+ Giọng điệu chủ đạo của bài thơ, đoạn thơ như thế nào?
+ Bài thơ, đoạn thơ gợi liên tưởng đến đoạn thơ, bài thơ nào?
+ …
- Tuỳ theo yêu cầu về thao tác nghị luận và đối tượng nghị luận cụ thể để có cách
khai thác, lập luận và diễn đạt phù hợp. Khi làm bài có thể vận dụng phép so sánh đối
chiếu với những câu thơ, đoạn thơ khác của tác giả hoặc của tác giả khác. Nếu là đề
mở, cần vận dụng linh hoạt các thao tác nghị luận phù hợp, có hiệu quả, nhất là thao
tác giảng bình.

c. Viết đoạn văn phân tích đoạn thơ trên.
Gợi ý:
a. Hệ thống câu hỏi có thể là:
- Đoạn văn có những từ ngữ nào đặc sắc? Tác dụng như thế nào?( Một loạt phó từ : vẫn,
đã, cũng kết hợp với những động từ diễn tả sự tồn tại:còn, vơi, bớt -> sự biến đổi rất tinh tế
của các hiện tượng tự nhiên, của thời tiết, khí hậu lúc sang thu)
- Biện pháp tu từ nghệ thuật có giá trị trong đoạn thơ là gì? ( Biện pháp nhân hoá-ẩn dụ:
Sấm- ẩn dụ cho những vang động, những bất thường, sóng gió của cuộc sống; hàng cây đứng tuổi
ẩn dụ cho những con người đã “sang thu” già dặn, chín chắn,…-> Ý nghĩa triết lí về cuộc
sống…)
- Giọng điệu đoạn thơ như thế nào? ( nhẹ nhàng, sâu lắng, đậm chất suy tư-> bài học ý
nghĩa càng trở nên thấm thía sâu sắc với người đọc, người nghe)
- Nội dung bao trùm đoạn thơ là gì? ( diễn tả tinh tế những biến chuyển rõ rệt của thời
tiết, khí hậu lúc sang thu và đưa ra bài học triết lí về con người, về cuộc đời).
- Vai trò, vị trí của đoạn thơ đối với bài thơ như thế nào? ( đoạn thơ không chỉ góp phần bổ
sung, hoàn chỉnh bức tranh sang thu của thiên nhiên đất trời và sự sang thu của đời người mà còn
thể hiện những bài học chiêm nghiệm quý giá về cuộc đời con người. Với nội dung ấy đoạn thơ đã
góp phần không nhỏ đối với thành công và giá trị, sức sống lâu bền của toàn bài thơ…)
b. Viết đoạn văn trình bày cảm nhận về đoạn thơ trên.
Tham khảo:
“ …Vẫn là nắng mưa, sấm chớp, bão giông như mùa hạ, nhưng mức độ đã khác rồi. Để
ý sẽ thấy cái gì cũng bắt đầu đi vào chừng mực, vào thế ổn định. Và cái “đứng tuổi” của cây
là một cái chốt cửa để mở sang một thế giới khác: Thế giới sang thu của hồn người. Vẻ chín
chắn điềm tĩnh của cây trước sấm sét bão giông hay đó chính là sự từng trải chín chắn của
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
13
con người sau những dâu bể của cuộc đời?Ở vào cái tuổi ấy, con người một mặt sâu sắc thêm,
mặt khác lại khẩn trương gấp gáp hơn vì quỹ thời gian không còn nhiều nữa. Thì ra trước mắt
việc đi mãi, ngoảnh đầu thu đến rồi. Bốn mùa luân chuyển vô hình, lặng lẽ: bỗng chợt thu.
Đời người vất vả, tất bật bận rộn, lo toan bỗng chốc thấy mái tóc pha sương: sững sờ nhìn

đoạn, những câu không góp phần nhiều vào việc thể hiện giá trị của bài thơ.
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
14
- Cần thấy được vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp của tác giả, cũng như của cả
một giai đoạn văn học, một thời kì văn học, thậm chí là cả của nền văn học dân tộc.
- Có những bài thơ, nhất là những bài thơ dài, người viết có thể trình bày cách
cảm, cách hiểu của mình theo chiều dọc ( về từng phương diện nội dung của bài). Khi
khai thác từng phương diện cũng yêu cầu khai thác cả những tín hiệu nghệ thuật đặc
sắc góp phần diễn đạt nội dung ấy.
- Dàn bài chung:
a. Mở bài
+ Giới thiệu khái quát về tác giả ( vị trí văn học, phong cách nghệ thuật của tác
giả mà không đi sâu vào những phương diện khác).
+ Giới thiệu bài thơ, nội dung bao trùm bài thơ
+ Bước đầu đánh giá về bài thơ đó (tuỳ theo đề bài và nội dung cụ thể của bài thơ
mà đưa ra những đánh giá, nêu ấn tượng cho phù hợp…)
b.Thân bài
+ Có thể nêu sơ qua hoàn cảnh ra đời của bài thơ.
+ Tiến hành thuyết minh, phân tích, bình giảng, nêu cảm xúc về lần lượt từng
khổ thơ đoạn thơ (theo bố cục) các phương diện cụ thể của bài thơ. Chú ý, làm nổi bật
được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật. Trong khi trình bày, có thể liên hệ so
sánh với những bài thơ, đoạn thơ, câu thơ khác để ý được nổi bật, thuyết phục.
c.Kết bài:
+ Đánh giá vai trò vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp văn học của tác giả, đối với
văn học dân tộc nói chung
+ Khẳng định lại những cảm xúc, những suy nghĩ tâm đắc nhất về bài thơ.
Ví dụ: Cảm nhận về bài thơ “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của
Nguyễn Khoa Điềm.
1. Mở bài: Giới thiệu bài thơ và nêu những ấn tượng chung về bài thơ
2. Thân bài:

thiết, quan trọng ở dạng bài này là người viết phải biết phân tích đánh giá được những
nghệ thuật ấy nhắm biểu đạt nội dung, tư tưởng nào mà tác giả gửi gắm. Nếu không
nghệ thuật có hay có đặc sắc đến mấy cũng thành vô nghĩa.
- Sau khi làm xong phải biết đánh giá giá trị, vai trò của phương diện nội dung
hay nghệ thuật vừa nghị luận đối với giá trị của toàn bài thơ.
- Dàn bài :
Mở bài: Giới thiệu bài thơ và phương diện nội dung hay nghệ thuật mà đề bài
yêu cầu nghị luận. Đồng thời nêu ấn tượng chung về giá trị của phương diện đó trong
toàn bài thơ.
Thân bài: Bám vào bài thơ để tìm các hình ảnh, câu từ liên quan đến vấn đề
nghị luận để khai thác trình bày.
Kết bài: Khẳng định giá trị chung của cả bài thơ nói chung và của nội dung vừa
nghị luận nói riêng. Có thể liên hệ mở rộng.
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
16
Ví dụ 1: Vẻ đẹp của tình bà cháu trong bài thơ “Bếp lửa” ( Bằng Việt)
a. Mở bài: giới thiệu tình bà cháu trong bài thơ và ấn tượng chung về tình cảm đó.
b. Thân bài:
* Vẻ đẹp của tình bà thiêng liêng, cao cả
- Bà đã hết lòng yêu thương, dạy bảo, chăm sóc cháu, sẻ chia những buồn vui cùng
cháu. bà vừa là người bà của cháu, đồng thời cũng là người mẹ người cha, người bạn của
cháu vậy.
- Bà đã thắp sáng lên ngọn lửa của tình yêu thương, của ý chí nghị lực, của sức sống
mãnh liệt và niềm tin tưởng trong lòng cháu
-> Bà là người chuẩn bị cho cháu đầy đủ hành trang để vào đời, để cháu lớn khôn
trưởng thành; là người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa cho bao thế hệ cháu con…
* Vẻ đẹp của tình cháu dành cho bà: Sâu nặng, chân thành…
- Cháu thương bà vất vả, khó nhọc, lo lắng và quan tâm bà…
- Biết nghe lời bà
- Cháu yêu quý, tự hào, ngợi ca, biết ơn bà

THCS Chu Văn An- Hải Phòng, đăng trên “Văn học & Tuổi trẻ”cho HS tham khảo)
Dạng 3: Nghị luận về nhân vật trữ tình trong bài thơ
- Nhân vật trữ tình ở đây là người bày tỏ thể hiện cảm xúc, chứ không phải là
nhân vật là đối tượng trữ tình trong bài thơ. Vậy nên, nghị luận về nhân vật này là
nghị luận về diễn biến tâm trạng, tình cảm cảm xúc của nhân vật thể hiện trong bài
thơ. Có nhân vật trữ tình trực tiếp ( thường là tác giả, tự xưng) và nhân vật trữ tình
nhập vai ( nhập vai vào một nhân vật khác, nhưng đằng sau đó vẫn là tâm tư tình cảm
của tác giả gửi gắm thể hiện).
- Tâm trạng cảm xúc của nhân vật trữ tình luôn có sự vận động, phát triển thay
đổi. Muốn nắm bắt được điều này, thường chúng ta nên phân chia bài thơ ra từng
phần đoạn tương ứng với tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của tâm trạng được thể hiện
trong đó.
- Lần theo mạch cảm xúc đó để phân tích, trình bày những suy nghĩ, nhận xét của
mình.Khi trình bày cần cùng lúc phải chú ý hai điểm: Một là các tín hiệu nghệ thuật
tiêu biểu ( chi tiết, hình ảnh, cách ngắt nhịp, cách dùng từ, biện pháp tu từ… ). Hai là,
tâm tư tình cảm mà tác giả thể hiện qua những tín hiệu nghệ thuật đó.
- Sau khi phân tích cần tổng hợp, khái quát nâng cao theo cách định danh, gọi tên
cho tâm trạng, cảm xúc, tình cảm.
- Có thể liên hệ tới tâm trạng của những nhân vật khác tương đồng hoặc tương
phản để bài viết sâu sắc hơn.
- Nên có những lời bình, bày tỏ thái độ nhận xét của mình về nhân vật để bài viết
có dấu ấn riêng.
Tóm lại, có thể đặt ra và trả lời những câu hỏi sau:
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
18
+ Nhân vật trữ tình trong bài thơ thuộc kiểu nhân vật nào?
+ Bài thơ có thể chia những phần đoạn như thế nào? Mỗi phần đoạn ấy thể hiện tâm
trạng cảm xúc gì của nhân vật? Những tín hiệu nghệ thuật nào góp phần diễn tả tâm
trạng, cảm xúc ấy?Tình cảm cảm xúc của nhân vật đó gợi liên tưởng đến nhân vật nào?
+ Tâm trạng cảm xúc của nhân vật trữ tình có thể là tiểu biểu cho thế hệ, tầng lớp

cống hiến, đóng góp một phần nhỏ bé của mình- một mùa xuân nho nhỏ, mong muốn nhắn nhủ
mọi thế hệ chúng ta hãy chung tay vào góp sức xây dựng đất nước để cho mùa xuân đất nước
sẽ càng tươi đẹp hơn. ( phân tích dẫn chứng)
- Cả bài thơ là một khúc ca xuân, một khúc ca tự hào, ngợi ca đất nước quê hương
( phân tích kĩ hơn ở khổ cuối) của nhà thơ, của những con người yêu đất nước thiết tha.
c. Kết bài:
- Khẳng định: Tình yêu thiên nhiên, đất nước với những cảm xúc chân thành thiết tha
của Thanh Hải chính là một nội dung cơ bản làm nên giá trị, sức sống lâu bền của bài thơ.
- Cảm nghĩ, rút ra bài học cho bản thân, cho thế hệ trẻ về lí tưởng sống, cống hiến…
*** Lưu ý: Nếu nhân vật là đối tượng trữ tình thì phân tích, khai thác như nhân
vật trong tác phẩm tự sự ( theo từng đặc điểm, từng biều hiện về ngoại hình, về cuộc
đời, cuộc sống, về cử chỉ, hành động….khái quát lên phẩm chất tính cách nhân vật).
II.2. Kĩ năng làm bài nghị luận về một tác phẩm truyện(đoạn trích)
1. Kĩ năng chung
- Đối với một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, khi nghị luận ta cần chú ý khai
thác những yếu tố hình thức như nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tình huống truyện,
nghệ thuật miêu tả xây dựng nhân vật ( thông qua ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời
nói, nội tâm…), việc sáng tạo những chi tiết, những hình ảnh giàu ý nghĩa, hay việc
sử dụng các biện pháp tu từ…Từ đó làm toát lên giá trị nội dung của tác phẩm ( nội
dung hiện thực, nội dung tư tưởng).
- Cần đọc kĩ tác phẩm hoặc đoạn trích để khái quát được giá trị nội dung và nghệ
thuật cơ bản. Biết tóm tắt đầy đủ các sự việc, nội dung chính mà tác phẩm( đoạn trích) kể
lại, biết hệ thống các nhân vật và mỗi nhân vật ấy thuộc kiểu loại nhân vật nào. Đồng
thời ghi nhớ, thuộc lòng những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu viết về nhân vật, sự việc…
- Tìm hiểu thêm những thông tin về tác giả và hoàn cảnh ra đời tác phẩm để hỗ
trợ cho việc nghị luận được sâu sát.
- Nghị luận về một tác phẩm văn xuôi thường có đối tượng yêu cầu là:
+ Nghị luận về toàn bộ tác phẩm
+ Nghị luận về một phương diện nội dung (Giá trị nội dung cụ thể, một nhân vật
cụ thể của tác phẩm)

- Dàn bài chung:
a. Mở bài:
+ Giới thiệu về tác phẩm, đoạn trích ( xuất xứ, giá trị)
+ Nêu ấn tương chung về tác phẩm, đoạn trích
b. Thân bài: Nên lần lượt trình bày các ý cơ bản sau
+ Tóm tắt thật ngắn gọn nội dung hoặc cốt truyện của tác phẩm đề làm nền cho
việc nghị luận về giá trị nội dung và nghệ thuật tác phẩm.
+ Nghị luận về giá trị nội dung (thường tiến hành trước): Mỗi nội dung trình bày
một đoạn, có phân tích nhân vật, sự việc để làm rõ.
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
21
+ Nghị luận về nghệ thuật: Chỉ cần trình bày một đoạn, tập trung phân tích kĩ ở nét
nghệ thuật thành công nhất, còn những nghệ thuật khác có thể chỉ cần liệt kê ra mà thôi.
c. Kết bài: Khẳng định, nâng cao về giá trị tp, tài năng nghệ thuật, tư tưởng tình
cảm của tác giả cũng như những đóng góp của tác phẩm, tác giả vào văn học nói
chung.
Ví dụ: Cảm nhận về “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
a. Mở bài: Giới thiệu tác giả tác phẩm và nhận xét chung: đây là một tác phẩm rất có giá
trị, để lại nhiều những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc người nghe.
b. Thân bài:
* Tóm tắt tp (theo nhân vật)
* Nghị luận về giá trị nội dung
- Nội dung hiện thực
- Nội dung nhân đạo
* Nghị luận về giá trị nghệ thuật
c. Kết bài:Khẳng định nâng cao giá trị tác phẩm…
Dạng 2. Nghị luận về một phương diện nội dung hay nghệ thuật của tác
phẩm, đoạn trích
1. Vì chỉ nghị luận về một phương diện, khía cạnh nào đó trong toàn bộ tác
phẩm, đoạn trích nên chỉ cần dựa vào những chi tiết, sự việc, nhân vật tiêu biểu thể

gợi cảm tác giả miêu tả khắc hoạ một khung cảnh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích thãm đẫm
tâm trạng nhân vật. Hình ảnh cảnh vật thì ngổn ngang “ Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm
kia…” như sự ngổn ngang trăm nỗi tơ vò của Thuý Kiều . Không gian bát ngát bốn bề, sắc
màu đậm như loang ra, hình ảnh con người hiện ra trở nên bé nhỏ…đó chính là khung cảnh
gợi sự cô đơn, lẻ loi, tâm trạng thẫm đẫm nỗi buồn của Kiều trong cảnh ngộ lưu lạc tha
hương, xa người yêu, xa gia đình…Cảnh như thế, lòng người như thế và Nguyễn Du đã khái
quát thật chính xác trong câu cuối đoạn: “ Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”.
- Tám câu cuối: Cảnh được miêu tả dưới cái nhìn rất buồn của Thuý Kiều, cho nên cảnh
mang đậm nỗi buồn nhân vật.Đặc biệt qua mỗi hình ảnh thiên nhiên khác nhau,tác giả gợi
một cảnh ngộ, một nỗi buồn riêng của nàng Kiều.
Ở đây cảnh được miêu tả xa đến gần, sắc màu nhạt đến đậm, từ tĩnh đến động…với
nhiều từ láy, nhiều tính từ rất gợi tả gợi cảm, nhiều hình ảnh giàu sức gợi liên tưởng…Mỗi
đặc điểm của cảnh là một nét cảnh ngộ, tâm trạng nhân vật.
Cảnh được vẽ thành một bộ tranh tứ bình thì đó cũng là bộ tứ bình liên hoàn về tâm
trạng Thuý Kiều. Nỗi buồn nhân vật được thể hiện mỗi bức một sâu sắc hơn. Cảnh ngộ nhân
vật mỗi bức cũng một đáng thương hơn…
c. Kết bài: Khẳng định lại sự thành công của tác giả trong nghê thuật tả cảnh ngụ tình
và tác dụng của nghệ thuật này trong giá trị của tác phẩm “Truyện Kiều”.
Ví dụ 2 (Nghị luận về một phương diện nội dung): Suy nghĩ về tình cha con trong
đoạn trích “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
Gợi ý :
N.T.Vững- Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho học sinh lớp 9
23
a. Mở bài: Giới thiệu “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là truyện ngắn viết về tình
cha con của người cán bộ kháng chiến đã hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc.
b.Thân bài: Trình bày, phân tích được 2 luận điểm sau
+ Tình cảm của bé Thu dành cho cha thật cảm động và sâu sắc
- Bé thu là cô bé có tình cảm son sắt, thuỷ chung với ba của mình
- Khi chia tay, phút giây nó kịp nhận ra ông Sáu là người cha trong bức ảnh, nó vừa
hạnh phúc, vừa lưu luyến không muốn rời xa, vừa yêu thương tự hào về ba của mình

+ Nêu ấn tượng chung về nhân vật ( tránh nêu ra cả những đặc điểm của nhân vật
khi trong đề bài không giới hạn trước).
b.Thân bài:
* Lần lượt nghị luận làm rõ những đặc điểm tiêu biểu của nhân vật về
+ Hoàn cảnh cuộc sống, công việc…
+ Hình dáng diện mạo ( nếu có)
+ Phẩm chất, tính cách: Mỗi nét của phẩm chất tính cách tiêu biểu có thể viết
thành một đoạn . Chú ý bàm vào tác phẩm, đoạn trích tìm những chi tiết, hình ảnh cụ
thể miêu tả việc làm, hành động, lời nói, suy nghĩ nhân vật để phân tích làm rõ đặc
điểm phẩm chất, tính cách…
* Nâng cao, khái quát về những đặc điểm của nhân vật cho cả thế hệ, tầng lớp…
Khái quát chung về nghệ thuật miêu tả xây dựng nhân vật cũng như tình cảm
thái độ của tác giả đối với nhân vật.
c. Kết bài: Khẳng định, khái quát về nhân vật và nêu cảm nghĩ của bản thân đối
với nhân vật…
Ví dụ 1: Cảm nhận của em về nhân vật Thuý Kiều qua các văn bản đã học, đọc thêm.
Gợi ý:
a. Mở bài: Giới thiệu về nhân vật Thuý Kiều và khẳng định: Thuý Kiều là hình tượng
đẹp, gợi rất nhiều những tình cảm, niềm thương yêu đối với mỗi người.
b. Thân bài: Lần lượt nghị luận về
- Vẻ đẹp tài sắc tuyệt đỉnh, tâm hồn đa sầu đa cảm…( Chị em Thuý Kiều)
- Cuộc đời bất hạnh, sóng gió…( Mã Giám Sinh mua Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích)
- Luôn giữ được phẩm hạnh, đạo đức tốt đẹp ( Kiều ở lầu Ngưng Bích, Thuý Kiều báo ân
báo oán)
+ Đức hi sinh, lòng vị tha
+ Tình yêu chung thuỷ sắt son
+ Lòng hiếu thảo với cha mẹ
+ Ân oán rạch ròi, cư xử khôn khéo đúng mực…
-> Thuý Kiều là nhân vật hội tụ đầy đủ nhất những nỗi đau đớn bất hạnh, những nét đẹp
truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, nhất là trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status