Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiểu học là bậc học mở rộng cho kiến thức ở tương lai, là nền móng
vững chắc cho tồn bộ hệ thống quốc dân. Trong đó Tiếng Việt chiếm thời
lượng nhiều nhất so với thời lượng của các mơn học khác. Nó là cơ sở hình
thành nhân cách con người Việt Nam và là cơ sở cho các mơn học khác.
Tiếng Việt là mơn học cơng cụ, là chìa khóa, là phương tiện để học
sinh tiếp nhận tri thức lồi người. Trong đó, phân mơn tập đọc có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong chương trình Tiểu học vì nó đảm nhiệm việc hình thành
kĩ năng nghe- đọc- nói cho học sinh, những kĩ năng quan trọng hàng đầu
trong q trình tiếp nhận tri thức, cho nên đọc (đặc biệt là đọc hiểu) trở thành
đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với người đi học.
Đọc hiểu là một q trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm
thanh và thơng hiểu nó. Thơng qua dạy đọc bồi dưỡng cho học sinh tình u
Tiếng Việt, u cái thiện, cái đẹp hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của Tiếng Việt mà cái đích cuối cùng là sự phát triển tồn diện của
học sinh. Nhưng kĩ năng đọc hiểu của học sinh chưa cao, chất lượng đọc hiểu
của các em chưa đạt u cầu, dẫn đến kết quả chưa đáp ứng được u cầu của
việc hình thành kĩ năng đọc cơ bản quan trọng và khơng tránh khỏi việc tiếp
thu kiến thức các mơn học khác chậm, kết quả học tập của học sinh thấp, chất
lượng giáo dục khơng cao. Làm thế nào để nâng cao chất lượng đọc hiểu cho
học sinh, giúp các em khơng chỉ biết đọc to, đọc rõ, đọc lưu lốt, biết ngắt,
nghỉ, hạ giọng, cao giọng mà các em còn biết đọc hiểu văn bản, hiểu được nội
dung tác phẩm, tư tưởng, tình cảm tác giả, góp phần hình thành nhân cách con
người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa? Câu hỏi ấy đặt ra với nhiều giáo viên, đặc
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
1
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
Tuy nhiên khơng phải lúc nào đọc học sinh cũng hiểu được dễ dàng vì
còn phải chú ý vào mặt chữ để đọc lưu lốt. Ngồi ra, do nghèo nàn về ngơn
từ, hạn chế về khả năng liên kết câu, ý, nên việc hiểu nội dung rất khó khăn.
2. THỰC TRẠNG:
- Hàng ngày các em thường giao tiếp bằng ngơn ngữ 1 (Ngơn ngữ 1:
Tiếng H’re hay tiếng mẹ đẻ), nên khi đi học học sinh khó phát âm đúng ngơn
ngữ 2 (Tiếng việt);
- Thời gian sử dụng ngơn ngữ 1 gấp 6 lần ngơn ngữ 2;
- Ở tại địa phương nơi các em ở cũng khơng có người rèn nói đúng cho
các em;
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
3
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
- Chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý khi nghe giáo viên
đọc.
3. CÁC BIỆN PHÁP
3.1 Để học sinh đọc đúng giáo viên phân loại học sinh và tổ chức
cho các em đọc theo nhóm đối tượng:
BẢNG PHÂN LOẠI HỌC SINH THEO KHẢ NĂNG ĐỌC ĐÚNG
Năm học Lớp
TS
HS
Số em
biết đọc đúng
Số em
đọc chậm
Số em
đọc chưa đúng
SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ %
BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ ĐỌC ĐÚNG
Năm học 2012 - 2013
TS
HS
Điểm
Các
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
25 KSCL đầu năm 02 8 03 12 8 32 12 48
25 KTĐK cuối kì I 05 20 07 28 09 36 04 16
25 KTĐK cuối kì II 08 32 07 28 10 40
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
5
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
Năm học 2013 - 2014
T S
HS
Điểm
Các
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
22 KSCL đầu năm 01 5 02 9 05 23 14 63
22 KTĐK cuối kì I 03 14 06 27 09 41 04 18
5. TIỂU KẾT:
Đọc đúng là kĩ năng tái hiện âm thanh một cách chính xác, khơng thừa,
khơng sót âm, vần, tiếng, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ. Kĩ năng đọc đúng giúp học
sinh hiểu bài nhanh hơn, tốt hơn. Vì vậy, rèn kĩ năng đọc đúng là một việc
làm khơng thể thiếu trong giờ dạy tập đọc.
Đây là cơ sở đề xuất các biện pháp tối ưu nhất nhằm giúp học sinh lớp
gia hào hứng phần tìm hiểu nội dung bài. Hơn 99% học sinh là dân tộc Hre,
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
7
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
con nhà nơng nên ở nhà các em còn phải phụ giúp gia đình nên ít có thời gian
chuẩn bị bài.
* Lớp tơi phụ trách năm học này là một lớp học đặc biệt với 02 học
sinh có vấn đề thần kinh (thiểu năng trí nhớ). Vì vậy, nhận thức của các em
còn nhiều hạn chế, nhất là phần trả lời các câu hỏi cho nên chất lượng đọc
hiểu còn thấp.
2.2. Thống kê phân loại học sinh:
Trong 2 năm học gần đây, tơi đều được nhà trường phân cơng chủ
nhiệm và giảng dạy lớp 4. Năm nào cũng vậy, để định hướng cho việc lập kế
hoạch bài giảng, kế hoạch dạy đọc hiểu cho học sinh một cách hiệu quả tơi đã
tiến hành phân loại học sinh theo khả năng đọc hiểu của các em, kết quả cụ
thể như sau:
BẢNG PHÂN LOẠI HỌC SINH THEO KHẢ NĂNG ĐỌC HIỂU
Năm học
TS
HS
Số em
biết đọc hiểu
Số em
đọc hiểu chậm
Số em
chưa biết đọc hiểu
SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ %
2012-2013 25 05 20,0 7 28,0 13 52,0
2013-2014 22 02 9,1 7 31,8 13 59,1
nội dung bài đọc giúp học sinh phát triển năng lực học tập, đơi lúc bỏ qua
hoặc phớt lờ những trường hợp học sinh khơng hiểu hoặc hiểu sai câu hỏi
giáo viên nêu ra, thay vào đó giáo viên cung cấp nội dung bài một cách áp đặt
dẫn đến chất lượng giờ dạy tâp đọc chưa cao.
2.4 Ngun nhân
2.4.1. Ngun nhân từ học sinh:
- Học sinh chưa phát huy tính tích cực trong học tập, kĩ năng đọc hiểu
yếu, còn lúng túng khi trả lời câu hỏi hoặc giải nghĩa từ;
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
9
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
- Học sinh khơng có thói quen đọc thường xun, các em chỉ đọc
những bài tập đọc do giáo viên u cầu, thời gian còn lại trong ngày các em
quan tâm nhiều đến các lĩnh vực: trò chơi trên máy tính, phim ảnh, các trò
chơi khác…;
- Học sinh chưa có ý thức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu, khi đọc một câu
chuyện, một tác phẩm văn học chỉ là đọc sng chứ khơng có ý tìm hiểu nội
dung câu chuyện, nội dung văn bản mình đọc;
- Học sinh khơng hiểu nghĩa từ, chưa biết tra cứu từ điển.
2.4.2 Ngun nhân từ giáo viên:
- Giáo viên chưa xây dựng thói quen đọc thường xun cho học sinh;
- Giáo viên chưa chú trọng đến việc rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh;
- Một số giáo viên còn xem nhẹ việc rèn đọc nhất là đọc hiểu, chỉ chú
trọng nhiều đến việc luyện tốn, luyện văn cho học sinh;
- Chưa phát huy mối quan hệ giữa dạy phân mơn Tập đọc với dạy phân
mơn Luyện từ và câu hay các mơn học khác;
- Giáo viên còn nặng về truyền đạt qua sử dụng phương pháp dạy học
truyền thống khơng kích thích được hứng thú học tập của học sinh.
2.4.3 Ngun nhân từ phụ huynh học sinh:
để hiểu văn bản. Đọc thầm nhanh hơn đọc thành tiếng từ 1,5 đến 2 lần. Nó có
lợi thế hơn hẳn đọc thành tiếng trong việc tiếp nhận, thơng hiểu nội dung văn
bản vì người ta khơng chú ý đến phát âm mà chỉ tập trung để hiểu nội dung
mình đọc;
- Khơng phải văn bản nào cũng chỉ gồm những câu đơn giản, có độ dài
vừa phải dễ hiểu với tất cả học sinh. Một số văn bản có những câu văn có cấu
trúc phức tạp mà giáo viên thường chọn để luyện đọc thành tiếng. Phần lớn
những câu này chứa đựng ý quan trọng thể hiện nội dung chính của bài.
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
11
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
Từ cuối lớp 1 đã có hình thức đọc thầm và càng lên lớp trên thì kĩ năng
này càng được củng cố. Kết quả đọc thầm giúp học sinh hiểu nghĩa của từ,
nghĩa của cụm từ, câu, đoạn, bài, tức là tồn bộ những gì đọc được. Bởi vậy
khi dạy đọc thầm giáo viên cần:
+ u cầu đọc thầm gắn với nhiệm vụ cụ thể như: đọc thầm và trả lời
câu hỏi; tìm hình ảnh, chi tiết … để học sinh vừa đọc vừa định hướng câu trả
lời.
+ Lưu ý học sinh: để hiểu và nhớ được những gì mình đọc, các em
khơng phải xem các từ đều quan trọng như nhau mà cần sàn lọc để giữ laị
những từ “ chìa khóa” , những nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản. Đó là những từ
giúp ta hiểu được nội dung của bài.
+ Tiếp đó giáo viên hướng học sinh đến những câu quan trọng của bài,
những câu nêu ý chung tồn bài.
+ Sau khi học sinh đã hiểu nội dung bài đọc, thấy được vẻ đẹp của ngơn
từ, vẻ đẹp của cách nói văn chương, giáo viên giúp các em phát hiện tín hiệu
nghệ thuật và đánh giá được giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung .
• Ví dụ: Bài “Những hạt thóc giống” TV4, tập 1- có câu: “Vua ra lệnh
phát cho mỗi người dân một thúng thóc về gieo trồng và giao hẹn: Ai thu
đoạn ý thì cần nhận ra dấu hiệu nội dung và hình thức để chia đoạn ý.
- Đối với tác phẩm tự sự mà các sự kiện được trình bày theo diễn biến
thời gian, giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu các từ ngữ chỉ thời gian để tìm
đoạn ý.
• Ví dụ : Bài: “Ơng Trạng thả diều” TV4, tập 1- Bắt đầu mỗi đoạn bằng
các từ ngữ:
Đoạn 1: Vào đời vua Trần….
Đoạn 2: Lên sáu tuổi….
Đoản 3: Sau vì nhà nghèo….
Đoạn 4: Thế rồi….
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
13
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
- Đối với tác phẩm trữ tình, giáo viên cần hướng dẫn các em căn cứ
vào các câu văn, câu thơ có sự chuyển đổi cảm xúc, tâm trạng để xác định
đoạn ý.
• Ví dụ: Bài: “Gà Trống và Cáo” TV4, tập 1.
Đoạn 1 (10 dòng đầu): Lời Cáo dụ Gà, tưởng như bình thường Gà sẽ
tin.
Đoạn 2 (6 dòng tiếp): Gà thơng minh, biết Cáo dụ nhưng làm bộ tin
rồi vạch trần thói xấu của Cáo một cách rất tự nhiên.
Đoạn 3: (4 dòng còn lại): Cáo lộ rõ bộ mặt. Gà rất vui sướng vì
khơng bị Cáo lừa.
* Sau khi đã xác định được câu, đoạn quan trọng rồi - cần làm rõ nghĩa
câu và nghĩa của đoạn. Giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh biết phân tích
các thành phần câu trong những câu dài, câu ghép, câu đảo cú pháp hoặc câu
có cấu trúc đặc biệt.
• Ví dụ: Bài “Tiếng cười là liều thuốc bổ” TV4, tập 2; có câu: “Bởi vì
cười tốc độ thở của con người lên đến 100 ki- lơ- mét một giờ, các cơ mặt
thiếu cái dáng cong, dáng nghiêng, chiều quằn, chiều lượn của cây xồi, cây
nhãn. Lá nhỏ xanh vàng, hơi khép lại, tưởng như lá héo. Vậy mà khi trái chín,
hương tỏa ra ngào ngạt, vị ngọt đến đam mê”.
+ Đoạn văn trên có thể chia làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm ba câu
đầu, nhóm thứ hai có một câu cuối. Đọc câu một, hai, ba học sinh phải biết
“dáng, thân, cành, lá” tổng hợp thành “vẻ ngồi” hoặc “cái dáng, cái vẻ” của
sầu riêng. Các từ “khẳng khiu, thẳng đuột…khép lại tưởng như lá héo” phải
được khái qt lên thành một nghĩa chung là “xấu xí”. Từ đó rút ra nghĩa
chung của ba câu này là dáng vẻ xấu xí của cây sầu riêng. Nhóm hai là một
câu ghép có hai chủ ngữ và hai vị ngữ đó là “hương - vị”, “tỏa ra ngào ngạt-
ngọt đến đam mê”. Học sinh phải tổng hợp thành ý nhỏ là: hương vị độc đáo
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
15
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
của quả sầu riêng. Hai nhóm được nối bằng từ “vậy mà” thể hiện một cách lập
luận đối lập càng tăng thêm sự kì lạ của hương vị sầu riêng.
+ Sau đó học sinh có thể nêu ý của đoạn là: mặc dù hình dáng xấu xí
nhưng sầu riêng có hương vị rất độc đáo và quyến rũ.
* Ngồi ra đọc diễn cảm cũng là một thao tác giúp học sinh hiểu sâu sắc
hơn ý của đoạn (nhất là với văn bản nghệ thuật). Lúc này nhờ âm thanh - các
ý của tác phẩm được vang lên; học sinh sẽ hứng thú hơn với nội dung của
đoạn và hiểu được đoạn đó muốn biểu đạt điều gì. Các em mới cảm nhận
được hết tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm qua bài tập đọc. Từ đó học
sinh nhận ra nội dung một cách dễ dàng hơn.
3.2.2. Giải nghĩa từ (giúp học sinh hiểu nghĩa từ)
* Để hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài đạt kết quả tốt, ngay từ khi ban
đầu u cầu học sinh tiếp cận văn bản nhằm mục đích đọc đúng (luyện đọc),
giáo viên cần giúp các em hiểu nghĩa của một số từ ngữ có tác dụng góp phần
nâng cao kĩ năng đọc- hiểu (từ ngữ được chú giải trong sách giáo khoa, từ ngữ
thể);
- Miêu tả sự vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm hoặc tính chất được
gọi tên bằng từ ngữ đó.
• VÍ DỤ:
+ Bài “Chú Đất Nung”- TV4, tập 1; Với học sinh vùng miền núi (đặc
biệt là vùng núi ở huyện Ba Tơ) gia đình các em chưa phải dùng đống rấm để
giữ lửa, cũng khơng quen sử dụng từ “cời”. Vì vậy, tơi phải giải nghĩa từ
“đống rấm” dựa vào chú giải sách giáo khoa, song cũng cần nói thêm tác
dụng của đống rấm, ơng Hòn Rấm; rồi tìm từ đồng nghĩa “khều” để giải nghĩa
từ “cời” (gạt vật vụn: tro, than ra bằng que)
+ Bài “Sầu riêng”- TV4, tập 2. Với từ “đam mê”, tơi hướng dẫn các em
tìm từ thay thế như: thích thú, u thích, khát khao…Sau đó cho các em so
sánh và thấy được “đam mê” là sự ham thích q mức bao gồm cả sự u
thích, khát khao và thèm muốn. Vì vậy, trong câu văn này dùng từ “đam mê”
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
17
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
là chính xác nhất, hay nhất. Từ “đam mê” còn khẳng định sức hấp dẫn, giá trị
q hiếm của quả sầu riêng - đặc sản của miền Nam nước ta. Đây chính là ý
nghĩa khái qt của bài đọc.
+ Bài “Truyện cổ nước mình”- TV4, tập 1. Từ “đa tình” nghĩa trong bài
là tấm lòng giàu tình cảm, ln lo lắng quan tâm đến nhiều người, nhiều việc
trong cuộc sống chứ khơng phải có nghĩa như trong câu: “Anh chàng đa tình”.
+ Bài “Hoa học trò”,TV4, tập 2. Với từ “đỏ rực” trong hình ảnh “một
góc trời đỏ rực”- để giải nghĩa được từ này, trước hết tơi cho các em quan sát
tranh. Từ hoạt động quan sát, các em có được nhận xét về màu sắc, đặc điểm,
tính chất của hoa phượng nở rộ với số lượng rất nhiều. Từ đó, các em dễ dàng
giải thích được “đỏ rực” có nghĩa là: đỏ thắm, tươi tắn và tỏa sáng ra xung
quanh.
q khả năng nhận thức của các em).
• Ví dụ:
- Bài “Người ăn xin” TV4, tập 1:
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
19
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
Câu hỏi 1: Hình ảnh ơng lão đáng thương như thế nào? Các em thường
đọc cả đoạn văn để trả lời chứ khơng chịu phát huy năng lực tư duy của bản
thân. Vì vậy cần thay bằng câu hỏi: Tìm những từ ngữ miêu tả ơng lão ăn
xin? Em có nhận xét gì về ơng lão?
Hoặc bài: “Vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi” TV4,tập 1:
Câu hỏi 2: Bạch Thái Bưởi đã thắng trong cuộc cạnh tranh khơng
ngang sức với các chủ tàu người nước ngồi như thế nào? Có thể thay bằng
câu hỏi: Bạch Thái Bưởi đã làm gì trước sự cạnh tranh của các chủ tàu người
nước ngồi?
- Bài “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu” TV4, tập 1 (tiết 2):
+ Câu hỏi 2: Dế Mèn đã làm cách nào để bọn nhện phải sợ? giáo viên
có thể chia thành các câu hỏi nhỏ:
Dế Mèn đã hành động như thế nào khi thấy chúa trùm nhà nhện?
Dế Mèn đã dùng lời lẽ nào để ra oai?
Thái độ của bọn nhện ra sao khi gặp Dế Mèn?
+ Câu hỏi 4: Để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh lựa chọn một
danh hiệu phù hợp nhất tặng cho Dế Mèn, giáo viên cần giải thích ngắn gọn
về nghĩa của từng danh hiệu và chấp nhận danh hiệu do học sinh lựa chọn
(vì mỗi danh hiệu đều ghi nhận những phẩm chất đáng ca ngợi ở Dế Mèn).
Song, muốn khẳng định danh hiệu thích hợp nhất đối với Dế Mèn trong
truyện là danh hiệu “HIỆP SĨ”, giáo viên chỉ cần gợi ý bằng câu hỏi dẫn dắt
cụ thể như: Với hành động mạnh mẽ, kiên quyết và hào hiệp nhằm chống lại
áp bức, bất cơng ln che chở, bênh vực, giúp đỡ kẻ yếu - Dế Mèn được
chỉnh hoặc cho học sinh khá nói trước rồi cho học sinh yếu nhắc lại. Có
những học sinh hiểu được ý nhưng khi diễn đạt bằng lời thì lại lúng túng.
Giáo viên tích cực gọi nhiều lần học sinh đó để khuyến khích tính bạo dạn của
các em. Với những học sinh đọc chậm, giáo viên đưa ra u cầu phù hợp để
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
21
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
các em hăng hái, tích cực học tập. Nếu học sinh trả lời chưa đúng hoặc thiếu
ý, giáo viên nhẹ nhàng nhắc nhở, hướng dẫn để học sinh trả lời tốt hơn.
Đây là vấn đề quan trọng nhất trong phần hướng dẫn học sinh tìm
hiểu bài. Để đạt hiệu quả cao, giáo viên cần phải quan tâm tới cách tổ chức
có hệ thống, lơgíc. Giáo viên - người nghệ sĩ phải đưa ra được các phương
pháp, hình thức dạy học phù hợp với từng bài dạy cũng như phù hợp với
từng đối tượng học sinh mình phụ trách. Đặc biệt với bài dài, bài có nhiều từ
mang tính nghệ thuật cao hoặc khó hiểu. Các biện pháp tơi đã áp dụng là:
* Tổ chức học sinh làm việc cá nhân (đối với những câu hỏi, bài tập
dễ). u cầu học sinh hoạt động theo nhóm đơi, nhóm bàn, nhóm lớn, theo
dãy, theo tổ…để trả lời câu hỏi hoặc thực hiện bài tập (đối với những câu
hỏi,bài tập khó hơn).
* Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả bằng nhiều hình thức phong
phú,sinh động khác nhau như: nêu miệng, thi đua tiếp sức, bảng con, bảng
phụ, hoặc trên những đồ dùng dạy học tự làm…
* Giáo viên có thể trao đổi hoặc sửa lỗi cho học sinh, hoặc tổ chức để
học sinhgiải đáp thắc mắc cho nhau, bổ sung góp ý cho nhau, đánh giá lẫn
nhau trong q trình thực hiện nhiệm vụ tìm hiểu bài.
* Giáo viên sơ kết, tổng kết ý kiến của học sinh và có thể ghi bảng
những nội dung cần thiết.
• Ví dụ: Bài “Trăng ơi…từ đâu đến?” TV4, tập 2.
Câu hỏi 3: Trong mỗi khổ thơ tiếp theo, vầng trăng được gắn với một
TƯỢNG
Mẹ
Chú Cuội
Chú bộ đội
Sân chơi
Quả bóng
Đường hành qn
23
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô
* Ghi nhớ sự kiện chính, ý chính của từng đoạn.
* Tổng hợp ý chính của các đoạn theo lập luận của người viết thành ý
chung cả bài.
* Phát biểu ý chung này dưới dạng một vài câu mà lõi thơng báo của
câu là nội dung tổng qt của tồn văn bản.
• Ví dụ:
- Bài “Ăng - co Vát” TV4, tập 2. học sinh chỉ cần dựa vào câu chủ đề
để phát hiện nội dung chính: Ăng-co Vát là một cơng trình kiến trúc và điêu
khắc tuyệt diệu của nhân dân Cam-pu-chia. Vì bài đọc được viết theo thể diễn
dịch;
- Bài “Ơng Trạng thả diều” TV4, tập 1. Sau khi hướng dẫn học sinh trả
lời các câu hỏi, bài tập (SGK), để rút ra được nội dung chính của bài, tơi đã
đưa ra câu hỏi: Câu chuyện ca ngợi ai? Ca ngợi về điều gì?; Đồng thời đính
sơ đồ “Mạng nhân vật” lên bảng.
Học sinh suy nghĩ cá nhân, nêu ý kiến và nhận xét, bổ sung. Giáo viên
kết hợp ghi (hoặc gắn các thẻ từ đã chuẩn bị sẵn) để hồn chỉnh sơ đồ.
Tên đề tài:: Một số biện pháp rèn kó năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4
24
Người thực hiện: Phạm Thò Hồng Thủy
Đơn vò: Trường Tiểu học Ba Tô