PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO CẨM MỸ
TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕ THỊ SÁU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CHO HỌC SINH LỚP 51 TRƯỜNG TIỂU HỌC
VÕ THỊ SÁU - CẨM MỸ - ĐỒNG NAI
Nămhọc 2012 - 2013
SƠ LƯỢC LÍ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Lê Thị Tâm
2. Ngày tháng năm sinh: 2/5/1972
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Ấp 8 - xã Xuân Tây - huyện Cẩm Mỹ - tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại: 0613713227 / ĐTDĐ: 0197843066
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường tiểu học Võ Thị Sáu - Cẩm Mỹ - Đồng Nai
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặ
c trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân khoa học
- Năm nhận bằng: 2008
- Chuyên ngành đào tạo: Tiểu học
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giáo viên chủ nhiệm
Số năm có kinh nghiệm: 17 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
đọc hiểu cho học sinh.
Nhưng trên thực tế, chất lượng đọc hiểu vẫn chưa cao. Các em quá lệ thuộc vào bài
Tập đọc, thường chỉ diễn nôm từng câu chữ khi trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài, thiếu tính
sáng tạo, hoặc trình bày nguyên vẹn lại câu văn, câu thơ trong sách, chưa lựa chọn ra ý để
trả lời, chưa cảm nhận được nội dung của văn bản, chưa vận dụng kiến thức vào cuộc
sống.
Thời lượng dành cho việc dạy đọc đúng và luyện đọc diễ
n cảm thường chiếm đến
gần cả tiết học. Điều này đồng nghĩa rằng việc hướng dẫn tìm hiểu bài giúp học sinh đọc
hiểu chiếm thời lượng rất ít trong tiết Tập đọc hiện nay.
Trong khi đó không ít giáo viên còn nói nhiều, giảng nhiều làm cho phần tìm hiểu
bài biến thành tiết giảng văn. Hoặc giáo viên nêu câu hỏi để học sinh trả lời làm cho tiết
học nhàm chán, không khắc sâu, không cô
đọng được nội dung bài. Điều đó dẫn đến hiệu
quả của giờ Tập đọc không cao
.
Vậy làm thế nào để các em hiểu một cách chân thực và sâu sắc bài Tập đọc, để
những gì đọc được tác động vào chính cuộc sống của các em? Vận dụng phương pháp
dạy học nào để khắc phục và nâng cao kĩ năng đọc hiểu phù hợp với đặc trưng môn học?
Dạy với thời lượng bao lâu là phù hợp? Tập trung ở hoạt động nào trong mỗi tiết Tập
đọc? Đó là nh
ững băn khoăn, trăn trở của tôi trong mỗi giờ dạy Tập đọc. Với những lí
do trên đây mà tôi chọn đề tài: “ Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu trong phân
môn Tập đọc cho học sinh lớp 5
1
trường Tiểu học Võ Thị Sáu huyện Cẩm Mỹ tỉnh
Đồng Nai ” để nghiên cứu và thực hiện.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
nghĩa từ kết hợp v
ới luyện đọc đoạn; trả lời câu hỏi, tìm hiểu từ khóa trong phần tìm hiểu
bài và tổng hợp nêu nội dung toàn bài ở phần củng cố.
Trên cơ sở đó, tôi đề ra 3 giải pháp giúp học sinh rèn kĩ năng đọc hiểu trong phân
môn Tập đọc như sau:
- Rèn kĩ năng đọc thầm, đọc lướt để nắm ý chính hoặc lựa chọn thông tin.
- Giúp học sinh hiểu từ ng
ữ của bài.
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài.
2.2. Biện pháp cụ thể
2.2.1, Rèn kĩ năng đọc thầm, đọc lướt để nắm ý chính hoặc lựa chọn thông tin
Đọc thầm, đọc lướt có ưu thế hơn đọc thành tiếng vì nhanh hơn, vì không phải
chú ý đến việc phát âm mà chỉ tập trung hiểu nội dung điều mình đọc. Đọc thầm giúp
học sinh dễ cảm nhận nội dung bài học. Vì vậy trong giờ Tập đọc không nên bỏ qua
bước này.
* Đọc lướt để nắm ý hoặc chọn ý:
Tôi hướng dẫn học sinh lướt mắt trên dòng ghi tên bài, những dòng có tên người,
tên công việc chính, đọc lướt toàn câu, toàn bài, phát hiện ra từ ngữ nào được nhắc lại
nhiều lầm trong đoạn văn, đoạn thơ. Hay tìm ra những hành động thể hiện rõ tính cách
của nhân vật, Từ đó phần nào đoán được nội dung bài Tập đọc viết về cái gì.
Ví dụ:
- Đọc tên bài biết ngay được chủ đề: Luật tục xưa của người Ê-đê, Phân xử tài
tình,
-
Tên bài cho biết cách đánh giá, tình cảm của tác giả: Nếu trái đất thiếu trẻ con,
Bầm ơi,
* Đọc thầm để tìm hiểu bài theo yêu cầu đề ra :
Trong giờ Tập đọc tôi cho học sinh đọc thầm nhiều lần, tập từ đọc to đến đọc nhỏ,
đến đọc mấp máy môi ( không thành tiếng ), đến đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấp
2.2.2, Giúp học sinh hiểu từ ngữ của bài.
Có thế nói việc tìm hiểu bài bắt đầu từ việc hiểu từ, rèn cho học sinh kĩ năng hiểu từ
ngữ chính là đã giúp các em có khái niệm ban đầu về đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật,
biết lựa chọn cách hiểu đúng nghĩa của từ được dùng trong một văn cảnh cụ thể của một
bài văn, bài thơ.
* Phân chia các loại từ ngữ cần tìm hi
ểu:
Qua kinh nghiệm về giảng dạy phân môn Tập đọc, tôi thấy có thể chia những từ để
giảng làm 2 loại: loại từ khó và loại từ khoá
- Từ khó có thể là từ mới mà các em chưa gặp hay từ địa phương được tác giả đưa
vào bài, là loại từ Hán Việt, Loại từ này thường có trong phần chú giải cho nên
tôi kết hợp khi luyện đọc đoạn cho học sinh đọc phần chú gi
ải để học sinh hiểu
ngay được những từ này khi bắt đầu tiếp xúc với bài Tập đọc.
- Từ khóa: đó là những từ làm toát lên chủ đề của bài tập đọc. Đây là những từ có
“sức nặng”, tôi khai thác triệt để làm rõ nội dung bài học, thường thì tôi hay kết
hợp giảng từ khóa trong quá trình tìm hiểu bài.
* Làm rõ nghĩa của từ ngữ:
Khi giảng nghĩa của từ tôi đặt từ
đó trong văn cảnh cụ thể, hướng vào chủ đề bài
học, không giảng quá rộng, quá sâu. Tôi sử dụng nhiều biện pháp giải nghĩa khác nhau,
lựa chọn biện pháp giải nghĩa cho phù hợp với từng từ, phù hợp với vai trò của từ trong
bài Tập đọc như:
- Đọc phần giải nghĩa (chú giải) trong sách giáo khoa: Được thực hiện khi học sinh
đọc nối tiếp đoạn tôi kế
t hợp đặt câu hỏi gợi ý để các em hiểu những từ được chú
thích trong bài.
Ví dụ: Bài “Kì diệu rừng xanh” Khi đọc đoạn 1 có từ mới, tôi đặt câu hỏi: Qua
đoạn vừa đọc em hiểu: lúp xúp là gì ? Học sinh sẽ nhìn vào sách để trả lời: Lúp xúp
Học sinh dựa vào những điều tác giả muốn nói trong từng khổ thơ sẽ dễ dàng tìm
câu trả lời đúng là c). Từ đó học sinh sẽ hiểu hạt gạo trong bài thơ chính là “ hạt
vàng”.
Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa từ ngữ trong bài Tập đọc tôi luôn chú ý:
- Đố
i với từ nhiều nghĩa, việc giải nghĩa cần có giới hạn ở nghĩa cụ thể trong bài tập
đọc, không mở rộng ra nhiều nghĩa xa lạ.
- Đối với những từ được dùng theo nghĩa lâm thời, ví dụ như từ: “cổng trời” trong
bài: Trước cổng trời tôi cho học sinh miêu tả cái “cổng trời trên mặt đất” theo trí
tưởng tượng của các em.
- Không giả
i nghĩa quá nhiều từ hoặc giải nghĩa từ ngữ một cách quá cầu kì, gây
lãng phí thời gian làm cho giờ học nặng nề.
- Những từ ngữ còn lại, nếu học nào chưa hiểu, tôi giải thích riêng cho học sinh đó
hoặc tạo điều kiện để các bạn khác giải thích giúp, không nhất thiết phải đưa ra
giải thích chung cho cả lớp.
* Làm rõ cái hay của việc dùng từ ngữ:
Biện pháp này ch
ỉ sử dụng khi hướng dẫn tìm hiểu các bài Tập đọc mang tính nghệ
thuật. Làm rõ cái hay của việc dùng từ ngữ, tức là dạy học sinh cảm nhận những giá trị
nổi bật, những điều tế nhị sâu sắc, đẹp đẽ của từ ngữ.
Tôi hướng dẫn cho học sinh tìm các từ ngữ có tín hiệu nghệ thuật. Đó là những từ
giàu màu sắc biểu cảm như
các từ láy, từ gợi tả, gợi cảm, từ chỉ mùi vị, màu sắc, từ chỉ
hình ảnh, các từ nhiều nghĩa, những từ mang nghĩa chuyển, từ được lặp lại nhiều lần,
giúp học sinh biết được những từ đó nhằm nhấn mạnh ý gì cho câu văn, câu thơ bằng câu
hỏi: “Em hãy cho biết tác giả đã chọn lọc những từ ngữ nào khi miêu tả (sự
vật, sự việc)
trong đoạn văn, đoạn thơ? Cách dùng các từ này có gì đặc biệt ?”
Ví dụ: Bài: Mùa thảo quả ( TV5-Tập2-tr.113 )
của câu hỏi để cả lớp nắm được yêu cầu của câu hỏi đó.
- Tách những câu hỏi mang tính chất khái quát thành câu hỏi nhỏ hoặc gợi dẫn bằng
câu hỏi phụ có tác dụng dẫn dắt học sinh trả lời câu hỏi hay thực hiện bài tập trong
sách được dễ dàng nhưng không
đặt thêm những câu hỏi khai thác nội dung vượt
quá yêu cầu bài học và không phù hợp với trình độ học sinh của lớp tôi.
Ví dụ: Câu hỏi 1 trong bài: Trồng rừng ngập mặn ( TV5-tập1-tr.128) tách thành 2 ý
nhỏ để học sinh dễ trả lời.
+ Nêu nguyên nhân của việc phá rừng ngập mặn ?
+ Nêu hậu quả của việc phá rừng ngập mặn?
- Chuyển các câu hỏi thành bài tập trắc nghiệm, nội dung thảo lu
ận, thành các trò
chơi để học sinh chủ động tiếp thu kiến thức.
Ví dụ: Bài: Tác phẩm của Si - le và tên phát xít ( TV5- tập1-tr.58 )
Câu hỏi 4 trong sách giáo khoa: “ Lời đáp của ông cụ ở cuối truyện ngụ ý gì ? ”
Được chuyển thành câu hỏi dạng trắc nghiệm là:
Lời đáp của ông cụ “ Si - le đã dành cho các ngài vở Những tên cướp !” có ngụ ý gì ?
a. Si le xem ngài là kẻ cướp.
b. Các ngài là người xấu xa.
c. Các ngài không xứng đáng để Si - le viết.
d. Cả a, b, c đúng
Học sinh sẽ dễ dàng hiểu và trả lời ( d ) là đáp án đúng
* Hướng dẫn học sinh tìm ra được ý của đoạn, nội dung của bài
Phân môn Tập đọc lớp 5 còn giúp học sinh rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản ở mức cao
hơn, cụ thể là: Nắm được dàn ý của bài; biết tóm tắt đoạn, bài; hiểu được nội dung ý
nghĩa của bài Tập đọc.
- Xác
định ý chính của đoạn: Đối với một đoạn, tôi luyện cho học sinh thao tác:
Gọi tên người, vật, tên sự việc được nêu trong đoạn.
hoạt động của học sinh khi đọc hiểu văn bản, phát triển ở các em năng lực sáng
tạo. Tôi sử dụng các câu hỏi: Em hiểu điều đó như thế nào? Em cảm nhận được
điều gì ?
- Bằng nhiều hình thức tổ chức khác nhau: làm việc cá nhân hoặc theo cặp, theo
nhóm , tôi tạo điều kiện cho các em luyện t
ập một cách tích cực: trả lời câu hỏi,
trao đổi ý kiến, thực hiện nhiệm vụ ( yêu cầu ) của bài tập, sau đó báo cáo kết quả
để nhận xét, bổ sung. Hoặc chỉ định 1-2 em điều khiển lớp trao đổi về bài đọc dựa
theo các câu hỏi trong sách giáo khoa. Học sinh điều khiển lớp có thể bổ sung câu
hỏi như: “ Bạn cho mình biết ….”. Tôi chỉ nói những điều cần thi
ết để điều chỉnh,
khắc sâu, gây ấn tượng về những gì học sinh trao đổi, thu lượm được và tôi sẽ là
người chốt lại cuối cùng hoặc nhất trí theo câu trả lời của các em.
- Trong việc đánh giá câu trả lời của học sinh thì ý kiến của học sinh là quan trọng.
Song không phải chỉ có tôi là người duy nhất đánh giá câu trả lời của học sinh mà
tôi còn tạo điều kiện cho các em t
ự đánh giá và nhận xét lẫn nhau.
- Đối với những học sinh còn lúng túng khi tìm câu trả lời thì tôi sẽ có câu hỏi gợi
mở hoăc cho học sinh khá giỏi nói trước, rồi cho học sinh yếu nhắc lại.
- Có những học sinh hiểu được ý, nhưng khi diễn đạt bằng lời thì lại lúng túng và
khi đó tôi phải tích cực gọi nhiều lần để khuyến khích tính bạo dạn ở các em
- Đối với nh
ững học sinh tiếp thu chậm, tôi chú ý đến các hình thức tổ chức hoạt
động, đưa ra yêu cầu phù hợp với đối tượng để các em hăng hái, tích cực học tập.
Nếu học sinh trả lời chưa đúng, hoặc thiếu ý thì tôi không khiển trách ngay mà
phải nhẹ nhàng, hướng dẫn để các em khỏi tự ti, mặc cảm với các bạn khác.
- Tôi luôn coi trọng việc hướng dẫn cho học sinh cách học và thực hi
ện những hoạt
động nối tiếp như tạo hứng thú, tâm thế thoải mái cho học sinh hay có những câu
dẫn chuyển ý phù hợp nhằm khắc sâu thêm kiến thức, kĩ năng đã học.
5
10
15
Giỏi Khá Trung bình Yếu
BIỂU ĐỒ SO SÁNH KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Lớp 5.1
Lớp 5.4
- Tại lớp đối chứng ( 5
4
): Nhìn chung chỉ có số ít học sinh nắm được nội dung của
bài Tập đọc, tỉ lệ điểm trung bình còn rất lớn, tỉ lệ khá khiêm tốn, vẫn còn 1 học
sinh đạt điểm yếu.
- Tại lớp thực nghiệm ( 5
1
): Các em nắm chắc nội dung bài Tập đọc, đáng mừng là
trong đó có rất nhiều ý phát biểu sáng tạo, trả lời câu hỏi, diễn đạt ý bằng câu văn
ngắn gọn, rõ ràng bằng ngôn ngữ của mình, không trình bày nguyên vẹn lại câu
văn, câu thơ trong sách; nhiều em diễn đạt đúng ý nghĩ và tình cảm của tác giả đã
gửi gắm trong bài đọc.
- Bên cạnh đó, học sinh của lớp tôi đã có kĩ
năng nhận biết được chủ điểm, cấu trúc
của bài đọc, biết cách tóm tắt bài, làm quen với thao tác đọc lướt tìm ý và phát hiện
giá trị của một số biện pháp nghệ thuật trong các văn bản.
- Qua thực tế, 100% giáo viên cho rằng việc rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh là có
hiệu quả cao. Các giáo viên dự giờ và kiểm tra chất lượng dạy thực nghiệm đều
công nhận, còn họ
c sinh thì không thấy nhàm chán vì bài học dài dòng mà luôn sôi
nổi, hào hứng từ đầu đến cuối tiết học.
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Qua quá trình giảng dạy và nghiên cứu tôi đã tham khảo một số tài liệu sau :
- Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 (Tập 1,2-NXB -GD)
- Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 5 ( Tập 1,2-NXB -GD)
- Sách Giúp em học tốt môn Tiếng Việt của PGS -TS Nguyễn Trí
- Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, Lê Phương Nga (chủ biên), NXB Đại
học Sư Phạm 2010.
- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III(tậ
p 2 -2003-2007)
- Một số bài viết về kinh nghiệm dạy Tập đọc trên Internet.
NGƯỜI THỰC HIỆN
(Ký tên và ghi rõ họ tên) Lê Thị Tâm
PHÒNG GD – ĐT CẨM MỸ
TRƯỜNG TH VÕ THỊ SÁU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Xuân Đông, ngày 20 tháng 8 năm 2012
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong
phạm vi rộ
ng: Tốt Khá Đạt
Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có ký tên xác nhận của người có
thẩm quyền, đóng dấu của đơn vị và đóng kèm vào cuối mỗi bản sáng kiến kinh nghiệm.
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)