Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại ở phân môn tập làm văn lớp 3 trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học - Pdf 32

Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích
Ngọc
ở phân môn TLV 3
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp là hoạt động bình thường của tất cả mọi người.
Trong giao tiếp, hội thoại chiếm tỉ lệ thời gian rất lớn. Nhiều việc đạt kết quả hay
thất bại phụ thuộc vào kinh nghiệm tham gia hội thoại của từng người. Hội thoại có
vị trí quan trọng như thế nên ngay từ nhỏ, học sinh đã cần phải tham gia vào các
cuộc hội thoại và hiểu biết thêm về hội thoại. Tuy nhiên, trong thực tế, học sinh ít
được rèn luyện về kĩ năng hội thoại. Lâu nay, các chương trình học tập cũng đang
nghiên cứu và đưa ra các bài tập về hội thoại, nhưng kết quả thu được chưa cao.
Tại các nhà trường Tiểu học hiện nay, ở một số trường cũng đã quan tâm và đưa
hội thoại vào như một trong những mục tiêu chính của môn học.
Ở Việt Nam, chỉ từ cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI, hội thoại mới
được đưa vào chương trình môn Tiếng Việt, được dạy thử nghiệm rồi dạy chính
thức ở các lớp học. Tuy nhiên, hiểu biết của giáo viên về hội thoại còn ít ỏi, sơ
lược, nên nhiều giáo viên còn rất khó khăn khi dạy hội thoại cho học sinh.
Chính vì những lí do trên nên tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng
hội thoại ở phân môn tập làm văn lớp 3 trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học”.
Đề tài nhằm tìm hiểu các bài tập mà sách giáo khoa lớp 3 đưa ra về dạy hội thoại,
qua đó rút ra một số lưu ý trong phương pháp giảng dạy cho phù hợp từng dạng
bài.
2. Giả thuyết khoa học
Dạy hội thoại là một mảng kiến thức mới, có ít người tìm hiểu và đi sâu vào nó.
Chính vì thế, đề tài này sẽ giúp cho những giáo viên thêm hiểu hơn về hội thoại nói
chung, và phương pháp dạy hội thoại nói riêng, từ đó có cách dạy cho phù hợp với
đối tượng học sinh của mình.
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1
Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích

2
Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích
Ngọc
ở phân môn TLV 3
Nói với một hay nhiều người nghe và
không cần đáp lại.
Hoặc là lời người nói tự nói với mình
Có lời trao – lời đáp theo luân phiên
lượt- lời. Bao giờ cũng có người nói
– người nghe và có sự luân phiên đổi
vai.
Triển khai nội dung theo đích mà
người nói vạch sẵn
Triển khai nội dung theo hoàn cảnh
cụ thể phù hợp với lời đáp.
1.1.3 Vị trí của hội thoại trong đời sống văn chương và trong nhà trường
Hội thoại có vai trò quan trọng trong đời sống. Trong một ngày, một tháng, một
năm, một đời người, thời gian dành cho hội thoại rất lớn, lớn hơn thời gian dành
cho đọc thoại nhiều lần. Con người chủ yếu giao tiếp với nhau bằng hội thoại.
Ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu trong hội thoại. Giáo sư Đỗ Hữu Châu khẳng
định: “ hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó
cũng là hình thức cơ sở của mội hoạt động ngôn ngữ khác...”
Trong văn chương, hội thoại cũng chiếm vị trí quan trọng. Các nhân vật trò
chuyện, trao đổi với nhau tạo nên nhiều cuộc hội thoại khác nhau trong dòng diễn
biến của cốt truyện. Các cuộc hội thoại góp phần bộc lộ tính cách nhân vật, bộc lộ
mâu thuẫn, thúc đẩy sự phát triển của tình tiết truyện, của các tính cách nhân vật.
Có thể nói hội thoại có vị trí vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong văn
chương, thế nhưng trong một thời gian dài nó không được các nhà nghiên cứu quan
tâm. Người ta cứ nghĩ, trẻ dùng được tiếng mẹ đẻ thì đương nhiên đã biết nói và
nghe, đã biết hội thoại. Vì thế nhà trường nên tập trung dạy đọc , viết, dạy độc

nào mà muốn tiến hành được cũng phải dựa vào một ngôn ngữ cụ thể, cũng sử
dụng một tiếng nói cụ thể.
4
Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích
Ngọc
ở phân môn TLV 3
Bàn đến bản chất ngôn ngữ của hội thoại, về mặt sư phạm là bàn đến mối quan
hệ giữa kinh nghiệm sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và hội thoại của cá nhân học
sinh khi bước chân đến trường và yêu cầu dạy hội thoại của nhà trường. Khi vào
học lớp Một cũng như các lớp học trên, mặc dù chưa được học hội thoại nhưng học
sinh vẫn sử dụng ngôn ngữ để tham gia trò chuyện với nhau, với bố mẹ, trao đổi về
mọi vấn đề các em gặp phải trong đời sống, để giãi bày, yêu cầu, đòi hỏi, ra lệnh,
dọa nạt, quát tháo... dường như các em đã nắm được một phần nào các quy tắc,
quy luật .. về hội thoại.
Đó là con đường tiếp nhận tự phát. Muốn dùng ngôn ngữ cho chính xác, linh
hoạt, đúng lúc, đúng chỗ, tế nhị.... học sinh phải được học, được luyện tập về hội
thoại. Muốn hiểu các quy tắc, quy luật hội thoại một cách sâu sắc, kĩ, tự giác.... học
sinh phải qua con đường học tập. Do đó, dạy hội thoại cho học sinh là một yêu cầu
tất yếu nhà trường phải thực hiện. Con đường để dạy hội thoại nhanh, có hiệu quả
chính là phải từ kinh nghiệm sẵn có của học sinh phát triển lên, luyện tập thêm.
Bàn đến bản chất ngôn ngữ của hội thoại chính là bàn đến tính chất giao tiếp
của nó, là phải quan tâm đến các nhân tố tham gia vào cuộc giao tiếp, vào cuộc đối
thoại như: ngữ cảnh, ngôn ngữ và văn bản.
Nói hội thoại là một hiện tượng xã hội vì nó nảy sinh và tồn tại chỉ trong các
cộng đồng người, trong xã hội loài người. Con người sử dụng hội thoại như một
công cụ đắc lực để trao đổi thông tin, giao lưu tình cảm, gắn kết từng cá thể với
nhau tạo thành một cộng đồng, một xã hội.
Bàn đến bản chất xã hội của hội thoại là bàn đến chức năng, mục đích và nội
dung hội thoại. Hoạt động hội thoại là hoạt đồng giao tiếp gắn rất chặt với các quy
tắc ứng xử trong xã hội, thể hiện trình độ văn minh của con người. Học các quy tắc

ngoài
Nhân vật
giao tiếp
Vai
giao
tiếp
Quan
hệ liên
cá nhân
Người
nói
Người
nghe
Vị
thế

hội
Vị thế
giao
tiếp
Quan
hệ liên

nhân
Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích
Ngọc
ở phân môn TLV 3
II. Cơ sở thực tiễn
1. Nội dung chương trình sách giáo khoa tiếng Việt
Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học đầu thế kỉ XXI (chương trình năm

Căn cứ vào nội dung luyện tập các kĩ năng nghe, nói tiếng Việt người ta thấy lần
đầu tiên hội thoại có chỗ đứng trong chương trình bên cạnh độc thoại.
-Lần đầu tiên có sự xuất hiện của cả 6 kiểu văn bản (biểu cảm, tự sự, miêu tả, nghị
luận, thuyết minh, hành chính) trong nguồn ngữ liệu học tiếng Việt. Trong học viết
văn bản, bên cạnh học viết văn bản tự sự, miêu tả, chương trình nhấn mạnh học
viết nhiều kiểu loại văn bản hành chính thông dụng trong đời sống.
-Lần đầu tiên chuẩn kiến thức và kĩ năng được trình bày chi tiết, hệ thống theo
từng lớp học và ở cả cấp học.
1.3 Về cách viết chương trình
8
Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích
Ngọc
ở phân môn TLV 3
Chương trình tiếng Việt đầu thế kỉ XXI không lấy trục phân môn làm căn cứ
để trình bày các nội dung học ở từng lớp như các chương trình môn Tiếng Việt
thế kỉ XX. Chương trình năm 2001 viết theo từng lớp và ở mỗi lớp gồm 3 phần
chính: các nội dung luyện tập kĩ năng đọc, viết, nghe, nói; kiến thức về Tiếng
Việt, văn học gắn với nội dung luyện tập kĩ năng và các nguồn cũng như nội
dung ngữ liệu.
Phần cuối chương trình đề cập đến yêu cầu kiến thức cần đạt ở từng
lớp. Chương trình năm 2006 cũng viết theo từng lớp, mỗi lớp chỉ gồm 2 phần
chính là các kiến thức về tiếng Việt, làm văn, văn học và các kĩ năng cần luyện
tập. Chuẩn kiến thức và kĩ năng là phần thứ hai của chương trình môn học. cách
viết của chương trình môn Tiếng Việt đầu thế kỉ XXI đã làm rõ:
- Nội dung học tập kĩ năng môn Tiếng Việt
- Nội dung học tập kiến thức môn Tiếng Việt, làm văn, văn học và mối tương
quan với kĩ năng học ở từng lớp.
- Các yêu cầu cụ thể của chuẩn kiến thức, kĩ năng
Cách viết của chương trình năm 2001 và 2006 không ràng buộc người viết sách
giáo khoa phải tuân theo một hệ thống phân môn định trước như chương trình môn

cảnh viết văn bản...nhằm tạo ra các đề bài văn mang tính tình huống, hướng dẫn
học sinh cá thể hóa bài văn của mình. Sách Tiếng Việt đầu thế kỉ XXI đã đổi tên
phân môn Ngữ pháp thành phân môn luyện từ và câu cũng là nhằm nêu bật nội
dung rèn luyện kĩ năng thực hành khi học ngữ pháp và từ vựng.
b) Dạy các kiến thức về tiếng Việt theo tinh thần giao tiếp
Việc lựa chọn và sắp xếp các đơn vị kiến thức tiếng Việt đưa vào chương trình
và sách giáo khoa hướng tới phục vụ mục đích rèn luyện kĩ năng lĩnh hội và sản
sinh văn bản.
Các đơn vị của ngôn ngữ như từ, cụm từ, câu...được dạy trong hoạt động giao
tiếp. Từ được xem xét khi nó tham gia tạo cụm từ, tạo câu...câu được xem xét cả
10
Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích
Ngọc
ở phân môn TLV 3
trong quan hệ nội tại (quan hệ giữa các thành phần cấu tạo câu ), cả trong việc thực
hiện các chức năng giao tiếp và trong các hoàn cảnh giao tiếp (ví dụ học cách dùng
câu hỏi vào mục đích khác, cách giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi, khi bày tỏ yêu
cầu, đề nghị...). Đoạn văn không chỉ được xem xét trong quan hệ với các câu mà
còn được xem xét trong quan hệ với các đoạn khác của bài văn.
Các từ, câu, đoạn...trong bài văn lại được xem xét, tìm hiểu trong mối quan hệ
với mục đích và nội dung giao tiếp, trong quan hệ với nhân vật và các tình huống
giao tiếp. Từ đó học sinh hiểu được không chỉ cấu tạo, đặc điểm mà còn hiểu được
ý nghĩa tác dụng của các đơn vị tiếng Việt trong quá trình giao tiếp.
c) Sử dụng giao tiếp như là một phương pháp chủ đạo trong dạy học Tiếng Việt
Giờ dạy lý thuyết hay luyện tập kĩ năng thực hành cần thực hiện theo tinh thần
giao tiếp. Kiến thức về từ, câu, dấu câu... phải được rút ra qua phân tích các mẫu
lời nói: các bài thực hành kĩ năng cần tuân thủ yêu cầu luyện tập theo hệ thống các
thao tác của hoạt động nói năng (xác định yêu cầu, lập dàn ý, viết đoạn và bài,
kiểm tra và sửa chữa lời nói, bài viết...) ; xây dựng hệ thống bài tập phản ánh cơ
chế sản sinh và lĩnh hội lời nói thông qua các tình huống giao tiếp...

Có thể nói trong việc dạy hội thoại cho học sinh tiểu học vẫn còn nhiều nan
giải, cần phải khắc phục. vì vậy, nghiên cứu về dạy hội thoại để có phương pháp
thích hợp là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
III. Các dạng bài tập và một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh
Tiểu học qua phân môn Tập làm văn trong SGK Tiếng Việt lớp 3
1. Tìm hiểu về nội dung dạy hội thoại trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3
1.1 Dạy hội thoại là gì
- Dạy hội thoại là dạy hoạt động nói năng
Hoạt động nói trước tiên liên quan đến hai kĩ năng quan trọng khi sử dụng tiếng
Việt, đó là kĩ năng nghe và nói. Để phục vụ tốt cho việc dạy hội thoại, chúng ta cần
12
Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích
Ngọc
ở phân môn TLV 3
chú trọng rèn cho học sinh năng lực nghe hiểu (từ chuỗi lời nói thu nhận được,
thông qua các thao tác tư duy, rút ra những thông tin chủ yếu chứa đựng trong đó),
năng lực nói liền mạch theo đề tài, chủ đề nhất định và đạt đích giao tiếp. Quá trình
rèn luyện năng lực nghe hiểu và nói liền mạch là quá trình tiếp nhận và sản sinh lời
nói.
Hoạt động nói năng là một loại hoạt động giao tiếp. Dạy hoạt động nói năng là
rèn luyện kĩ năng giao tiếp, rèn luyện các kĩ năng nói trong các tình huống giao
tiếp cụ thể, phù hợp với các nhân tố giao tiếp, với các đề tài và chủ đề hội thoại và
đạt đích giao tiếp, hội thoại.
- Dạy hội thoại góp phần phát triển tri thức, nâng cao văn hóa ứng xử trong xã
hội
Dạy hội thoại là dạy huy động vốn kiến thức đã có và xử lí các thông tin mới,
tiếp nhận trong hội thọại để tham gia hội thoại (trình bày tư tưởng, tình cảm, cảm
xúc, ý kiến cá nhân về các vấn đề đặt ra trong quá trình hội thoại). Chính quá trình
này làm cho hiểu biết của con người trở nên phong phú, sắc sảo, mở rộng và nâng
cao.

- Kĩ năng
+ Nghe và kể lại những câu chuyện đơn giản, thuât lại nội dung chính của
các bản tin ngắn hoặc văn bản khoa học thường thức có nội dung phù hợp
với lứa tuổi.
+ Nghe viết đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ ngắn.
+ Ghi lại một vài ý khi nghe văn bản ngắn, có nội dung đơn giản.
- Nói :
+ Dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp chính thức trong sinh hoạt
lớp, sinh hoạt đội.
+ Đặt câu hỏi về vấn đề chưa biết trả lời câu hỏi của người đối thoại.
+ Kể từng đoạn hoặc kể toàn bộ câu chuyện đơn giản đã được nghe
+ Thuật lại nội dung chính của bản tin ngắn hoặc văn bản khoa học thường
thức có nội dung phù hợp lứa tuổi.
14
Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích
Ngọc
ở phân môn TLV 3
+ Phát biểu ý kiến trong cuộc họp; giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, chi đội;
trình bày miệng báo cáo ngắn (đã viết theo mẫu) về hoạt động của tổ, lớp,
chi đội.
GV cần nắm vững chương trình từ đó có cách tiếp cận thích hợp với sách
giáo khoa để thực hiện 1 cách có hiệu quả mục tiêu bài học. ngoài ra việc nắm
vững chuẩn kiến thức để giảng dạy thích hợp với đối tượng học sinh cũng rất quan
trọng.
Ở lớp 3, chuẩn kiến thức kĩ năng cần nắm vững như sau:
15
Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích
Ngọc
ở phân môn TLV 3
1.3 Nhận xét về nội dung dạy hội thoại trong chương trình Tiếng Việt lớp 3

trong một cuộc họp.
Biết giới thiệu các thành viên,
các hoạt động của tổ, của lớp.
Nêu ý kiến cá nhân, nhận xét ý
kiến của bạn trong các tiết học
trên lớp và trong sinh hoạt tập thể.
Giới thiệu hoạt động của tổ, lớp
dựa trên báo cáo hoặc văn bản đã
chuẩn bị theo mẫu.
Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại Đặng Thị Bích
Ngọc
ở phân môn TLV 3
Nghiên cứu nội dung chương trình dạy Tiếng Việt lớp 3, ta thấy:
- Chương trình quy định dạy kiến thức và kĩ năng liên quan đến độc thoại và
hội thoại
Dạy về hội thoại, thì chương trình đã quy định, ở lớp 3 chỉ dạy về nghi thức lời
nói. Yêu cầu của chương trình là HS phải biết sử dụng lời nói trong các tình huống
cụ thể như biết dùng từ xưng hô phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp: trong gia đình,
với bạn bè, thầy cô... Ngoài ra, HS còn cần phải biết đặt và trả lời câu hỏi trong
những tình huống giao tiếp cụ thể. Đây là những yêu cầu bước đầu mang tính căn
bản trong việc rèn khả năng hội thoại cho học sinh.
Độc thoại được nhắc đến nhiều hơn trong nội dung chương trình. Gồm: thuật
việc, kể chuyện, phát biểu, thuyết trình....
Nhất quán với cách viết chung, ở phần này, chương trình cũng không đưa ra
các quy định thời lượng, cách sắp xếp, tổ chức cụ thể cho mỗi nội dung học tập,
rèn luyện. Việc làm này sẽ do các nhà soạn sách, các giáo viên căn cứ vào trình độ
của học sinh, đối chiếu với yêu cầu kiến thức và kĩ năng để tự quy định. Cách làm
mềm dẻo này sẽ tạo ra nhiều phương án thực hiện chương trình thích hợp với thực
tiễn giáo dục bao giờ cũng đa dạng. Tuy nhiên, căn cứ vào số lượng các nội dung
luyện tập có thể thấy chương trình vẫn chú trọng độc thoại hơn hội thoại. Ở các lớp

a) Cấu tạo
Cốt lõi của bài tập dạy cặp thoại là một tình huống giao tiếp đóng. Bài tập
sau là bài tập dạy cặp thoại:
VD: Bạn em ra vào bàn, làm rơi cái lọ. Em nhanh tay đỡ được. bạn khâm
phục: “Cậu nhanh thật đấy!”. (Tiếng Việt 2 tập hai)
Vì sao nói như vậy? Vì bài tập này đưa ra lời trao (là một lời khen) và người làm
bài phải đưa ra lời đáp (là một lời bày tỏ sự khiêm tốn). Có thể gọi đây là bài tập
đưa ra lời đáp.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status