MỤC LỤC
Mục lục…………………………………………………………………………..………1
1.PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................2
1.1. Lí do chọn sáng kiến.................................................................................................2
1.2. Điểm mới của sáng kiến............................................................................................2
2. PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………………….......3
2.1. Thực trạng của vấn đề..……………………………………………………………3
2.1.1. Thuận lợi……………………………………………………………………...…...3
2.1.2. Khó khăn ………………………………………………………………………….3
2.2. Các biện pháp chủ yếu để giúp học sinh lớp 3 rèn kỹ năng nói, viết trong phân
môn Tập làm văn..............................................................................................................4
2.2.1.Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh xác định đúng yêu cầu của bài tập..............4
2.2.2. Biện pháp 2: Hướng dẫn tìm hiểu các gợi ý……………………………………….4
2.2.3. Biện pháp 3:Hướng dẫn học sinh lập bản đồ tư duy……….……………………...4
2.2.4. Biện pháp 4: Chú ý đến từng dạng bài tập làm văn để có phương pháp dẫn dắt học
sinh hợp lí…………………………………………………………………………….…..5
2.2.5. Biện pháp 5: Hướng dẫn học sinh liên tưởng và diễn đạt..………………………..9
2.2.6. Biện pháp 6: Sửa câu, từ và cách liên kết trong đoạn văn……………………......10
2.2.7. Biện pháp 7: Tạo niềm say mê khám phá kiến thức, tạo không khí vui vẻ, sôi
động, hào hứng trong tiết học……………………..…………….………………………11
2.2.8. Biện pháp 8: Dạy học theo quan điểm giao tiếp………………………….............11
2.3. Kết quả………………………………………………………………..……………12
3. PHẦN KẾT LUẬN…………………...……………………………………………..13
3.1. Kết luận....................................................................................................................13
3.2. Kiến nghị ……………………………………………………….…………………14
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1
GIÚP HỌC SINH LỚP 3 RÈN KĨ NĂNG NÓI, VIẾT
TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
Sáng kiến kinh nghiệm “ Giúp học sinh lớp 3 rèn kỹ năng nói, viết trong phân môn
Tập làm văn” đề cập đến một vấn đề không mới nhưng có tính cấp thiết trong việc nâng
2
cao chất lượng giảng dạy trong các nhà trường. Trước đó cũng đã có nhiều đồng nghiệp
đề cập đến vấn đề này song đối với đề tài mà tôi nghiên cứu lại có những điểm mới như:
- Các biện pháp mà tôi đưa ra sát với thực tế giảng dạy tại trường và phù hợp với đặc
điểm đối tượng học sinh của trường tôi.
- Cách phân loại từng loại bài trong phân môn Tập làm văn để đưa ra những biện pháp
phù hợp cũng là điểm riêng của sáng kiến.
- Trong quá trình giảng dạy, tôi lựa chọn những ví dụ sát với thực tiễn và gần gũi với học
sinh.
2. NỘI DUNG
2.1. Thực trạng của vấn đề:
2.1.1. Thuận lợi:
- Trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên đạt chuẩn về trình độ kiến thức, trẻ khỏe và giàu
tâm huyết.
- Học sinh đa số là con em trong xã và có tinh thần hiếu học.
- Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, Ban giám hiệu nhà trường luôn đi sâu đi sát và
tạo mọi điều kiện tốt cho giáo viên trong công tác giảng dạy.
- Cách đánh giá học sinh theo tinh thần của Thông tư 22/2016 có tính nhân văn giúp học
sinh mạnh dạn, tự tin và có hứng thú học tập hơn.
- Cơ sở vật chất ở các lớp tương đối đầy đủ tiện nghi, bàn ghế, phòng học.
- Nội dung chương trình môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng
rất phong phú; kênh hình trong sách giáo khoa Tiếng Việt được trình bày phù hợp với
từng nội dung bài học và tâm sinh lí lứa tuổi các em.
- Học sinh đã nắm vững kiến thức, kĩ năng tạo lập văn bản, kể chuyện, miêu tả từ các
lớp dưới. Đây là cơ sở giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn lớp 3.
2.1.2. Khó khăn
Tổn
g số
học
sinh
Hoàn
thành tốt
SL TL
Ngày 07/9/2017
(Tuần 3)
Kể về gia đình
Ngày 15/9/2017 Nghe kể lại câu chuyện
(Tuần 4)
“Dại gì mà đổi”
Hoàn
thành
SL TL
Chưa
hoàn
thành
SL
TL
27
2.2. Các biện pháp chủ yếu để giúp học sinh lớp 3 rèn kỹ năng nói, viết trong phân
môn Tập làm văn
2.2.1. Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh xác định đúng yêu cầu của bài tập
Để giúp học sinh xác định đúng yêu cầu của bài tập, trước hết người giáo viên cần
nắm rõ cấu trúc của phân môn Tập làm văn lớp 3.
Về cấu trúc phân môn Tập làm văn trong SGK Tiếng Việt 3 có 54 bài tập. Số lượng
bài tập ít hơn so với SGK Tiếng Việt 2 đối với phân môn Tập làm văn nhưng nội dung
có hệ thống cao hơn lớp 2. Mỗi bài học được trình bày từ 1 đến 2 bài tập - gồm bài tập
rèn luyện kỹ năng nói và bài tập rèn kỹ năng viết trong đó bài tập rèn kỹ năng nói
chiếm hơn 70% nhất là kiểu bài “Nghe - kể lại chuyện” và “Kể hay nói, viết về một chủ
đề”. Đối với hai dạng bài này thì nội dung được phân bổ như sau:
- Dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề gồm có 16 bài tập, như: Nói về Đội TNTP;
Nói về thành thị hoặc nông thôn; Nói về quê hương; Nói ,viết về cảnh đẹp đất nước...
- Dạng bài “Nghe - kể lại chuyện” gồm có 10 bài tập, như: Nghe - kể: Dại gì mà đổi;
Nghe - kể: Không nỡ nhìn; Nghe - kể: Tôi cũng như bác; Nghe - kể: Giấu cày...
Nội dung kiến thức và yêu cầu rèn luyện kỹ năng ở phân môn Tập làm văn lớp 3 khá
khó, nhiều bài tập mang tính thực hành từ thực tế xung quanh các em như: Kể về gia
4
đình mình; Nói, viết về thành thị hoặc nông thôn; Kể về một trận thi đấu thể thao..... Qua
đó, học sinh hình thành được các kỹ năng tạo lập văn bản (từ chỗ nói theo những câu
hỏi gợi ý hoặc kể về gia đình, người thân đến viết một văn bản trọn vẹn). Muốn dạy Tập
làm văn cho học sinh có hiệu quả, giáo viên cần nắm rõ mục tiêu, nội dung bài học, lựa
chọn và phối hợp các phương pháp dạy học; các hình thức dạy học phù hợp với yêu cầu
của từng bài.
Bên cạnh đó, ở mỗi yêu cầu của từng loại bài tập làm văn nói – viết, giáo viên cần
cho học sinh tự xác định rõ yêu cầu các bài tập. Giúp học sinh tự xác định đúng yêu cầu
28), Giáo viên có thể treo bản đồ tư duy để học sinh quan sát, giới thiệu cho học sinh về
một số từ ngữ liên quan đến gia đình như:
Bố, mẹ
bảo ban, đùm bọc
( giáo viên, nông dân…)
(chăm sóc, yêu thương…)
Anh, chị
( sinh viên, học sinh…)
Gia đình
Ông, bà
( yêu thương, hiền
lành…)
Em
hạnh phúc, đầm ấm
( đoàn kết, giúp đỡ…)
( còn nhỏ, mẫu giáo ….)
( ngoan ngoãn…)
Theo đó, học sinh quan sát bản đồ tư duy để tự suy nghĩ và hồi tưởng.
Giáo viên nên chú ý hướng dẫn học sinh đánh số thứ tự cho các ý tìm được, lưu ý
trình tự chung của thể loại văn đang làm và hướng dẫn có tính chất mở (đoạn văn miêu
- Cháu nhức đầu à? Có cần dầu xoa không?
Anh thanh niên nói nhỏ:
- Không ạ. Cháu không nỡ nhìn các cụ già và phụ nữ phải đứng.”
1.Chuẩn bị :
- Tranh vẽ ở sách giáo khoa phóng to
- Phiếu học tập: Sơ đồ trình tự câu chuyện
2. Cách tiến hành:
- Giáo viên kể chuyện lần một và hỏi học sinh: Câu chuyện có mấy nhân vật? Câu
chuyện xảy ra ở đâu? học sinh sẽ trả lời:
+ Câu chuyện có hai nhân vật
+ Chuyện xảy ra trên chuyến xe buýt.
- Giáo viên kể chuyện lần hai, học sinh nghe rồi hoàn thành các sự kiện trong khung còn
trống của sơ đồ trình tự câu chuyện trên phiếu học tập.(Học sinh hoạt động theo nhóm 4)
Ví dụ:
7
Anh thanh
niên
Trên xe buýt
Tay ôm
mặt
Cháu không
nỡ nhìn
Bà cụ
...............................................................
8
Đất quý, đất yêu
Vẽ quê hương
.....................................
..............................................................
.....................................
.............................................................
.....................................
.............................................................
.....................................
...............................................................
.....................................
..............................................................
b. Đánh dấu X trước mỗi câu nếu em đồng ý, đánh XX trước mỗi câu nếu em rất đồng ý.
nông thôn
vườn bách thú
Quê hương em
đường phố
thành phố
cây đa, giếng nước
nhà cao tầng
Hoạt động 3: HS đánh số thứ tự các ý mình vừa tìm được, giáo viên hướng dẫn các
em sắp xếp các ý bằng số thứ tự 1,2,3.
- Giáo viên bao quát lớp đặc biệt là chú ý học sinh còn lúng túng để giúp các em điều
chỉnh.
Hoạt động 4: HS nhìn sơ đồ của mình và nói : Cho hai em nói mẫu trước lớp.
Ví dụ : Em sinh ra và lớp lên ở một làng thuần nông thuộc xã ….. . Quê hương em
thật là đẹp. Bên đình có cây đa cổ thụ che bóng rợp cả một vùng, chúng em thường đến
đó vui chơi vào những ngày hè. Đến vụ mùa, cánh đồng lúa chín vàng như một tấm
thảm khổng lồ trải dài vô tận. Con kênh nhỏ uốn quanh làng tạo thêm không khí mát mẻ.
Được thả diều cũng lũ bạn vào mỗi chiều cuối hè là niềm vui của tụi nhỏ chúng em. Em
rất yêu quê hương của mình.
- Cả lớp nhận xét, giáo viên nhận xét, bổ sung.
Hoạt động 5: Học sinh nói theo cặp (hoặc nhóm 4). Giáo viên bao quát lớp đặc biệt
lưu ý giúp học sinh gặp khó khăn.
Hoạt động 6: Học sinh nói, thể hiện trước lớp:
- Đại diện các nhóm chia sẻ bài nói trước lớp. Chú ý cho học sinh còn gặp khó khăn
những gợi ý giản đơn dễ hiểu, có thể cho học sinh khá giỏi làm mẫu để giúp các em
trình bày tốt hơn đoạn văn viết của mình. Trong việc hướng dẫn học sinh sửa chữa bài
viết, giáo viên cần đưa ra tiêu chí đánh giá cụ thể giúp học sinh phát hiện những đoạn
văn hay.
2.2.7. Biện pháp 7: Tạo niềm say mê khám phá kiến thức, tạo không khí vui vẻ, sôi
động, hào hứng trong tiết học
Để tạo nên một không khí sinh động và lôi cuốn học sinh trong các giờ học là điều
không dễ dàng. Nhưng làm được điều đó giáo viên không chỉ làm chủ kiến thức trong
lĩnh vực dạy học của mình mà cần có phương pháp sư phạm thích hợp để phát huy tính
chủ động của học sinh. Đổi mới phương pháp là đổi mới hình thức tổ chức dạy học để
tạo một sự tương ứng cần thiết. Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có tác dụng tích cực
để phát triển học sinh ở một khía cạnh nào đó. Vì vậy mỗi GV cần biết kết hợp nhiều
hình thức tổ chức để phát huy thế mạnh của từng học sinh. Phương pháp dạy học mới,
đòi hỏi phải có hình thức tổ chức dạy học tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làm việc, trao
đổi thảo luận với nhau nhiều hơn… nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của
học sinh.
Khi dạy bài Tập làm văn Nghe - kể: Dại gì mà đổi (Tuần 4)
11
Ở tiết Tập làm văn này, GV cần kể đúng nội dung câu chuyện, thể hiện được điệu bộ,
cử chỉ hấp dẫn lôi cuốn học sinh ngay từ phát ban đầu: Thể hiện được giọng kể lời nói
nghiêm khắc của người mẹ, lời nói vô tư ngộ nghĩnh của cậu bé 4 tuổi khi trả lời câu nói
của người mẹ.
- Lập kế hoạch cho hình thức dạy học, GV chọn hình thức dạy học phù hợp nhằm lôi
cuốn HS vào các hoạt động học tập tích cực, chủ động và sáng tạo. Tạo cho học sinh
không khí thoải mái, mạnh dạn tự tin khi thảo luận, đàm thoại một cách tự nhiên đúng
chủ điểm trọng tâm của bài học.Từ đó rèn cho học sinh khả năng diễn đạt những ý kiến
theo lối suy nghĩ, cảm xúc của mình, thể hiện thái độ yêu ghét, trân trọng , thẳn thắn phê
phán… Thực hiện được những biện pháp trên là giáo viên đã thành công mộtphần trong
ngắn về con người, sự vật, sự việc mà thông qua đó thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh
giá, thái độ yêu - ghét, trân trọng hay phê phán của các em.Thông qua bài viết của các
em người đọc hiểu được tâm tư tình cảm của các em về một vấn đề nào đó.
2.3. Kết quả
Qua một thời gian ngắn áp dụng các biện pháp trên vào quá trình giảng dạy, tôi thấy
học sinh đã đạt có những tiến bộ hơn so với trước . Hiệu quả giờ dạy được nâng lên rõ
rệt. Học sinh chủ động hứng thú học tập, hoạt động tích cực hơn, mạnh dạn, tự tin hơn
trong giờ học. Kết quả học tập phân môn Tập làm văn của lớp tôi có tiến bộ như sau:
Kết quả thực hành của học sinh
Thời gian
vận dụng
Giữa HK I
(tuần 8)
Cuối HK I
(tuần 16)
Đầu HK II
(tuần 19)
Cuối HK II
(tuần 33)
Tên bài dạy
Lớp
Tổng
Hoàn
số
thành tốt
học
19.2
Nói về thành thị, nông thôn
3C
26
8
30.8
15
57.7
3
11.5
Nghe - kể lại câu chuyện “Chàng
trai làng Phù Ủng”.
3C
26
9
34.6
khăn của học sinh và tìm ra được hướng để khắc phục những vướng mắc khi lĩnh hội tri
thức nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học. Không có phương pháp dạy học nào là vạn
năng, theo tôi sự thành công của mỗi tiết dạy chính là kết quả học tập của học sinh càng
13
ngày càng tiến bộ và các em cảm thấy có hứng thú, vui vẻ khi được tự mình chiếm lĩnh
các tri thức và kỹ năng.
3.2. Kiến nghị
- Đối với giáo viên: Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Tiếng Việt ở
Tiểu học nói riêng, giáo viên cần có ý thức nghiên cứu, tìm hiểu, vận dụng nhiều biện
pháp, thủ thuật để nâng cao hiệu quả học tập, sự hứng thú cho học sinh. Cần dành nhiều
thời gian hơn để nghiên cứu bài, lập kế hoạch bài dạy, dự kiến trước những tình huống
có thể xảy ra để đề ra những biện pháp khắc phục kịp thời; tổ chức cho các em tự phát
hiện, tìm tòi ra kiến thức mới từ đó sẽ phát huy được óc tư duy sáng tạo, tính độc lập, tự
giác cho các em.
- Đối với Tổ chuyên môn của nhà trường: Cần có các buổi sinh hoạt chuyên môn chia
sẻ nhiều hơn những kinh nghiệm giảng dạy để giáo viên có thể học hỏi, trao đổi, nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ của bản thân trong quá trình giảng dạy. Trong
thực tế đã có những thành công nhất định. Do khả năng còn hạn chế nên sáng kiến kinh
nghiệm cũng sẽ có những thiếu sót. Kính mong sự góp ý của các cấp lãnh đạo và quý
thầy cô!
14