Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại trong phân môn tập làm văn lớp 3 - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
---------------------

PHẠM THÙY LINH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG
HỘI THOẠI TRONG PHÂN MÔN
TẬP LÀM VĂN LỚP 3

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

HÀ NỘI - 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
---------------------

PHẠM THÙY LINH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG
HỘI THOẠI TRONG PHÂN MÔN
TẬP LÀM VĂN LỚP 3

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THU HƢƠNG

Ngƣời thực hiện

Phạm Thùy Linh


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

HS

: Học sinh

GV

: Giáo viên

SGK

: Sách giáo khoa

TLV

: Tập làm văn

SGKTV3 : Sách giáo khoa Tiếng Việt 3


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................... 2

2.2.2. Rèn thói quen định hướng giao tiếp, hội thoại ............................... 40
2.2.3. Bồi dưỡng năng lực hội thoại, giao tiếp ........................................ 41
2.2.4. Các biện phát rèn luyện kĩ năng sử dụng ngữ điệu ........................ 43
2.2.5. Biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng các yếu tố phi lời ................ 44
2.2.6. Sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề ........................................... 46
2.3. Phân loại các dạng bài tập rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh trong
phân môn Tập làm văn lớp 3 ....................................................................... 49
2.3.1. Dạng bài tập rèn kĩ năng trao đáp thông qua quan sát tranh ....... 49
2.3.2. Dạng bài tập trao đổi theo chủ đề cho trước ................................. 53
2.3.3. Dạng bài tập tự tổ chức một chủ đề để trao đổi ............................ 56
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM KHOA HỌC ................................................ 60
3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 60
3.2. Đối tƣợng và phạm vi thực nghiệm ...................................................... 60
3.3. Nội dung thực nghiệm .......................................................................... 61
3.4. Các giáo án thực nghiệm ...................................................................... 61
3.4.1. Giáo án thực nghiệm 1 ................................................................... 61
3.4.2. Giáo án thực nghiệm 2 ................................................................... 68
3.4.3. Giáo án thực nghiệm 3 ................................................................... 75
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 84


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp là hoạt động thƣờng nhật của tất cả mọi
ngƣời. Trong giao tiếp, hội thoại chiếm tỉ lệ không hề nhỏ. Sự thành công của
mỗi ngƣời phụ thuộc vào kinh nghiệm tham gia hội thoại của họ. Hội thoại có
vị trí vô cùng quan trọng nên ngày từ nhỏ, học sinh đã cần phải tham gia vào
các cuộc hội thoại và hiểu biết thêm về hội thoại. Từ lâu, các chƣơng trình
học tập cũng đang nghiên cứu và đƣa ra các bài tập về hội thoại, nhƣng kết

2. Lịch sử vấn đề
Theo định hƣớng của chƣơng trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn ở
Việt Nam, HS từ lớp 1 đến lớp 12 sẽ đƣợc rèn luyện 5 kĩ năng nói bộ phận: 1)
Sử dụng nghi thức lời nói; 2) Đặt và trả lời câu hỏi; 3) Thuật việc, kể chuyện;
4) Trao đổi, thảo luận; 5) Phát biểu, thuyết trình, tranh luận. Ở bậc Tiểu học,
HS đƣợc tập trung rèn các kĩ năng nói 1,2,3 và bƣớc đầu làm quen với các kĩ
năng 4,5.
Qua tìm hiểu về vấn đề rèn kĩ năng hội thoại cho HS đã có rất nhiều
nhà nghiên cứu tìm hiểu. Có thể chia các công trình nghiên cứu về rèn kĩ năng
hội thoại cho HS theo một số hƣớng chính nhƣ sau:
Trƣớc tiên, bàn về: Nghiên cứu hoạt động dạy hội thoại cho HS Tiểu
học trong môn Tiếng Việt nói chung. Đi theo hƣớng này, tác giả Phan Phƣơng
Dung – Nguyễn Trí (2009), Dạy hội thoại cho HS Tiểu học nhà xuất bản
(NXB) Giáo dục Việt Nam. Ở chủ đề 4 – Tình huống giao tiếp và các kiểu bài
tập dạy hội thoại trong SGK TV ở Tiểu học, các tác giả đã miêu tả và phân
chia các bài tập hội thoại từ lớp 2 đến lớp 5 thành ba kiểu bài tập cơ bản:
- Kiểu bài tập dạy nghi thức lời nói trong hội thoại.
- Kiểu bài tập đáp lời hoặc trao lời trong các tình huống giao tiếp.

2


- Kiểu bài tập xử lí trọn vẹn một tình huống giao tiếp.
Ở chủ đề 5 các tác giả đƣa ra phƣơng pháp dạy hội thoại ở Tiểu học với
ba hoạt động cơ bản:
- Dạy hội thoại theo hƣớng phân tích và thực hành.
- Dạy hội thoại qua phƣơng pháp đóng vai.
- Dạy hội thoại qua các phân môn Tiếng Việt.
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho HS ở môn TV,
đề tài khoa học Viện khoa học Giáo dục Việt Nam, của Trần Thị Hiền Lƣơng

cho từng dạng bài tập, đây chính là vấn đề mà đa số GV đều quan tâm đến khi
nhắc tới rèn kĩ năng hội thoại cho HS.
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: Phƣơng pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm. Đáng
chú ý hơn từ thập niên XX, các tài liệu giáo dục ở nƣớc ngoài và trong nƣớc,
một số văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo thƣờng nói tới việc cần thiết phải
rèn luyện kĩ năng hội thoại, giao tiếp cho học sinh.
Có thể nói cốt lõi của đổi mới phƣơng pháp dạy học là hƣớng tới hoạt
động học tập chủ động, sáng tạo, chống thói quen học thụ động. Nội dung dạy
hội thoại là nội dung không mới mẻ nhƣng vấn đề này luôn để lại những câu
hỏi khiến các nhà nghiên cứu muốn tìm ra câu trả lời thỏa đáng về các
phƣơng pháp dạy hội thoại. Để những giờ học Tập làm văn có yếu tố hội thoại
trở nên hiệu quả, một mặt GV cần phải dạy HS cách đƣa ra lời trao và cách
đáp lại lời trao sao cho đúng các quy tắc và đem lại hiệu quả giao tiếp. Mặt
khác GV cần phải tổ chức tình huống học tập để HS có môi trƣờng rèn luyện
khả năng giao tiếp của mình. Mặc dù chƣơng trình tiểu học hiện hành đã triển
khai dạy học hội thoại hơn mƣời năm nhƣng vẫn là công việc khó đối với
nhiều GV. Trong khi đó, ngoài một số hƣớng dẫn chung của sách giáo viên và

4


giải đáp về nội dung mới trong cuốn Hỏi đáp Tiếng Việt 3 do tác giả Nguyễn
Minh Thuyết chủ biên, chúng tôi chƣa thấy có công trình nghiên cứu nào đi
sâu nghiên cứu rèn kĩ năng hội thoại qua phân môn TLV lớp 3. Vì thế tôi thực
hiện đề tài Một số biện pháp rèn kĩ năng hội thoại trong phân môn Tập làm
văn lớp 3 với mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé nâng cao chất lƣợng
dạy học và trau dồi kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân.

- Phƣơng pháp thực nghiệm.
- Phƣơng pháp thống kê toán học.

6


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
HỘI THOẠI TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 3
1.1.Một số vấn đề về hội thoại
1.1.1.Khái niệm
Hội thoại có vai trò quan trọng trong đời sống. Trong một ngày, một
tháng, một năm, một đời ngƣời, thời gian dành cho hội thoại rất lớn, lớn hơn
thời gian dành cho độc thoại nhiều lần. Con ngƣời chủ yếu giao tiếp với nhau
bằng hội thoại. Ngôn ngữ đƣợc sử dụng chủ yếu trong hội thoại. Giáo sƣ Đỗ
Hữu Châu khẳng định: “hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ
biến của ngôn ngữ, nó cũng chính là hình thức cơ sở của một hoạt động ngôn
ngữ khác…”.
Ngôn ngữ là công cụ để con ngƣời giao tiếp với nhau. Khi tham gia vào
giao tiếp, ngôn ngữ tồn tại dƣới hai dạng: dạng nói và dạng viết.
Khi ngôn ngữ tồn tại ở dạng nói, tức là ngôn ngữ đƣợc con ngƣời sử
dụng trong hoạt động nói năng, thì khi đó con ngƣời đang thực hiện một hoạt
động, gọi là hoạt động giao tiếp.
Nhƣ vậy, hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các
nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo
đích đặt ra.
Tuy nhiên trong những năm nay, với sự phát triển nhƣ vũ bão của công
nghệ thông tin, công nghệ truyền thông nên điện thoại di động,hệ thống mạng
phát triển rất mạnh mẽ. Con ngƣời có thể nói chuyện với nhau mà không phải

nhận tự phát. Muốn dùng ngôn ngữ cho chính xác, linh hoạt, đúng lúc, đúng
chỗ, tế nhị,… học sinh phải đƣợc học, đƣợc luyện tập về hội thoại. Muốn hiểu

8


các quy tắc, quy luật hội thoại một cách sâu sắc, học sinh phải qua con đƣờng
học tập. Do đó, dạy hội thoại cho học sinh là một yêu cầu tất yếu nhà trƣờng
phải thực hiện. Con đƣờng để dạy hội thoại nhanh, có hiệu quả chính là phải từ
kinh nghiệm sẵn có của học sinh phát triển lên, luyện tập thêm.
Bàn đến bản chất ngôn ngữ của hội thoại chính là bàn đến tính chất
giao tiếp của nó, là phải quan tâm đến các nhân tố tham gia vào cuộc giao
tiếp, vào cuộc đối thoại nhƣ: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn.
Nói hội thoại là một hiện tƣợng xã hội vì nó nảy sinh và tồn tại chỉ
trong các cộng đồng ngƣời, trong xã hội loài ngƣời. Con ngƣời sử dụng hội
thoại nhƣ một công cụ đắc lực để trao đổi thông tin, giao lƣu tình cảm, gắn
kết từng cá thể với nhau tạo thành một cộng đồng, một xã hội.
Bàn đến bản chất xã hội của hội thoại là bàn đến chức năng, mục đích
và nội dung hội thoại. Hoạt động hội thoại là hoạt động giao tiếp gắn rất chặt
với các quy tắc ứng xử trong xã hội, thể hiện trình độ văn minh của con
ngƣời. Học các quy tắc hội thoại, từ phép lịch sự đến việc thực hiện các quy
luật cấu trúc hội thoại, ngƣời học thực ra đã tiếp nhận nhiều quy tắc đạo đức,
nhiều phép ứng xử văn minh nhƣ tôn trọng thể diện ngƣời hội thoại, sự phối
hợp, hợp tác trong cuộc sống,… Vì thế, dạy hội thoại cho học sinh đồng thời
cũng là dạy đạo đức, dạy văn hoá ứng xử.
Một điều đáng lƣu ý là hai bản chất nêu trên của hội thoại gắn chặt với
nhau đến mức nhiều nhân tố hoặc nhiều giai đoạn khó tách bạch đâu là tính
chất ngôn ngữ, đâu là tính chất xã hội. Điều ấy không có nghĩa là không nhận
thấy hai bản chất này trong hiện tƣợng hội thoại.
1.1.3. Các nhân tố giao tiếp và hội thoại

hiện thực – đề tài của diễn ngôn. Nằm trong hiện thực – đề tài của diễn ngôn
chính là những cái tồn tại, diễn tiến trong hiện thực ngoài diễn ngôn và ngoài
ngôn ngữ. Những cái thuộc tâm giới của con ngƣời nhƣ một cảm xúc, một
nguyện vọng, một tƣ tƣởng,… cũng đƣợc xem là hiện thực ngoài ngôn ngữ,
ngoài diễn ngôn. Hay hiện thực – đề tài của diễn ngôn còn là bản thân của

10


ngôn ngữ. Trong một cuộc giao tiếp, nhân vật giao tiếp chỉ có thể chọn một
bộ phận nào đó trong thế giới diễn ngôn làm đề tài. Cũng không phải ngƣời
nói muốn đƣa hiện thực nào thành đề tài thì tự khắc nó thành đề tài diễn ngôn.
Vậy đề tài diễn ngôn phải đƣợc các nhân vật giao tiếp thỏa thuận lấy làm đối
tƣợng để trao đổi trong cuộc giao tiếp đó.
Hai là hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết về lịch sử, địa
lí, văn hoá, nghệ thuật, khoa học, kĩ thuật, kinh tế, quân sự, giáo dục, tâm lí
dân tộc và xã hội, ngôn ngữ, trang phục, âm nhạc,… của dân tộc, bộ tộc, cộng
đồng ngƣời,… ở thời điểm và ở không gian trong đó đang diễn ra cuộc hội
thoại. Các điều kiện trên có ảnh hƣởng ít, nhiều, đậm, nhạt khác nhau,… đến
các cuộc hội thoại. Điều đáng chú ý là hoàn cảnh giao tiếp bao giờ cũng phải
là hiện thực thực tại. Bởi vì nói tức là sống nên phải nói với nhau trong hiện
thực thực tại tức là hiện thực mà chúng ta đang sống. Mục đích giao tiếp,
niềm tin, kế hoạch, các hành động thực hiện kế hoạch giao tiếp đƣợc đặt ra là
vì thế giới thực tại và đặt trong thế giới thực tại. Mỗi cuộc đối thoại đƣợc đặt
trong hoàn cảnh, nền văn hóa nhất định, nếu không có hiểu biết về nền văn
hóa, phong tục,… thì khó có thể hiểu hết ý nghĩa của đoạn hội thoại. Vậy tức
là ta cần phải hiểu biết về các hoàn cảnh giao tiếp nhƣ: hiểu biết về phong tục
tập quán, về sinh hoạt, về cách sử dụng ngôn ngữ,… của đoạn hội thoại đó thì
giao tiếp mới đạt hiệu quả cao. Nếu không có những hiểu biết này, lời nói có
thể rất dài nhƣng ngƣời nghe vẫn không hiểu hết nội dung lời nói.

thống các quy tắc ngữ pháp và phong cách, cùng chịu sự chi phối của các đặc
điểm về truyền thống và văn hoá dân tộc, tâm lí dân tộc và cộng đồng,… Tuy
nhiên mỗi dạng ngôn ngữ lại có những đặc điểm riêng khác nhau. Ngôn ngữ
nói có những đặc thù:
 Có thể sử dụng tất cả các lớp từ trong vốn từ của một ngôn ngữ, kể
cả những từ một số phong cách ngôn ngữ viết cấm kị nhƣ các từ thô tục, các
tiếng lóng, biệt ngữ của nhiều lớp ngƣời khác nhau trong xã hội,…

12


 Thƣờng sử dụng các cấu trúc ngữ pháp đơn giản, giản lƣợc,… kể cả
các cách diễn đạt không theo quy tắc ngữ pháp chuẩn mực, nói tắt,…
 Chú trọng sử dụng ngữ điệu để diễn đạt một số nội dung liên quan
đến tình cảm, cảm xúc, biểu đạt thái độ,… của ngƣời nói.
 Đƣợc sự phụ trợ rất có hiệu quả của các yếu tố phi ngôn ngữ nhƣ sự
biểu cảm trên nét mặt, các cử chỉ điệu bộ của chân, tay, thân thể,… ngƣời
tham gia hội thoại.
Trong giao tiếp, có những chuẩn mực ngôn ngữ đƣợc cả xã hội hoặc
cộng đồng thừa nhận. Đó là căn cứ để xã hội đánh giá ngôn ngữ cá nhân hoặc
ngôn ngữ của các nhóm ngƣời trong xã hội khi giao tiếp. Bên cạnh ngôn ngữ
chuẩn mực, lại có phƣơng ngữ địa lí, phƣơng ngữ xã hội… Sự phân chia này
dựa theo đối tƣợng sử dụng ngôn ngữ.
Về ngữ vực, trong giáo trình đại cƣơng ngôn ngữ học (tập hai – Ngữ
dụng học), tác giả Đỗ Hữu Châu đã dẫn ý kiến của M. Halliday về ba loại ngữ
vực: Ngữ vực quy thức (formal) đó là ngữ vực mà ta dùng để nói với những
ngƣời quen biết ít hoặc chƣa quen biết.Ngữ vực thân tình (familiar) là ngữ
vực của những cuộc giao tiếp giữa những ngƣời có quan hệ thân thiết với
nhau. Giữa hai ngữ vực đó là ngữ vực phi quy thức (informal) là ngữ vực của
những ngƣời tuy có biết nhau nhƣng không thân thiết.

càng nhiều thông tin càng tốt. Các nội dung thông tin đƣợc đánh giá theo tiêu
chuẩn đúng – sai.
1.1.4.2. Chức năng tạo lập quan hệ
Chức năng này tạo nên sự xích lại gần nhau, gắn kết với nhau hay xa
cách nhau, đối lập nhau trong quan hệ liên cá nhân. Có thể, sau một cuộc giao
tiếp, hội thoại, những ngƣời tham gia có thể thấy thân thiết hơn hoặc có thể ác
cảm hơn, biến thành kẻ thù của nhau.
1.1.4.3. Chức năng biểu hiện (hay còn gọi là chức năng biểu lộ)
Chức năng này tạo điều kiện cho mỗi thành viên của giao tiếp, hội thoại
có thể bày tỏ ý kiến, tình cảm, sở thích, năng khiếu, hứng thú, nguồn gốc gia

14


đình, địa phƣơng… để đối tác hội thoại hiểu mình hơn. Qua đó các thành viên
cũng thể hiện thái độ, các đánh giá, tình cảm… đối với cuộc sống, đối với đề tài,
các đối tác tham gia hội thoại và đối với bản thân cuộc hội thoại đang diễn ra.
1.1.4.4. Chức năng giải trí hay tiêu khiển
Giao tiếp với nhau, trò chuyện với nhau là một cách giải trí, tiêu khiển,
giải tỏa những bức xúc, thƣ giãn những căng thẳng của chúng ta. Chuyện
phiếm, tán gẫu, “buôn dƣa lê” là những cuộc giao tiếp mà chức năng chủ yếu
là giải trí. Giải trí bằng lời là hết sức cần thiết cho con ngƣời trong xã hội,
miễn là không lạm dụng. Ngôn ngữ là phƣơng tiện giải trí không tốn kém và
lành mạnh nhất của con ngƣời.
1.1.4.5. Chức năng hành động
Chức năng hành động là chức năng thông qua giao tiếp mà chúng ta
thúc đẩy nhau hành động. Không phải chỉ ngƣời nghe mới hành động mà
ngƣời nói cũng phải hành động dƣới sự thúc đẩy của lời nói trong giao tiếp.
1.1.5. Đích của giao tiếp, hội thoại
Cuộc hội thoại, giao tiếp nào cũng có đích tác động của nó. Giao tiếp,

tranh luận về vấn đề gì đó.
- Không nên để sự chuyển tiếp từ ngƣời nói này sang ngƣời nói kia kéo
dài. Nếu để kéo dài, cuộc hội thoại có thể trở nên nặng nề, khó trở lại bình
thƣờng, thậm chí có thể bị dừng lại. Lúc này cũng cần đến vai trò ngƣời điều
khiển để cân bằng lƣợt ngƣời.
Trong hội thoại, quy tắc luân phiên lƣợt lời có lúc bị vi phạm. Đó là lúc
xảy ra tình trạng các lƣợt lời dẫm đạp lên nhau do sự tranh lời, cƣớp lời, đoạt
lời… của những ngƣời tham gia hội thoại. Sự vi phạm này có lúc do vô tình,
có lúc do cố ý để nhằm đạt mục đích. Nghiên cứu sự vi phạm lƣợt lời cũng
quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn và sƣ phạm không kém gì việc nghiên cứu sự
luân phiên lƣợt lời. Rèn luyện cho học sinh kĩ năng hội thoại, chúng tôi hết

16


sức chú ý tới điều này. Muốn cuộc hội thoại diễn ra thành công, các nhân vật
tham gia hội thoại phải luân phiên lƣợt lời hợp lí.
1.1.6.2. Quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại
Một cuộc hội thoại cũng có diễn biến của nó. Quy tắc chi phối cấu trúc
hội thoại đòi hỏi những ngƣời tham gia hội thoại phải tôn trọng cấu trúc của
nó. Các cuộc hội thoại dù là chính thức hay phi chính thức, dù là trang trọng
hay đời thƣờng phải có phần mở đầu (dù ngắn hay dài, dù trực tiếp hay gián
tiếp…), phải có phần phát triển, phần kết thúc.
Một cuộc hội thoại là một thể thống nhất. Tính thống nhất của hội thoại
đƣợc quyết định bởi tính liên kết hình thức (những biện pháp hình thức để
liên kết hành vi phụ thuộc và hành vi chỉ hƣớng, liên kết hai tham thoại
trongmột cặp thoại với nhau, liên kết các cặp thoại thành sự kiện lời nói và
liên kết lời nói thành đoạn thoại…) và tính mạch lạc về nội dung.
1.1.6.3. Quy tắc điều hành nội dung hội thoại
Theo giáo sƣ Đỗ Hữu Châu [5], quy tắc điều hành nội dung hội thoại

lịch sự trong giao tiếp, hội thoại theo siêu quy tắc của Leech, quy tắc này bao
gồm 6 phƣơng châm lịch sự lớn:
- Phƣơng châm khéo léo


Giảm tối thiểu tổn thất cho ngƣời.



Tăng tối đa lợi ích cho ngƣời.

- Phƣơng châm rộng rãi


Giảm thiểu lợi ích cho ta.



Tăng tối đa tổn thất cho ta.

- Phƣơng châm tán thƣởng


Giảm thiểu sự chê bai đối với ngƣời.



Tăng tối đa khen ngợi ngƣời.

- Phƣơng châm khiêm tốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status