Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
1
DANH MỤC VIẾT TẮT
- TH: Trung học
- BTVH: Bổ túc văn hóa
- BGD&ĐT: Bộ giáo dục và Đào tạo
- GDTX: Giáo dục thường xuyên
- GDTX – HN: Giáo dục Thường xuyên – Hướng nghiệp
- GV: Giáo viên
- HĐDH: Hoạt động dạy học
- KTXH: Kinh tế xã hội
- SGK: Sách giáo khoa
- PPDH: Phương pháp dạy học
- THCS: Trung học cơ sở
- TH: Tiểu học
- THPT: Trung học Phổ thông
- TTGDTX: Trung tâm giáo dục Thường xuyên
- XH: Xã hội
- TLV: Tập làm văn
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1. Biểu đồ kĩ năng học văn – Trang 6
2. Bảng số liệu trước khi tác động của đề tài – Trang 10
3. Mô hình cấu tạo các luận điểm tập làm văn – Trang 19
4. Bảng số liệu sau khi tác động đề tài – Trang 22
5. Bảng số liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài 23
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
3
Sau nhiều năm nghiên cứu về cấu trúc môn văn ở trương chình cấp phổ thông
trung học: Cấu tạo phân môn văn rất rõ ràng, lôgic tôi nhận thấy ở cấp học phổ thông
không giống như học sinh Tiểu học hay học sinh Trung học cơ sở đi sâu vào từ ngữ, ngữ
pháp mà tập trung phản ánh phần văn học và tập làm văn. Một mặt giúp các em cảm thụ
được cái hay, cái đẹp của ngữ nghĩa một phần qua môn tập làm văn giúp các em chủ
động sáng tạo khi nhận xét đánh giá một vấn đề, từ đó trang bị cho các em có vốn sống
phong phú, có khả năng diễn đạt để người đọc, người nghe hiểu được vấn đề.
Để làm tốt được hai vấn đề trên, người dạy văn cần phải đổi mới phương pháp, đặc
biệt lấy học viên làm trung tâm, nâng cao vai trò, chủ động sáng tạo của các em. Bên
cạnh đó chú trọng rèn luyện kĩ năng đọc thông nói thạo, viết thành văn bản cho các em
Ở sáng kiến này tôi xin nêu ra cách tiếp cận một tác phẩm văn chương phù hợp với
đối tượng học viên và cách tiếp cận, cách dạy làm một bài văn nghị luận bắt đầu từ những
thao tác ban đầu cho đến khi hoàn thiện một bài văn.
Vì những lí do trên tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm "Một số biện pháp rèn kĩ năng
học văn cho học viên ở Trung tâm Giáo dục Thường xuyên – Hướng nghiệp Tỉnh" Đề tài
không có tham vọng nghiên cứu với quy mô như một đề tài khoa học mà chỉ mong muốn
đưa ra những kinh nghiệm của cá nhân được rút ra trong quá trình giảng dạy môn văn để
đồng nghiệp tham khảo trao đổi. Với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao
hiệu quả dạy học ở Trung tâm GDTX - Hướng Nghiệp Tỉnh nói riêng và các Trung tâm
GDTX nói chung, mong ước tất cả học viên Trung tâm đều có tâm hồn trong sáng có tình
yêu cuộc sống và kiến thức văn học, hiểu biết xã hội, đáp ứng được yêu cầu phát triển KT
– XH ở địa phương và trong gia đình.
II. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1. Phạm vi nghiên cứu
Dựa trên những hoạt động thực tiễn của các giờ giảng văn và những yếu tố quyết
định đến sự thành công của tiết dạy và dựa trên quá trình rèn kĩ năng nghe - nói - đọc -
viết thành bài của học viên ở Trung tân GDTX - Hướng nghiệp Tỉnh.
Bên cạnh đó nghiên cứu để tìm cho bản thân những kinh nghiệm thiết thực nhằm
phục vụ tốt hơn cho việc giảng dạy, giúp môn học đạt hiệu quả, khắc phục được tình
trạng yếu kém của học viên.
IV. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
5
- Sáng kiến giúp cho học viên Trung tâm dễ dàng tiếp cận các tác phẩm văn học
trên cơ sở đã được rèn kĩ 4 kĩ năng: nghe – nói - đọc - viết.
- Nghiên cứu đã kế thừa các phương pháp, các kĩ năng học văn được giáo viên
giảng dạy văn đã thực hiện. Song điểm khác biệt là chú trọng những mặt yếu, thiếu của
từng em ở Trung tâm để cụ thể hóa cách dạy phù hợp.
- Việc thực hiện các kĩ năng dạy văn như trên:
- Giúp cho tình cảm trò gắn bó keo sơn, thầy chia sẻ bù đắp những thiếu, yếu của
học trò. Trò cảm nhận được tầm lòng chia sẻ của thầy cô. Từ đó, biết lắng nghe những
điều cô giáo dạy, biết yêu quý môn Ngữ văn và quyết tâm vượt qua được những rào cản
về ngôn ngữ, về sự yếu, thiếu: biết lắng nghe thấu hiểu, biết diễn đạt rõ ràng, đúng ngữ
điệu, biết xây dựng một văn bản hoàn thiện ở mọi lĩnh vực. Nhờ đó các em cũng có thể
học tập tốt hơn ở các môn văn hóa khác.
- Sáng kiến cũng giúp cho các thầy cô đang giảng dạy ở TTGDTX có thêm nhiều
kinh nghiệm và kĩ năng, đổi mới phương pháp dạy văn cho học viên. Từ đó nâng cao chất
lượng dạy và học đồng bộ ở môn Ngữ văn và làm đòn bẩy để nâng cao chất lượng cho
toàn bộ các môn học khác được học trong nhà trường. thực hiện.Như lời Bác Hồ dạy:
"Việc gì tốt cho dân thì nên làm" tận tụy, gần gũi, mến yêu học viên.Việc làm tuy nhỏ
nhưng đã góp phần làm thay đổi nhận thức của học viên Trung Tâm-Thế hệ thanh niên
trong thời kì hội nhập, đổi mới. Như vậy điểm mới của đề tài là đã xây dựng được thế hệ
mới trong thanh niên, học viên ở TTGDTX – HN Tỉnh.
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
6
2. Các kĩ năng cơ bản của môn văn
Chương trình ngữ văn hướng về bốn kĩ năng: Nghe – nói – đọc – viết.
Các nội dung
Năng
Lực
Học
Viên
Các mục tiêu
Các kĩ năng
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
7
Đã nhiều năm chúng ta coi nhẹ việc rèn luyện kĩ năng nghe và nói mà chỉ chú ý
tới đọc và viết, mặc dù việc rèn hai kĩ năng năng này hiệu quả chưa được
nhiều.
Kĩ năng nghe và nói là hai kĩ năng được hình thành từ trước khi đến trường học.
Học viên Trung tâm Giáo dục Thường xuyên- Hướng nghiệp Tỉnh đã có những kĩ năng
nghe về bản ngữ khá thuần thục, từ đó các em có khả năng giao tiếp một cách bình
thường. Tuy nhiên, yêu cầu học văn đối với các em đòi hỏi không chỉ biết nghe và hiểu
lời thuyết giảng của thầy mà còn phải có thái độ tiếp nhận tích cực, biết nghe lời phát
biểu của bạn và sẵn sàng có ý kiến đồng tình hay phản biện. Bên cạnh đó học viên còn
phải hiểu được những lời ăn, tiếng nói trong giao tiếp hàng ngày để có cách ứng xử kịp
thời. Kĩ năng nghe trong môn ngữ văn đòi hỏi phải nghe bằng trí tưởng tượng để hiểu
được sức biểu cảm của nghệ thuật sử dụng tu từ, cú pháp trong văn, thơ. Học viên có kĩ
năng này phải tự biết nghe mình, nghe giọng đọc tự bộc lộ sự hiểu biết về các văn bản
của mình và nghe cả những lời mình nói thầm khi nó chưa thành tiếng.
Rèn luyện kĩ năng là rèn luyện năng lực lĩnh hội lời nói thông thường và lời nói
lĩnh và tạo lập văn bản, là những năng lực phổ biến trong đời sống có tính văn hóa đó là
sự tích hợp vĩ mô và vi mô, khi nói rằng nghe – nói - đọc - viết là mục tiêu của cả môn
học.
Việc rèn luyện kĩ năng: Nghe – nói – đọc – viết đòi hỏi hoạt động của học viên
trong giờ học và muốn hoạt động này hiệu quả, tương tác thì giáo viên cần thiết kế cụ thể
trong từng bài dạy.
Rèn được bốn kĩ năng trên thật sự là một việc làm cần thiết vì nó trả lời cho các
câu hỏi: làm thế nào để học viên Trung tâm có kĩ năng học văn.
Từ những vấn đề có tính chất lí luận trên áp dụng trong quá trình cảm thụ một tác
phẩm văn học và áp dụng trong quá trình tìm hiểu kiểu bài văn nghị luận, ở Trung tâm
giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp Tỉnh tôi nhận thấy thực trạng học văn còn rất
nhiều khó khăn nhất là đối tượng học viên là người vùng cao, các dân tộc ít người.
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
9
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG HỌC VIÊN HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRUNG TÂM
GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN – HƯỚNG NGHIỆP TỈNH:
I. Khái quát về TTGDTX – HN Tỉnh:Tổ chức học văn hóa theo chương trình
GDTX – HN. Tuy nhiên với đặc điểm chung: kinh tế còn khó khăn, mặt bằng dân trí
thấp, nên việc dạy học văn hóa vừa là một nhiệm vụ quan trọng song gặp rất nhiều khó
khăn.
1. Những ưu điểm, hạn chế của đội ngũ giáo viên giảng dạy.
a) Ưu điểm:
- Tất cả GV đều yêu ngành, yêu nghề, có tinh thần học tập và luôn cập nhật, đổi
mới cách giảng dạy.
.Tuy tổ văn có nhiều thành tố tích cực nhưng đội ngũ vẫn còn những hạn chế sau:
Điểm số
Tổng số % Tổng số
%
Ghi chú
1 0 2 7 3 9.4
1 0 0 16 50
2 2 4 13 6 18.8
3 3 3 10 3 9.4
4 4 4 13 2 6.2
5 5 10 34 2 6.2
6 6 7 23 0 0 - Báo cáo trên cho thấy chất lượng yếu kém môn ngữ văn của học viên. sự yếu kém
đó không chỉ do lỗi của học viên mà với tư cách của một người dạy tôi tự kiểm điểm sự
yếu kém đó cũng là một phần lỗi do giáo viên giảng dạy bộ môn.
Xuất phát từ thực trạng trên trong quá trình giảng dạy ngữ văn khối 11 và khối 12
đặc biệt dạy theo đối tượng, phân loại theo chủ trương của Sở giáo dục và đào tạo. Bản
thân tôi đã tìm ra được một số nguyên nhân sau:
II. MỘT SỐ TỒN TẠI, NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ TRONG VIỆC HỌC
VĂN CỦA HỌC VIÊN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN - HƯỚNG
NGHIỆP TỈNH
Một là vốn tiếng việt đối với học viên Trung tâm còn quá ít.
"Con ơi nhớ lấy câu này
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua"
Nếu là học sinh phổ thông các em sẽ hiểu tầng nghĩa hàm ẩn "sông sâu" là những
nơi đâu "Đò đầy" mang tiềm ẩn nguy cơ gì? Thì câu ca dao lúc đó mới đạt được mục
đích; Còn với nhiều em học viên ở trung tâm do không hiểu ngữ nghĩa nên khẳng định
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
12
"Sông sâu" lội được còn không biết "đò đầy" là như thế nào. Như thế câu ca dao sẽ mất đi
hình tượng của tác phẩm
- Bốn là,các em không viết chuẩn chính tả do điều kiện học tập chưa thường xuyên
như các em còn học phổ cập và điều kiện kinh tế gia đình không cho phép các em học
xuyên suốt chương trình như học sinh phổ thông. Từ đó sự yếu, thiếu nhiều hơn.
- Năm là, do đặc điểm của học viên Trung tâm là có thể học bất cứ lúc nào khi các
em có điều kiện. Cho nên học viên ở nhiều độ tuổi, hoàn cảnh khác nhau. Có học viên đã
bỏ việc học tập sau nhiều năm tốt nghiệp phổ cập. Có nhiều học viên không còn các kĩ
năng tối thiểu khi học văn. Nhất là viết một văn bản nghị luận. Cho nên việc tiếp tục
theo học chương trình Ngữ văn bậc Trung học là rất khó khăn.
Từ những nguyên nhân trên, cho nên học viên trung tâm, nhất là học viên người
dân tộc thiểu số; rơi vào tình trạng học ít, hiểu ít, viết văn hoặc trình bày vấn đề tương đối
khó khăn, thực tế giảng dạy và quá trình kiểm tra đánh giá tôi rất trăn trở và đã tìm ra một
số biện pháp, kĩ năng học văn và làm văn cho các em.
học viên cần ở giáo viên nói chung và giáo viên văn nói riêng sự ân cần, tế nhị, thái độ
sâu sắc yêu thương. Trong giờ học để có hiệu quả giáo viên cần giải quyết được tình
trạng yếu kém của các em.
Tâm lí của học viên trung tâm thường khép kín, các em ít cới mở, chỉ trao đổi tâm
tư tình cảm với những người yêu quý, cảm thông với các em, cho nên biện pháp tốt cho
giáo viên là phải cảm hóa được các em, gây được niềm tin yêu giữa Thầy và Trò.
Nhưng làm được điều này người giáo viên dạy văn cần thường xuyên gần gũi, thủ
thỉ, tâm tình vì các em không thích thầy quá cao xa hoặc thầy quá xáo rỗng.
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
14
Dạy các em, giáo viên cần biết vận dụng đúng lúc, đúng cách nhưng tất cả phải
chân thật như thế sẽ rút bỏ được khoảng cách làm cho các em xích lại gần thầy cô, chăm
học hơn
b. Giáo viên chủ động tháo gỡ thiếu hụt ngôn ngữ
Ngôn ngữ là khoảng cách thể hiện sự khác biệt giữa các đối tượng học sinh, do vậy
trong các giờ văn cô giáo cần tạo ra một môi trường giao tiếp bằng tiếng việt một cách lí
thú.
Những năm qua tôi đã tổ chức cho các em tọa đàm trao đổi, nói chuyện, kể chuyện,
viết bài về các nhân vật văn học; nhằm mục đích trau dồi ngôn ngữ nói và viết, đặc biệt là
học viên con em các bác vùng cao cần được quan tâm để nâng cao dần trình độ tiếng việt,
dần dần các em thích học tiếng việt yêu các tác phẩm văn học. Đã có nhiều em có sổ tay
văn học, các em chép lại những bài thơ hay, những bài văn hay, những câu nói tâm đắc
của những nhà yêu nước, từ đó các em có vốn văn để vận dụng vào cuộc sống hàng ngày
và vào bài tập làm văn. Làm được điều đó giáo viên luôn tạo được những cuộc thi đọc
thuộc lòng, đọc diễn cảm, thi kể chuyện cho các em trong các giờ giảng văn hay các buổi
sinh hoạt ngoại khóa.
Bên cạnh những việc làm trên giáo viên còn giúp các em hiểu được nghĩa của các
từ ngữ còn xa cách với các em: Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Tôi cho rằng dạy văn
thì từ là rất quan trọng” Phải hiểu tất cả các ý nghĩa của từ, dùng từ đúng
em không biết. Do đó tôi rất chú trọng khai thác tới ý vị cổ điển và hiện đại của đầu đề và
lời đề từ. Đồng thời tôi chú trọng khai thác đến một số hình ảnh qua việc phân tích cách
dùng từ giản dị dễ hiểu đối với học viên miền núi
“Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Học viên miền núi dễ liên tưởng và cảm nhận được sức gợi của từ ngữ, hình ảnh đó
là sự trôi nổi, lặng lẽ của bao kiếp người trong vòng đời vô định…
d. Giáo viên dạy văn tác động đến các em bằng các biện pháp đặc thù của môn
giảng văn.
Người giáo viên nên biết xử lý một văn bản nghệ thuật như một phương tiện để tác
động vào đời sống tình cảm, tư tưởng, tâm hồn, nhân cách, lối sống học viên; Bởi vậy cần
sử dụng nhiều biện pháp để tác động đến tình cảm và cảm xúc tới trí tưởng tượng và óc
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
16
liên tưởng, trí tuệ và nhân cách của học viên nhất là những đối tượng còn yếu kém khi
học môn văn.
Ví dụ: Thao tác đọc diễn cảm cho học viên nghe, đây là biện pháp chung tuy nhiên
rất quan trọng với học viên Trung tâm. Vì nó tạo nên tính biểu cảm cho giờ học văn và
gây ấn tượng ban đầu cho học viên
Trước khi tìm hiểu giá trị tác phẩm, thầy cô dạy văn đọc diễn cảm sẽ luôn gây
được ấn tượng về tác phẩm, giúp học viên hướng về tác phẩm sắp học, tăng sự hào hứng
khi học viên tìm hiểu tiết học.
Đối với học viên ở Trung tâm GDTX đây là dịp thầy, cô truyền tới các em vẻ đẹp
âm thanh, làm cho các em hứng thú từ đó các em tập phát âm giống thầy cô, dần như thế
phát âm sẽ chuẩn và đúng hơn.
- Giáo viên luôn tạo điều kiện để học viên bộc lộ ấn tượng khi tiếp cận tác phẩm
văn học.
Đây là yêu cầu có trong giờ giảng văn giúp học viên bộc lộ được những ấn tượng
của mình khi học tác phẩm, đối với học viên yếu, kém các thầy cô sẽ biết được những
phản ứng tự nhiên và tập cho các em suy nghĩ về chính cảm xúc của mình.
khan, buồn tẻ, đơn điệu. Giúp học viên chủ động sáng tạo trong việc học tập, khơi dậy
khả năng cảm thụ văn học ở các em.
Lưu ý: Khi giảng văn, giáo viên người Kinh không chỉ có kinh nghiệm
sống, kinh nghiệm ứng xử mà còn phải biết ngôn ngữ của các em nhằm
chuyển giao hoạt động chuyển dịch từ tiếng việt sang tiếng của các em và
ngược lại làm cho tiếng việt giàu thêm. Đặc biệt là các lớp từ tượng thanh,
tượng hình, từ láy thường xuất hiện trong các tác phẩm. Hiện nay ở các
trường cũng như các trung tâm các thầy đã chú ý đến việc học tiếng dân tộc.
2. Nội dung, biện pháp rèn kĩ năng làm văn nghị luận
Xuất phát từ thực trạng, học viên Trung tâm rất khó khăn trong quá trình làm văn
nghị luận. Nên tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng học văn cho học viên
Trung tâm giáo dục thường xuyên như sau:
Thứ nhất trước tiên giáo viên nên cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản
về những vấn đề của xã hội và các tác phẩm văn học trong chương trình. Đây là điều kiện
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
18
vô cùng quan trọng cần phải có để giúp các em có những vốn kiến thức cơ bản vận dụng
vào giải quyết được tất cả các vấn đề trong bài văn nghị luận.
Ví dụ:
Các vấn đề xã hội đang quan tâm hiện nay là gì? Thực trạng các vấn đề đó như thế
nào? Cách giải quyết vấn đề ấy ra sao?
Hay khi học các tác phẩm văn học trong chương trình giáo viên cần cung cấp cho
các em hiểu biết về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, những giá trị về nội dung và nghệ thuật,
những nhận xét, đánh giá về tác phẩm.
Thứ hai sau khi cung cấp vốn kiến thức cơ bản, giáo viên đặc biệt chú trọng vào
việc cung cấp cho các em những kiến thức về kiểu bài nghị luân cụ thể.
Khái niệm văn nghị luận, vai trò của văn nghị luận trong đời sống.
- Đặc điểm của bài văn nghị luận cần chú ý vào hệ thống luận điểm và luận cứ
cùng với những yêu cầu của nó đó là: Các luận điểm, luận cứ phải đảm bảo tính khái
Ví dụ:
Nghị luận về một tác phẩm: Suy nghĩ của em về một nhân vật ông lão lái đò trong
"Người lái đò Sông Đà" của Nguyễn Tuân.
Khi làm bài văn này học viên cần xác định những luận điểm chính sau:
- Luận điểm 1: Ông lão lái đò sống và chèo đò trong hoàn cảnh hết sức
đặc biệt.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Luận điểm xuất phát
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Luận điểm
m
ở rộng 1
Luận điểm
m
ở rộng 1
Luận điểm
m
ở rộng 1
Luận điểm
m
ở rộng 1
KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Lu
ận điểm chính
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
21
Giáo viên phải hướng dẫn các em giải thích thế nào là giá trị nhân đạo và giá trị nhân đạo
trong truyện kiều được thể hiện như thế nào? Sau đó mới bước vào nghị luận cụ thể.
Bố cục của bài văn nghị luận có vai trò quan trọng trong việc thể hiện khả năng
nghị luận của người viết. Vì vậy giáo viên cần cung cấp cho học viên yêu cầu bố cục một
bài văn nghị luận thông thường đặc biệt là sắp xếp các luận điểm, luận cứ theo một hệ
thống logic chặt chẽ.
Tóm lại: Giáo viên muốn các em làm tốt văn nghị luận thì cần rèn cho các em tính
chịu khó học tập, tích lũy tri thức để các em có được một kiến thức văn học phong phú,
vững chắc. Bài văn nghị luận hay vừa phải chinh phục khối óc, vừa chinh phục được trái
tim người đọc và phải thấu tình đạt lí, vừa có nội dung tư tưởng cao đẹp lại vừa có tác
dụng truyền cảm. Do vậy, người thầy cần phải có năng lực, phẩm chất và đặc biệt là tình
yêu môn văn, tình yêu học trò.
Thứ tư là bất cứ người giáo viên nào khi đứng trên bục giảng đặc biệt là đứng
trước tương lai của các em, tôi trăn trở suy nghĩ dạy để cho các em làm được gì, dạy như
thế nào cho phù hợp.
Chính vì day dứt đó, nên tôi đã cố gắng ở rất nhiều khâu, suy nghĩ tìm tòi đổi mới
tìm ra giải pháp tốt nhất. Tuy nhiên, một trong các giải pháp quan trọng trong môn ngữ
văn là giáo viên phải luôn đổi mới cách kiểm tra đánh giá, để phát hiện những học viên
khá giỏi kịp thời bồi dưỡng. Đặc biệt tìm ra những nguyên nhân học yếu, học kém lập
được có kế hoạch và bồi dưỡng đúng đối tượng theo chất lượng môn học.
STT Điểm số
Tổng số % Tổng số
%
Ghi chú
1 Khá 6 18.7 3 9.4
2 Trung bình 19 59.4 14 43.8
3 Yếu 7 21.9 15 46.8
4 Kém 0 0 0 0 Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
23
Quá trình vừa học tập, nghiên cứu và ứng dụng thực hiện các biện pháp rèn học
văn cho học viên ở Trung tâm Giáo dục Thường xuyên – Hướng nghiệp Tỉnh đề tài đã
thu được nhiều kết quả:
1. Giờ học văn không còn là giờ học khó và khô khan. Các em hào hứng, phấn
khởi chờ đón giờ văn.
2. Việc vận dụng văn nói của học viên linh hoạt, sinh động, cuốn hút người nghe
hơn.
Để nâng cao được chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong quá trình giảng dạy giáo
viên cần chú ý:
Trước hết về phương pháp: mỗi thầy cô dạy văn cần nắm chắc chương trình ngữ
văn ở khối PTTH và cần có sự liên kết với chương trình trước và sau để hệ thống kiến
thức trang bị cho các em có sự đồng tâm liên thông và giúp người học hiểu được đích của
việc học văn.
- Cần nắm chắc phương pháp dạy văn:
+ Phương pháp đọc sáng tạo
Là phát triển cảm thụ, hình thành những thể nghiệm nghệ thuật cho học sinh bằng
phương tiện nghệ thuật. Đòi hỏi người đọc phải chú ý đến: từ, câu, nhịp điệu, kích thích
trí tưởng tượng gây cảm xúc.
+ Phương pháp gợi tìm: Thầy cô phải xây dựng được hệ thống câu hỏi có logic
chặt chẽ, đồng thời xây dựng được hệ thống bài tập về văn bản tác phẩm vừa học đặt
thành vấn để tổ chức tranh luận.
+ Phương pháp nghiên cứu: Giúp học sinh tự thiết lập năng lực để giải quyết vấn
đề. Có thể tổ chức các buổi tọa đàm, giao lưu văn học. Có thể ở các buổi xemina nhằm
tổng kết một vấn đề văn học mà học sinh được chuẩn bị trước nội dung
Phương pháp này giúp học viên nắm được những kĩ năng gắn liền với một vấn đề
cụ thể trong văn học
+ Phương pháp tái tạo: thường áp dụng trong làm văn.
Học viên lập được dàn bài, xác định được các luận điểm. Việc đưa ra các phương
pháp dạy văn trên tôi muốn các thầy cô nhận diện cụ thể còn khi thực hiện ta nên phối
hợp giữa các phương pháp sao cho linh hoat, hài hòa, nhuần nhuyễn nếu làm tốt được
điều này kết quả học tập của học viên sẽ cao hơn.
Thứ hai, thiết kế các mục tiêu học tập cho học viên từ dễ đến khó phù hợp với cấp
độ tư duy của học viên
- Từ biết -> hiểu -> áp dụng -> phân tích -> đánh giá -> sáng tạo.
Nguyễn Thị Hà – Trung tâm GDTX – HN tỉnh Lai Châu
25