Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐÀO HOÀNG NAM
BIỆN PHÁP ĐÀO TẠO HỆ ĐẠI HỌC
TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN
CẤP TỈNH KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC
Mã số: 62 14 01 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Xin đọc là
BTVH Bổ túc văn hóa
CNH-HĐH Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
CĐ Cao đẳng
CSVC Cơ sở vật chất
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐH Đại học
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
GD-ĐT Giáo dục-Đào tạo
GDKCQ Giáo dục không chính quy
GDCQ Giáo dục chính quy
GDTX Giáo dục thường xuyên
KCQ Không chính quy
TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên
TTHTCĐ Trung tâm học tập cộng đồng
TH Trung học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
XHHT Xã hội học tập
XMC Xóa mù chữ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3.3. Thực nghiệm các biện pháp đào tạo hệ đại học tại các TTGDTX
cấp tỉnh khu vực ĐBSCL 136
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 153
DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
PHỤ LỤC 168
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Đánh giá của cán bộ quản lý các Trung tâm về nội dung cần
thực hiện trong công tác tuyển sinh tại các TTGDTX cấp tỉnh
khu vực ĐBSCL 66
Bảng 2.2: Đánh giá của từng địa phương về mức độ cần thiết thực hiện
các nội dung trong công tác tuyển sinh tại các TTGDTX
cấp tỉnh khu vực ĐBSCL 67
Bảng 2.3: Đánh giá của giảng viên cơ sở giáo dục đại học về mức độ cần
thiết thực hiện các nội dung trong công tác tuyển sinh tại các
TTGDTX cấp tỉnh khu vực ĐBSCL 69
Bảng 2.4: Mức độ thực hiện các nội dung trong công tác tuyển sinh tại
các TTGDTX cấp tỉnh khu vực ĐBSCL 70
Bảng 2.5: Đánh giá của cán bộ, giáo viên từng TTGDTX về mức độ
thực hiện các nội dung trong công tác tuyển sinh tại các
TTGDTX cấp tỉnh khu vực ĐBSCL 72
Bảng 2.6: Đánh giá của giảng viên cơ sở đại học về mức độ thực hiện các
nội dung trong công tác tuyển sinh tại các TTGDTX cấp tỉnh
khu vực ĐBSCL 74
Bảng 2.7: Đánh giá của giảng viên cơ sở đại học về nội dung và chương
thực hiện các nội dung quản lý quá trình liên kết đào tạo
đại học tại các TTGDTX cấp tỉnh khu vực ĐBSCL 102
Bảng 2.19: Đánh giá của học viên về mức độ thực hiện các nội dung quản
lý quá trình liên kết đào tạo đại học tại các TTGDTX cấp tỉnh
khu vực ĐBSCL 104
Bảng 2.20: Đánh giá của cán bộ giáo viên cơ sở đại học về mức độ thực
hiện các nội dung quản lý quá trình liên kết đào tạo đại học tại
các TTGDTX cấp tỉnh khu vực ĐBSCL 106
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
Bảng 3.1: Tầm quan trọng của các biện pháp (%) 140
Bảng 3.2: Về mức độ tính khả thi của các biện pháp (%) 141
Bảng 3.3: Phân phối tần suất kết quả thực nghiệm 148
Bảng 3.4: Tổng hợp tần suất kết quả thực nghiệm 149
Bảng 3.5: So sánh chênh lệch của giá trị tần suất 149
Bảng 3.6: Tổng hợp giá trị tần suất 149
Bảng 3.7: Các tham số đặc trưng 150 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Số học viên theo học từng năm 63
khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - những nơi còn nhiều hạn chế
về các điều kiện để phát triển giáo dục đại học.
Với các loại hình và phương thức đào tạo đa dạng, các TTGDTX đã
thực sự góp phần tích cực vào việc giải bài toán về vấn đề đào tạo nguồn nhân
lực cho các địa phương ở ĐBSCL. Đặc biệt là đã làm chuyển biến được nhận
thức của nhiều người về tầm quan trọng của việc học tập, coi việc học tập, bồi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
dưỡng nâng cao trình độ là việc làm thường xuyên và cần thiết, khắc phục tâm
lý ngại khó trong học tập. Từ đó, đã hình thành một phong trào thi đua học tập,
số người tham gia học tập ngày một đông hơn, điều này thể hiện qua số lượng
tuyển sinh tại TTGDTX trong thời gian gần đây.
Những năm qua các TTGDTX ở ĐBSCL đã đóng vai trò tích cực trong
việc nâng cao trình độ cho nhân dân trong các thành phần kinh tế cũng như
thực hiện mục tiêu chuẩn hóa cán bộ. Có thể nói đây là phương thức đào tạo
có hiệu quả và vẫn còn thích hợp trong giai đoạn tới, với phương châm: "học,
học nữa, học mãi", "học suốt đời", nhu cầu học tập của nhân dân trong tương
lai còn rất lớn, hệ thống các trường chính quy sẽ không thể đảm đương nổi
nếu không có sự tiếp sức của các TTGDTX.
Bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, đào tạo ĐH tại các
TTGDTX ở ĐBSCL cũng còn một số tồn tại như ý thức của nhiều người học
chưa cao, một số trung tâm không đảm bảo môi trường sư phạm, chương trình
đào tạo chưa phù hợp với đối tượng người học, bị cắt xén nhiều so với
chương trình đào tạo chính quy cùng trình độ. Việc tổ chức giảng dạy chưa
chặt chẽ, nhiều giảng viên chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy người lớn,
nhiều nơi, nhiều lớp thực hiện giảng dạy các môn học theo kiểu cuốn chiếu,
điều kiện phục vụ giảng dạy như thư viện, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành
không đảm bảo theo yêu cầu của chương trình đào tạo.
phát triển kinh tế, xã hội của toàn vùng. Nếu ta có một hệ thống các biện pháp
đồng bộ, phù hợp với đặc điểm hoạt động của TTGDTX cấp tỉnh, thì chất
lượng đào tạo sẽ được nâng cao.
6. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về các biện pháp đào tạo hệ đại học tại các
TTGDTX cấp tỉnh khu vực ĐBSCL.
- Khảo sát thực trạng đào tạo hệ đại học tại các TTGDTX cấp tỉnh khu
vực ĐBSCL.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
- Đề xuất các biện pháp đào tạo hệ đại học tại các TTGDTX cấp tỉnh khu
vực ĐBSCL.
7. PHƢƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu được dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, quan điểm hệ thống - cấu trúc, quan điểm lịch sử - lôgic, quan
điểm thực tiễn và quan điểm phát triển.
8. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
8.1. Nhóm các phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá các tài liệu
lí luận và pháp lý về giáo dục thường xuyên để xác định các khái niệm công
cụ và hình thành cơ sở lý thuyết cho đề tài.
8.2. Nhóm các phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp điều tra
- Khảo sát thực trạng thu thập thông tin về quá trình đào tạo đại học tại
các TTGDTX cấp tỉnh khu vực ĐBSCL.
- Điều tra bằng bảng hỏi và trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lí, giảng
viên của các TTGDTX, các trường đại học và cán bộ lãnh đạo một số tỉnh khu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐÀO TẠO
HỆ ĐẠI HỌC TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC
THƢỜNG XUYÊN CẤP TỈNH
1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Những nghiên cứu về giáo dục thƣờng xuyên
Giáo dục thường xuyên (GDTX) là một vấn đề được các nhà khoa học
giáo dục của nhiều nước quan tâm. Thực tiễn cho thấy khi nghiên cứu về giáo
dục thường xuyên các tác giả thường đề cập tới các vấn đề có liên quan mật
thiết đó là xây dựng xã hội học tập (XHHT) và giáo dục cho mọi người. Bởi
vì mục tiêu xây dựng XHHT và thực hiện giáo dục cho mọi người đặt ra
nhiệm vụ tổ chức và thực hiện GDTX.
Một công trình được thế giới thừa nhận như một triết lý của giáo dục
thế kỷ XXI là báo cáo của Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI, dưới sự
chủ tọa của Jacques Delors, nguyên Chủ tịch ủy ban Châu Âu (EC) nhiệm kỳ
1985-1995 và được UNESCO công bố tháng 4 năm 1996, với tên gọi “học
tập, một kho báu tiềm ẩn”. Trong đó báo cáo này dành chương V để phân tích
việc học suốt đời. Theo đó có thể tóm tắt triết lý của một nền giáo dục cần
thiết cho thế kỷ XXI: Học tập suốt đời và XHHT. Học tập suốt đời được coi là
chìa khóa mở cửa vào thế kỷ XXI. Nó vượt qua cách hiểu thông thường về
GDCQ và KCQ; hình thành quan niệm mới về giáo dục ban đầu và giáo dục
tiếp tục. Học tập suốt đời gắn với quan niệm mới về một XHHT, ở đó tất cả
mọi thứ đều có thể tạo ra cơ hội học tập để phát huy tiềm năng của mỗi người.
Ngoài công trình nghiên cứu trên, còn có nhiều nghiên cứu khác cũng
đề cập tới xu thế học tập suốt đời trong thời đại mới. Chẳng hạn, các nhà
Tương lai học, Giáo dục học hàng đầu thế giới và khu vực như Alvin Toffler,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Trên thực tế cho tới những năm đầu thế kỷ XXI xu thế học tập suốt đời
và một XHHT đang được hiện thực hóa ở nhiều nước trên thế giới.
Tại Pháp, tư tưởng toàn dân học tập và học tập suốt đời lần đầu tiên
được đề xuất bởi Paolo Lange, nhà quản lí giáo dục đưa ra vào những năm 60
của thế kỷ XX. Năm 1972 Ủy ban Quốc tế do Thủ tướng Pháp chủ trì đã đưa
ra báo cáo với tên gọi “sự tồn tại của XHHT trên thế giới, giáo dục hôm này
và ngày mai” đã chính thức xác nhận tính pháp lí của tư tưởng này, không chỉ
ở Pháp mà trên phạm vi quốc tế. Từ đó quan niệm học tập suốt đời ngày càng
thâm nhập sâu vào thực tiễn giáo dục của nhiều nước trên thế giới có nền giáo
dục phát triển [45].
Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong lĩnh vực triển khai tư
tưởng học tập suốt đời và XHHT. Ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước,
nền giáo dục Nhật Bản đã cải cách theo xu thế mở ra các điều kiện để mọi
người dân được học suốt đời. Trong những năm 1984 - 1987, Nhật Bản đề ra
chủ trương: Phải xây dựng một thể chế giáo dục suốt đời quá độ sang hệ
thống giáo dục mới ổn định. Năm 1988 Bộ Giáo dục Nhật đã công bố sách
trắng, trong đó khảng định: Nhật bản đang đối diện với mục tiêu của việc cải
cách giáo dục cho thế kỷ XXI “chính là thực hiện một XHHT suốt đời”.
Ở Mỹ, tháng 4 - 1984, trong báo cáo của Ủy ban giáo dục chất lượng
cao toàn Liên bang đã gửi Quốc hội, trong đó nhấn mạnh: cần phải dốc sức
vào việc giáo dục suốt đời, mở ra một phong trào giáo dục với mục tiêu xã hội
hóa học tập. Ngày 18 - 4 - 1981 trong chiến lược giáo dục của “kế hoạch năm
2000 của Mỹ”, do tổng thống Mỹ công bố lại nhấn mạnh thêm một bước, học
tập suốt đời kiến thức và kỹ thuật, suốt đời là học sinh và hô hào mở cuộc vận
động cải tạo nước Mỹ thành một nước “cả nước đi học”.
Tại Hàn Quốc, ngày 31-5 -1995, Hội đồng về cải cách giáo dục (PCER)
Chính phủ về chấn hưng và hiện đại hóa giáo dục [100], Thái Duy Tuyên,
trong tác phẩm “Giáo dục häc hiện đại” [102], đều nhấn mạnh mọi người cần
học tập, học thường xuyên, học suốt đời.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
GDKCQ và GDTX có lịch sử phát triển lâu dài, có nhiều biến đổi và khá
đa dạng. Vì vậy, GDKCQ và GDTX được nghiên cứu và triển khai trong thực
tiễn dưới nhiều góc độ, nhưng tựu trung lại là giáo dục dành cho người lớn.
Ngay từ những năm 70 - 80 của thế kỷ trước đã có nhiều công trình
nghiên cứu về giáo dục theo phương thức tại chức. Chẳng hạn: công
trình của Thái Xuân Đào [33], Tô Bá Trượng [105] về GDCQ và KCQ
của Vũ Đình Ruyệt [95], Ngô Văn Cát [23] về mô hình dạy văn hóa, BTVH
kết hợp với dạy nghề và hỗ trợ phát triển giáo dục tiếp tục.v.v… Đặc biệt là
các công trình mang tầm vóc tổng kết lĩnh vực GDTX của Viện Khoa học
giáo dục [123] và Vụ GDTX [8]. Các công trình này đã đề cập đến nhiều vấn
đề cơ bản của GDTX như: chương trình xóa mù, chương trình tương đương,
nâng cao chất lượng cuộc sống, đáp ứng sở thích cá nhân, tạo thu nhập, hướng
tới tương lai; cơ sở hạ tầng của GDTX, trong đó nhấn mạnh tới vai trò và hoạt
động của TTHTCĐ; định hướng phát triển GDTX ở Việt Nam trong tương
lai. Có thể nói các công trình nêu trên đã gợi ra nhiều vấn đề lí luận và thực
tiễn cho các nghiên cứu sau về giáo GDTX nói chung, về TTHTCĐ nói riêng.
Trong thực tiễn, vấn đề GDKCQ và GDTX được triển khai ngay từ
những năm 1945 và phát triển khá mạnh mẽ. Có thể tóm lược quá trình phát
triển lĩnh vực GDTX từ trước tới nay thành 4 thời kỳ với 3 loại hình giáo dục
đặc trưng: Thời kỳ bình dân học vụ (9/1945 - 9/1959), với tư tuởng lớn của
chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề
nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” [66, tr.4]; Thời kỳ BTVH
(9/1959 đến 9/1989). Mục tiêu chủ yếu của thời kỳ này là tạo điều kiện để
- Từ xu thế nhà nước hoá sang xu thế cộng đồng hoá;
- Từ xu thế chính qui sang xu thế phi chính qui;
- Từ cứng nhắc sang mềm dẻo, linh hoạt;
- Từ chỗ ngành giáo dục phải chủ động sang cộng đồng phải chủ động.
Vấn đề liên kết đào tạo là nội dung và cũng là một trong những hình
thức của các xu thế phát triển GDTX.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Trong Hội thảo “Chương trình giáo dục cho mọi người” ở Châu Á -
Thái Bình Dương tại thủ đô Australia tháng 11 năm 1987, UNESCO đã định
nghĩa: “GDTX là một khái niệm rộng lớn, bao gồm tất cả các cơ hội học tập
mà mọi người đều mong muốn hoặc hoặc cần có sau xoá mù chữ cơ bản và
giáo dục tiểu học” [97]. Định nghĩa này bao hàm các ý sau:
- GDTX dành cho người lớn đã biết chữ;
- GDTX đáp ứng nhu cầu, mong muốn của mọi người;
- GDTX có thể bao hàm những kinh nghiệm do GDCQ, KCQ và phi
chính qui cung cấp;
- GDTX được qui định là cơ hội tham gia vào quá trình học tập suốt đời
sau khi kết thúc tiểu học hoặc tương đương.
Trong Tuyên ngôn 21 điểm của UNESCO đã có những quan điểm hết
sức quan trọng cho sự phát triển của GDTX:
- GDTX phải là nét chủ đạo của mọi chính sách giáo dục trong những
năm tới tại các nước công nghiệp phát triển cũng như các nước đang phát triển;
- GDTX cho mọi lứa tuổi trong suốt cuộc đời không chỉ bó hẹp trong 4
bức tường, có nghĩa là phải cải tổ toàn diện ngành giáo dục. Giáo dục phải trở
thành một phong trào quần chúng thực sự;
- GDTX phải tiến hành và tiếp thu bằng nhiều cách khác nhau. Điều
quan trọng là không phải học theo cách nào mà học cái gì và học được cái gì;
tác liên kết đào tạo tại chức ở TTGDTX Hải Phòng” của Đỗ Văn Hạ…
Rõ ràng, nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn về liên kết đào tạo, về mô
hình liên kết đào tạo đại học vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống,
trong khi sự tồn tại của mô hình này là một tất yếu, một xu hướng trong sự
phát triển của giáo dục và sự phát triển của GDTX.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
1.2. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2.1. Giáo dục thƣờng xuyên
Trên thế giới, thuật ngữ giáo dục thường xuyên (GDTX) (Continuing
Education) nhiều khi được sử dụng tương đương với các thuật ngữ “Giáo dục
người lớn”, (Adult Education), “Giáo dục ngoài nhà trường” (Out - of - shool
Education), “Giáo dục cộng đồng” (Community Education), hoặc giáo dục
không chính quy (GDKCQ) (Non-formal Education), [85], mặc dù các thuật
ngữ có nội hàm không hoàn toàn giống nhau.
Năm 1987, UNESCO đưa ra khái nhiệm: GDTX là tất cả các cơ hội
học tập cho mọi người có mong muốn và nhu cầu sau XMC cơ bản học giáo
dục tiểu học [114]. Quan niệm này về GDTX muốn nhấn mạnh hai khía cạnh.
Thứ nhất: GDTX không bao gồm XMC, mà chỉ dành cho người lớn hoặc
thanh niên biết chữ, Thứ hai: GDTX là khái niệm rộng, bao gồm cả GDCQ
và GDKCQ cho tất cả những ai có nhu cầu sau khi biết đọc, biết viết hoặc
tương đương tiểu học. Như vậy, theo UNESCO GDCQ và GDKCQ không
đồng nhất với nhau, GDTX có nội hàm rộng hơn, bao gồm trong đó cả
GDCQ và GDKCQ.
Theo UNESCO, GDKCQ và GDCQ đều có tầm quan trọng như nhau
đối với sự phát triển tài nguyên con người, chúng bổ sung cho nhau; cả
GDCQ và GDKCQ đều có đối tượng riêng; GDKCQ là một phần tiếp tục của
GDCQ, vì vậy cả hai loại chương trình này cần được tiến hành song song với
Theo nghĩa hẹp, GDKCQ chỉ bao gồm các chương trình giáo dục do Bộ
Giáo dục và Đào tạo quản lý, chỉ đạo, cụ thể là Vụ GDTX và Vụ Giáo dục
Đại học (XMC, sau XMC, BTVH, ngoại ngữ, tin học, CĐ, ĐH tại chức và các
chương trình giáo dục không cấp lớp, giáo dục chuyên đề đáp ứng nhu cầu
người học ở cộng đồng). Hẹp hơn nữa, GDKCQ chỉ có nhiệm vụ tổ chức học
XMC, sau XMC và BTVH - GDCQ.
Cũng giống nhiều nước, ở Việt Nam, nội hàm các khái niệm GDKCQ
và GDCQ có quá trình phát triển và chưa đạt đến sự thống nhất hoàn toàn
giữa các nhà nghiên cứu. Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu và quản lí thuộc Vụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
GDTX cho rằng, GDKCQ bao gồm giáo dục bổ túc, GDTX và các hoạt động
phát triển kỹ năng sống nhằm đáp ứng nhu cầu học tập khác nhau của các
nhóm thanh thiếu niên và người lớn. GDTX là hình thức GDKCQ giúp mọi
người được học liên tục, học suốt đời để mở rộng kiến thức, nâng cao trình
độ, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống,
tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.
Theo “Từ điển giáo dục học” GDTX là hình thức giáo dục theo phương
thức KCQ nhằm giúp mọi người được học liên tục, suốt đời để mở rộng kiến
thức, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, nhằm cải thiện chất
lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội. GDTX được
thực hiện trong các TTGDTX và cấp chứng chỉ GDKCQ, nhưng không được
các chương trình giáo dục để lấy bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp,
bằng tốt nghiệp cao đẳng và đại học.
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu phát
triển giáo dục và thuộc Vụ GDTX, GDTX được hiểu theo các nghĩa:
- Về phương châm giáo dục: là sự cung ứng cơ hội cho mọi người để
học tập suốt đời nhằm thúc đẩy sự phát triển con người thông qua các chương
giữa chính quy và KCQ về yêu cầu tri thức, thái độ kỹ năng của cá nhân nhằm
thích ứng với sự phát triển của xã hội. Nếu trước đây, để tham gia có hiệu quả
vào guồng máy sản xuất xã hội, cá nhân chỉ cần được trang bị một số kỹ năng
lao động cơ bản, nhưng ngày nay và trong tương lai gần những kỹ năng ban
đầu nhanh chóng bị lạc hậu, phiến diện và cần phải được thay thế. Vì vậy, sẽ
không còn sự tách biệt giữa GDCQ và GDKCQ.
Thứ hai: Cũng do sự phát triển của xã hội tất yếu dẫn đến xu hướng học
suốt đời trong phạm vi toàn xã hội. Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu học tập của
mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt đối với lứa tuổi trưởng thành, tất yếu phải có
GDTX. GDTX không phải chỉ cung cấp những tri thức không cơ bản, KCQ
(đơn giản vì sẽ không còn cái gọi là tri thức cơ bản và không cơ bản, chính
quy và KCQ), mà là những tri thức cần thiết cho người học tại thời điểm phát
triển đó của xã hội và cá nhân.