NỘI DUNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG
KỂ CHUYỆN TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
CHO HỌC SINH THEO HƯỚNG GIAO TIẾP
1. Nội dung kiểu bài kể chuyện phân môn Tập làm văn líp 4
1.1. Văn kể chuyện trong chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 4
Trong chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học, văn kể chuyện chiếm một
vị trí quan trọng. Văn kể chuyện được bắt đầu dạy từ líp 2 và chương trình
chú trọng rèn luyện cả kiến thức và kĩ năng làm văn kể chuyện cho HS. Tuy
nhiên, ở líp 2 và 3 các em chỉ mới làm quen với văn kể chuyện thông qua
các bài học thực hành và chưa hình thành kiến thức. Lên líp 4, kiến thức về
văn kể chuyện mới được đưa đến HS và làm nền tảng cho việc rèn luyện kĩ
năng. Cụ thể, chương trình đã xây dựng như sau:
Líp 2: HS bước đầu làm quen với văn kể chuyện nhưng yêu cầu
đặt ra còn khá đơn giản. Cụ thể có các dạng: kể ngắn theo tranh hoặc theo
câu hỏi gợi ý và kể ngắn theo chủ đề cho trước (có hoặc không có câu hỏi
gợi ý). Nhìn chung, chương trình líp 2 đã rèn cho HS kĩ năng xây dựng
cốt truyện (mỗi tranh, mỗi câu hỏi là một ý trong câu chuyện); kĩ năng
xây dựng nhân vật (kể về nhân vật như người thân, cô giáo có miêu tả
hình dáng, hoạt động hoặc kể một việc làm của nhân vật), luyện viết một
đoạn văn ngắn từ 3 – 5 câu. Ngoài ra, ở líp học này các em còn làm quen
với kiểu bài “nghe kể – trả lời câu hỏi”- dạng bài này là cơ sở cho kiểu bài
“nghe- kể” ở líp 3 - và kiểu bài kể chuyện chứng kiến, tham gia (kể việc
tốt của em hoặc bạn em (TV2-II-tr 132)).
Líp 3: yêu cầu về kĩ năng kể chuyện đã được nâng lên cao hơn
líp 2. HS líp 3 phải kể thành đoạn, thành bài hoàn chỉnh. Cụ thể có các
dạng: kể theo chủ đề cho trước (có hoặc không có câu hỏi gợi ý); kể lại
chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia; kể lại câu chuyện được nghe
(kiểu bài nghe – kể). Chương trình líp 3 bước đầu đã chú ý rèn cho các em
xác định đối tượng giao tiếp (Hãy kể về gia đình em với một người bạn
mới quen, TV3-I-tr 28); đề tài kể cũng phong phú hơn líp 2 (gia đình, làng
xóm, lễ hội, bảo vệ môi trường, ). Về kĩ năng, chương trình tiếp tục nâng
- Nhân vật trong truyện: phân biệt nhân vật chính, nhân vật phụ,
hình dáng, cử chỉ, hành động, lời nói, ý nghĩ của nhân vật.
- Cốt truyện
- Cấu tạo đoạn văn, bài văn kể chuyện
Nội dung kĩ năng
- Kĩ năng làm văn
+ Định hướng văn bản:
Nhận diện đặc điểm loại văn.
Phân tích đề bài.
+ Tìm ý, lập dàn ý:
Xác định dàn ý của bài văn.
Tìm ý và sắp xếp ý theo đề bài, lập ý cho đoạn, cho bài kể.
+ Diễn đạt thành văn bản:
Chọn từ, tạo câu, viết đoạn.
Liên kết đoạn thành bài kể hoàn chỉnh.
+ Kiểm tra, sửa chữa văn bản
Đối chiếu văn bản của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt.
- Kĩ năng đặc thù của văn kể chuyện
+ Xây dựng nhân vật
+ Xây dựng cốt truyện
+ Phát triển câu chuyện
+ Xây dựng đoạn văn kể chuyện
+ Mở bài và kết bài kể chuyện
1.3. Phân loại các bài tập làm văn kể chuyện
1.3.1. Phân loại theo tính chất của bài tập văn kể chuyện
Căn cứ theo tính chất của bài tập văn kể chuyệnvăn kể chuyện để
phân loại, có các dạng bài sau:
- Dạng bài tập nhận biết khái niệm: cung cấp cho HS những đặc
điểm chính về văn kể chuyện như: thế nào là văn kể chuyện, cốt truyện,
nhân vật trong truyện.
VD: Truyện cổ tích Cây khế bao gồm các sự việc chính sau đây:
(a) Chim chở người em ra đảo lấy vàng, nhờ thế người em trở nên giàu
có.
(b) Cha mẹ chết, người anh chia gia tài, người em chỉ được cây khế.
(c) Người anh biết chuyện, đổi gia tài của mình lấy cây khế, người em
bằng lòng.
(d) Cây khế có quả, chim đến ăn, người em phàn nàn và chim hẹn trả ơn
bằng vàng.
(e) Chim lại đến ăn, mọi chuyện diễn ra như cũ, nhưng người anh may tói
quá to và lấy quá nhiều vàng.
(g) Người anh bị rơi xuống biển chết.
Hãy sắp xếp các sự việc trên thành cốt truyện.
(TV4 – I – tr 43)
b. Dùa vào cốt truyện đã sắp xếp để kể lại câu chuyện.
VD: Dùa vào cốt truyện trên, kể lại truyện Cây khế.
(TV4 – I – tr 43)
c. Tạo lập cốt truyện với nhân vật cho trước.
VD: Hãy tưởng tượng và kể lại vắn tắt một câu chuyện có ba nhân vật:
bà mẹ ốm, người con của bà mẹ bằng tuổi em và một bà tiên.
(TV4 – I – tr 45)
(Gợi ý chủ đề: câu chuyện về sự hiếu thảo và lòng trung thực)
1.3.3.2.Dạng bài tập phát triển câu chuyện: hướng dẫn HS biết cách
phát triển một câu chuyện dùa trên gợi ý về nội dung câu chuyện hoặc
đoạn trích kịch đã được học. Cụ thể:
a. Phát triển câu chuyện theo trình tự thời gian dùa trên gợi ý cho
sẵn để xây dựng cốt truyện.
VD : Trong giấc mơ, em được một bà tiên cho ba điều ước và em
đã thực hiện ba điều ước đó. Hãy kể lại câu chuyện đó theo trình tự thời
gian.
Gợi ý:
- Đoạn 3: Cha của Yết Kiêu ở quê nhà nhớ con, nhớ câu chuyện
giữa hai cha con trước lúc Yết Kiêu lên đường.
(b) Cách trình bày: Nên chuyển lời đối thoại trong kịch thành lời kể
và lời dẫn gián tiếp. Chỉ giữ lại những lời đối thoại quan trọng.
(TV4 – I – tr 93)
1.3.3.3. Dạng bài tập xây dựng nhân vật: hướng dẫn HS biết xây
dựng nên tính cách nhân vật thông qua hành động, ngoại hình, lời nói, ý
nghĩ của nhân vật.
a. Luyện tập nhận xét tính cách nhân vật qua hành động, lời nói,
ngoại hình.
VD: Nhân vật trong câu chuyện sau đây có những ai? Em có đồng
ý với nhận xét của bà về tính cách của từng cháu không? Vì sao bà có
nhận xét như vậy?
( TV4-I – tr 13)
b. Luyện tập kể hành động, lời nói, ngoại hình phù hợp với nhân vật
và tình huống cho trước.
VD : Cho tình huống sau: Một bạn nhỏ mãi vui đùa, chạy nhảy, lỡ
làm ngã một em bé. Em bé khóc.
Em hãy hình dung sự việc và kể tiếp câu chuyện theo mét trong hai
hướng sau:
(a) Bạn nhỏ nói trên biết quan tâm đến người khác.
(b) Bạn nhỏ nói trên không biết quan tâm đến người khác.
( TV4-I – tr 13)
c. Tìm hành động của nhân vật trong câu chuyện và sắp xếp hành
động phù hợp với nhân vật, đúng với trình tự xảy ra.
VD: Ghi lại vắn tắt những hành động của cậu bé bị điểm không
trong truyện. Theo em, mỗi hành động của cậu bé nói lên điều gì?
Các hành động trên được kể theo thứ tự như thế nào?
( TV4-I – tr 21)
d. Luyện tập về ngoại hình của nhân vật: nhận xét ngoại hình của
1.3.3.5. Dạng bài tập luyện viết đoạn: hướng dẫn HS cách viết một
đoạn văn kể chuyện thông qua việc hoàn chỉnh một đoạn văn, phát triển ý
thành đoạn, hoàn chỉnh nhiều đoạn văn dùa theo một cốt truyện có sẵn.
VD: (Đọc cốt truyện Vào nghề)
Bạn Hà viết thử cả bốn đoạn của câu chuyện trên, nhưng chưa viết
được đoạn nào hoàn chỉnh. Em hãy giúp bạn hoàn chỉnh một trong các
đoạn Êy.
a) Đoạn 1:
- Mở đầu:
- Diễn biến:
- Kết thúc: Từ đó, lúc nào trong trí óc non nít của Va-li-a cũng hiện
lên hình ảnh cô diễn viên phi ngựa, đánh đàn. Em mơ ước một ngày nào
đó cũng được như cô - phi ngựa và chơi những bản nhạc rộn rã.
b) Đoạn 2:
- Mở đầu: Rồi một hôm, rạp xiếc thông báo cần tuyển diễn viên.
Va-li-a xin bố mẹ cho ghi tên học nghề.
- Diễn biến:
- Kết thúc: Bác giám đốc gật đầu cười, bảo em: “Công việc của
diễn viên phi ngựa đánh đàn bắt đầu như thế đấy, cháu ạ. Cái tháp cao
nào cũng phải xây từ mặt đất lên.”
c) Đoạn 3:
- Mở đầu:
- Diễn biến: Những ngày đầu, Va-li-a rất bỡ ngỡ. Có lúc rất nản
chí. Nhưng cứ nhớ đến hình ảnh cô diễn viên phi ngựa, em lại thấy phấn chấn
lên.
- Kết thúc:
d) Đoạn 4:
- Mở đầu:
- Diễn biến: Cứ mỗi lần Va-li-a bước ra sàn diễn, những tràn vỗ
tay nồng nhiệt lại vang lên. Chỉ trong nháy mắt, cô đã đứng trên lưng
Người kể phải sắp xếp lại bố cục và lùa chọn ngôn từ để kể cho phù hợp
với ngôi kể mới. Vì vậy, khi sử dụng biện pháp chuyển đổi ngôi kể để rèn
kĩ năng kể chuyện theo hướng giao tiếp, GV cần chú ý đến các nhân tố
giao tiếp như: tình huống giao tiếp, vai giao tiếp và sử dụng ngôn từ trong
giao tiếp.
- Về tình huống giao tiếp: khi nhập vai, HS cần nắm vững chi tiết
về thời gian, không gian của các tình tiết xảy ra với nhân vật trong câu
chuyện. Ngoài ra, HS cần hiểu rõ về hình thức giao tiếp của nhân vật mà
mình hoá thân với các nhân vật khác. Từ những chi tiết và hiểu biết này,
HS lùa chọn ngôn từ, văn phong, cách ứng xử sao cho phù hợp với nhân vật.
- Về vai giao tiếp: HS cần phải xác định rõ vai giao tiếp của mình
trong từng tình huống giao tiếp cụ thể với các nhân vật trong truyện. Việc
nắm rõ vai giao tiếp của nhân vật mà mình hoá thân giúp cho việc kể
được chính xác và nhất quán từ ngoại hình, hoạt động đến ý nghĩ của nhân
vật. Mặt khác, vai giao tiếp còn trực tiếp ảnh hưởng đến mục đích giao
tiếp. Nếu dùng lời người dẫn truyện thì mục đích là nêu ý nghĩa, bài học
của truyện và HS thường chỉ bộc lé thái độ với chính câu chuyện. Nếu vào
vai một nhân vật thì mục đích là phải nêu được ý nghĩa, bài học của chính
nhân vật và HS có điều kiện bộc lé không chỉ thái độ với câu chuyện mà
còn có thái độ với nhân vật. Nói cách khác, việc nhập vai làm cho việc kể
chuyện mang dấu Ên cá nhân rất rõ nét.
- Về sử dụng ngôn từ: phải phù hợp với vai giao tiếp của nhân vật
trong từng tình huống giao tiếp cụ thể trong truyện. HS cần phải thống
nhất đại từ nhân xưng từ đầu đến cuối truyện, đây là một lỗi mà HS rất
hay mắc phải. Ngoài ra, HS cũng phải biết cách dùng các từ xưng hô của
nhân vật mình hoá thân với các nhân vật khác trong truyện, đặc biệt là
trong cách dẫn các lời nói gián tiếp, trực tiếp của nhân vật.
Trong chương trình Tiếng Việt đầu thế kỉ XXI, văn kể chuyện đã có
yêu cầu HS kể chuyện bằng lời của nhân vật từ năm học líp 3 và tiếp tục
được củng cố và phát triển ở các năm học tiếp theo. Tuy nhiên, chương
: Kể lại câu chuyện “Nàng Tiên Èc” bằng lời của
một nhân vật, kết hợp tả ngoại hình của các nhân vật.
Gợi ý:
- Em đọc lại bài thơ “Nàng Tiên Èc”
- Đặt mình vào vai nhân vật bà già nghèo hoặc là con ốc rồi kể lại
câu chuyện.
- Chó ý đến ngôi kể, cách dùng từ xưng hô.
Bài tập vận dụng 2
: Cho tình huống sau:
Tôi vừa về đến nhà và thật ngạc nhiên: “Nhà cửa sao mà sạch quá”.
Đặt mình vào vai nhân vật trong tình huống trên, em hãy kể lại câu
chuyện “Nàng Tiên Èc” bắt đầu từ tình huống này. Kết hợp với tả ngoại
hình các nhân vật.
Gợi ý:
- Em xác định tình huống nằm ở chi tiết nào trong truyện.
- Em xác định nhân vật trong tình huống trên.
- Em kể lại chuyện bắt đầu từ giữa câu chuyện. (sẽ đề cập rõ hơn ở
mục 2.4.1)
- Chó ý đến ngôi kể, cách dùng từ xưng hô và không lặp lại những
chi tiết đã kể.
Bài tập vận dụng 3
: Cho tình huống sau:
Tôi giật mình vì tiếng động. Lính tính mách bảo một điều gì đó. Tôi
vội đi tìm vỏ ốc nhưng ôi thôi! Nó đã vỡ tan.
Đặt mình vào vai nhân vật trong tình huống trên, em hãy kể lại câu
chuyện “Nàng Tiên Èc” bắt đầu từ tình huống này. Kết hợp với tả ngoại
hình các nhân vật.
Gợi ý:
Vua nhìn thấy những miếng trầu têm rất khéo bèn hỏi bà hàng nước
xem trầu đó ai têm. Bà lão bảo chính tay bà têm. Vua gặng hỏi mãi, bà lão
đành nói thật là con gái bà têm.
Gợi ý:
- Em xác định nhân vật đã có câu nói của đề bài để vào vai.
- Xác định lời nói của từng nhân vật.
- Chó ý cách dùng từ xưng hô và hình thức của lời dẫn.
Bài tập vận dụng 3
: Em hãy chuyển lời dẫn gián tiếp trong đoạn văn
sau thành lời dẫn trực tiếp bằng lời bằng lời của nhân vật đã nói câu: “Tôi
đã têm những miếng trầu này đấy.”
Vua nhìn thấy những miếng trầu têm rất khéo bèn hỏi bà hàng nước
xem trầu đó ai têm. Bà lão bảo chính tay bà têm. Vua gặng hỏi mãi, bà lão
đành nói thật là con gái bà têm.
Gợi ý:
- Em xác định nhân vật đã có câu nói của đề bài để vào vai.
- Xác định lời nói của từng nhân vật.
- Chó ý cách dùng từ xưng hô và hình thức của lời dẫn.
Bài tập gốc 2: Chuyển lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn sau thành
lời dẫn gián tiếp:
Bác thợ hỏi Hoè:
- Cháu có thích làm thợ xây không?
Hoè đáp:
- Cháu thích lắm !
Bài tập vận dụng 1
: Mượn lời của bác thợ (hoặc của Hoè) chuyển
lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn sau thành lời dẫn gián tiếp:
Bác thợ hỏi Hoè:
- Em xác định nhân vật đã có câu nói của đề bài để vào vai.
- Xác định lời nói của từng nhân vật.
- Chó ý cách dùng từ xưng hô và hình thức của lời dẫn.
VD 3:
Bài “Luyện tập xây dựng đoạn văn kể chuyện” (tuần 6, tiết
2)
Bài tập gốc 1: Dùa vào tranh và lời kể dưới tranh, kể lại cốt truyện
Ba lưỡi rìu:
Bài tập vận dụng
: Dùa vào tranh và lời kể dưới tranh, kể lại cốt
truyện “Ba lưỡi rìu” bằng lời của chàng tiều phu hoặc cụ già.
Gợi ý:
- Em xác định các nhân vật trong truyện và nhân vật mình vào vai.
- Nắm vững ý của mỗi tranh và cốt truyện.
- Kể lại cốt truyện, chú ý cách dùng từ xưng hô.
Bài tập gốc 2: Phát triển ý nêu dưới mỗi tranh thành một đoạn
văn kể chuyện.
Về cơ bản, thiết kế đề cho đề gốc thứ hai cũng không khác với đề gốc
thứ nhất là nhấn mạnh đến việc lùa chọn vai giao tiếp và đưa ra một tình
huống giao tiếp bất kì trong cốt truyện để HS bắt đầu kể từ tình huống đó.
Tuy nhiên, vì đề bài yêu cầu viết đoạn nên ta chó ý thêm về hình thức đoạn
văn cũng như việc miêu tả ngoại hình, hành động và dẫn lời nói, ý nghĩ của
các nhân vật.
2.2. Xác định đối tượng giao tiếp (người đọc, người xem) cho
câu chuyện
2.2.1. Vai trò của đối tượng giao tiếp (người đọc, người xem) đối với
việc làm bài văn kể chuyện
Mét trong những yếu tố chi phối bài văn của HS đó chính là “đối
kể lại chuyện với bất cứ đối tượng nào; thêm, bớt các chi tiết như thế nào
cho phù hợp đối tượng thì vẫn phải đảm bảo yêu cầu không bỏ sót các
tình tiết quan trọng, tuân thủ một số ngôn ngữ đặc thù của truyện, đặc biệt
là các truyện cổ tích, thần thoại không hiện đại hoá ngôn ngữ và các sự
việc trong truyện.
2.2.2. Đặc điểm đề bài hiện nay và các yêu cầu xác định đối tượng
giao tiếp
Trong phân môn TLV líp 4, các đề làm văn viết thư thể hiện rất rõ
đối tượng giao tiếp (viết thư gửi một bạn trường khác ; viết thư gửi một
người thân ) nhưng các đề văn kể chuyện thì hầu như không đề cập yếu
tố này, thường chỉ yêu cầu HS kể cái gì và kể như thế nào. Vì vậy, để rèn
kĩ năng kể chuyện theo hướng giao tiếp trong nội dung này, chúng ta có
thể làm như sau:
- Xác định yếu tố “đối tượng giao tiếp” cho đề bài đã ra: việc rèn kĩ
năng kể chuyện theo hướng giao tiếp được rèn chung với thực hành luyện
tập lí thuyết làm văn của bài dạy. Vì vậy, nếu bổ sung vào đề bài các nhân
tố giao tiếp thì vẫn không ảnh hưởng đến nội dung của bài dạy và thời
gian cũng không phải kéo dài thêm. Trong những trường hợp cụ thể, ta có
thể thêm vào đề yêu cầu về “vai” khi có thêm yếu tố “đối tượng giao
tiếp”, làm như vậy ta sẽ cùng lúc rèn được hai nội dung “vai và đối tượng
giao tiếp”. Như phần trên đã phân tích, khi có thêm yêu cầu về đối tượng
giao tiếp trong đề bài, GV cần hướng dẫn HS về cách sử dụng ngôn từ,
nhất là từ xưng hô; cách diễn đạt; cách mở bài, kết bài
- Khuyến khích HS tự lùa chọn đối tượng giao tiếp: Trong cuộc
sống, HS có rất nhiều đối tượng giao tiếp, mong muốn được thể hiện mình
với nhiều người khác nhau. Vì vậy, GV có thể để HS tự lùa chọn đối
tượng giao tiếp cho mình bằng cách khơi dậy ở HS những ước muốn của
các em như: nếu câu chuyện xảy ra với em, ai là người em muốn kể lại;
em thích chia sẻ những suy nghĩ về ý nghĩa, nhân vật của câu chuyện với
ai; em muốn ai bị thu hót, bị chinh phục bởi câu chuyện em kể; Dĩ nhiên,
Hoè đáp:
- Cháu thích lắm !
Bài tập vận dụng
: Đóng vai một người bạn của Hoè kể lại mẩu đối
thoại sau cho mẹ của bạn Êy bằng lời dẫn gián tiếp.
Bác thợ hỏi Hoè:
- Cháu có thích làm thợ xây không?
Hoè đáp:
- Cháu thích lắm!
Gợi ý:
- Em xác định lời kể của mình.
- Xác định đối tượng mình sẽ kể.
- Chuyển lời dẫn, chú ý đến cách xưng hô.
VD 2
: Bài “Cốt truyện” (tuần 4, tiết 1)
Bài tập gốc : Dùa vào cốt truyện trên, kể lại truyện Cây Khế
(Cốt truyện đã được đưa ra trước bài tập.)
Bài tập vận dông1
: Dùa vào cốt truyện trên, kể lại truyện Cây
Khế cho mét em nhá.
Gợi ý:
- Em xác định đối tượng nghe câu chuyện mình kể.
- Dù tính cách dùng từ và lùa chọn các chi tiết cần nhấn mạnh: Em
có thể dùng đại từ nhân xưng là anh hoặc chị; gọi em nhá là em, bé, Em
kể theo trình tự thời gian để em nhỏ dễ theo dõi; em có thể nhấn mạnh đến
các chi tiết như; người em rất dễ tính (người anh yêu cầu điều gì người em
cũng đồng ý) và thật thà (chim bảo sao thì làm đúng như vậy), người anh
- Em xác định đối tượng nghe câu chuyện mình kể.
- Dù tính cách dùng từ và lùa chọn các chi tiết cần nhấn mạnh : Em
dùng từ xưng hô phù hợp như : tôi – bạn; cậu – tớ, Vì đối tượng khoảng
tuổi em có tính hiếu động, thích sự mạo hiểm và hành động nên em có
thể mở bài bằng cách giới thiệu ưu điểm của nhân vật Yết Kiêu hoặc mô
tả những điều bạo ngược mà giặc Nguyên đã làm để tạo sự hấp dẫn ngay
từ đầu. Trong khi kể, em cũng có thể lồng vào việc miêu tả ngoại hình của
Yết Kiêu theo sự tượng tượng của mình và nhấn mạnh các hành động khi
Yết Kiêu yết kiến nhà vua.
Bài tập vận dụng 2 : Dùa vào đoạn trích kịch, hãy kể lại câu chuyện
“Yết Kiêu” cho một người bạn của em bằng lời của nhân vật Yết Kiêu.
Gợi ý :
- Làm tương tự như trên. Tuy nhiên, với đề bài này em xác định
nhân vật mình sẽ vào vai nên cần thay đổi đại từ nhân xưng cho phù hợp
nhân vật, đặt trọng tâm nhiều vào miêu tả hành động và lời nói của nhân
vật em vào vai.