BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ÔN THỊ HƯỜNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN
CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC 15 - 10
HUYỆN MỘC CHÂU – TỈNH SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
học Giáo dục Tiểu học đã động viên, đóng góp ý kiến và chia sẻ kinh nghiệm
cho tôi.
Đề tài còn rất nhiều thiếu sót rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
các thầy cô và các bạn để đề tài thêm hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Người thực hiện
ÔN THỊ HƯỜNG
DANH MỤC NHỨNG TỪ VẾT TẮT
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
TBDH : Thiết bị dạy học
SGK : Sách giáo khoa
NXB : Nhà xuất bản
7. Giả thiết khoa học 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.1. Cơ sở lí luận 7
1.1.1. Khái niệm Kể chuyện 7
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy và học kể chuyện 7
1.1.2.1. Nhu cầu kể chuyện 7
1.1.2.2. Vị trí, nhiệm vụ của dạy học kể chuyện trong trường tiểu học 9
1.1.3. Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học 11
1.2. Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1. Khảo sát thực trạng dạy và học kể chuyện trong nhà trường tiểu học 12
1.2.1.1. Nội dung chương trình và yêu cầu cần đạt khi dạy và học môn Kể
chuyện lớp 5 12
1.2.1.2. Quy trình dạy học phân môn kể chuyện hiện nay 14
1.2.2. Kết quả khảo sát 15
1.2.2.1. Quan điểm của GV và HS về việc dạy và học phân môn Kể chuyện 15
1.2.2.2. Thuận lợi 16
1.2.2.3. Khó khăn 17
1.2.2.4. Số liệu thống kê 18
1.2.2.5. Nguyên nhân mắc lỗi trong khi kể chuyện của HS 19
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN CHO
HỌC SINH LỚP 5 22
2.1. Một số vấn đề về phương pháp và kĩ thuật lên lớp của phân môn Kể
chuyện 22
2.1.1. Đặc trưng của phân môn Kể chuyện 22
2.1.2. Phương pháp dạy học đặc trưng của phân môn Kể chuyện 22
2.1.3. Kĩ thuật lên lớp của một tiết học kể chuyện 23
2.2. Một số biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5 24
2.2.1. Hướng dẫn học sinh kể chuyện 24
2.2.1.1. Hướng dẫn học sinh đọc và cảm thụ câu chuyện 24
Trong thư gửi HS nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc
lập, Bác Hồ thiết tha căn dặn các em HS: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi
đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các
cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần công học tập của
các em”. Lời dạy của Bác đã khẳng định vai trò của trẻ em đối với tương lai của
đất nước.
Thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển, nâng cao không ngừng của văn hóa,
kinh tế đất nước. Để có thể bắt kịp đà phát triển của những nước lớn mạnh thì
cần sự chung sức, đồng lòng của toàn dân mà lực lương chủ yếu chính là
những chủ nhân tương lai của đất nước, là nhân vật chính góp phần tạo nên
cái thế, cái dáng đứng cho Tổ Quốc Việt Nam, đó chính là trẻ em. Trẻ em là
đối tượng chủ yếu trong chiến lược con người của Đảng, Nhà nước ta và được
cả xã hội quan tâm.
“Tiểu học là cấp học nền tảng trong nhà trường phổ thông, đặt cơ sở ban
đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người, là nền tảng
vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân”.
Giáo dục tiểu học “hình thành cho HS những cơ sở ban đầu về sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kĩ năng cơ bản để học
tiếp trung học hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
(Mục tiêu, kế hoạch giáo dục tiểu học)
Nhiều nhà chuyên môn cho rằng bậc Tiểu học là bậc học kĩ năng và bậc
Tiểu học ở bất cứ quốc gia nào cũng vậy, cũng phải hình thành cho HS kĩ năng
cơ bản tối thiểu và đặc trưng nhất, đó là kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ: nghe, nói,
đọc, viết. Những kĩ năng được hình thành trên cơ sở tư duy phát triển, và ngược
lại nhờ có kĩ năng cơ bản đó mà HS tiếp tục học tập tốt hơn, tạo được bước phát
triển cao hơn.
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học hiện nay là nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện. Nhà trường Tiểu học là cái nôi cung cấp cho HS những tri thức khoa
học, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, giúp các em hình thành và phát triển nhân cách.
Ở trường Tiểu học, Kể chuyện là một môn học lý thú, hấp dẫn đối với HS.
nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề
Dạy và học môn Tiếng Việt là một nhiệm vụ khó khăn mà không phải bất
kì nhà giáo dục nào cũng có thể làm được. Với một môn học được số ít các nhà
giáo quan tâm như phân môn Kể chuyện thì đó cũng là một vấn đề lớn. Đã có rất
nhiều tài liệu giáo dục nghiên cứu và chỉ ra vai trò, tầm quan trọng của việc dạy
kể chuyện, phương pháp dạy kể chuyện tuy nhiên các tài liệu đó còn mang tính
chung chung, chưa chỉ rõ vấn đề cũng như chưa đưa ra các biện pháp cụ thể để
áp dụng vào thực tiễn.
Trong đề tài này, tôi đã sưu tầm, tổng hợp và xử lí các tài liệu sau đây:
3
1. Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt ( Đào Ngọc, Nguyễn Quang Ninh, Nhà
xuất bản Giáo dục). Tài liệu này vừa là cuốn sách thực hành về tiếng Việt, vừa
là cuốn sách rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm đối với GV tiểu học. Cuốn
sách trình bày việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ gắn liền với các kĩ năng
nghiệp vụ ở tiểu học như: kĩ năng đọc thầm, kĩ năng đọc diễn cảm, kĩ năng viết
chữ, kĩ năng viết các loại văn bản dạy ở tiểu học, kĩ năng nghe, kĩ năng nói, kĩ
năng kể chuyện.
2. Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học (Tài liệu đào tạo GV -
2007) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV tiểu học. Cuốn sách đã
cập nhật những thông tin đổi mới về nội dung chương trình SGK và phương
pháp dạy học theo chương trình mới. Cuốn sách đã trình bày một cách chi tiết,
cụ thể về cấu trúc, nội dung và phương pháp dạy học cho từng phân môn trong
môn Tiếng Việt. Ngoài ra, cuốn sách còn giới thiệu được một số phương pháp
dạy học tích cực theo hướng đổi mới như: sử dụng bộ đồ dùng học tập trong dạy
học, sử dụng máy chiếu, băng hình… nhằm phục vụ cho quá trình dạy - học có
thể đạt được hiệu quả cao nhất.
3. Vui học Tiếng Việt: (Trần Mạnh Hưởng, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục -
2002). Tác giả đã đề cập đến những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúp HS luyện
3. Mục đích nghiên cứu
Là một GV tiểu học trong tương lai, mục tiêu phấn đấu của bản thân tôi là
truyền thụ những tri thức khoa học cho HS, đào tạo những con người có tư cách,
phẩm chất đạo đức, có năng lực để trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Tìm hiểu thực tiễn của việc dạy học nói chung và dạy học môn Tiếng Việt
nói riêng ở các trường tiểu học thông qua việc đi thực tế và trực tiếp tiếp xúc với
môi trường giảng dạy và học tập của nhà trường nhằm mục đích:
- Nghiên cứu thực trạng dạy và học phân môn Kể chuyện ở trường tiểu học,
đặc biệt là ở lớp 5, tìm hiểu về những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy
học phân môn Kể chuyện.
- Từ thực trạng đã tìm hiểu, đưa ra một số biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện
cho HS lớp 5 nhằm tạo hứng thú học tập cho HS, giúp các em nhận thấy tầm
quan trọng của phân môn kể chuyện từ đó giáo dục động cơ học tập cho các em.
Hình thành kĩ năng kể chuyện cho HS, giúp các em diễn đạt tư tưởng tình cảm
một cách rõ ràng, chính xác. Đó cũng là cơ sở để các em học tốt các môn học
khác và bồi dưỡng những tình cảm đạo đức tốt đẹp.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc dạy và học phân môn Kể chuyện và một số lỗi
thường mắc trong quá trình nói, kể chuyện của HS lớp 5.
Khách thể nghiên cứu của đề tài là 48 HS lớp 5 Trường Tiểu học 15 – 10,
Thị trấn Mộc Châu, Huyện Mộc Châu, Tỉnh Sơn La.
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề. 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến việc rèn kĩ
năng kể chuyện cho HS lớp 5.
. - Nghiên cứu thực trạng rèn kĩ năng kể chuyện cho HS lớp 5.
- Tìm hiểu nguyên nhân khiến HS lớp 5 kể chuyện chưa hay và không có
6.5. Phương pháp phân tích - tổng hợp
6.6. Phương pháp thực hành – luyện tập
6.7. Phương pháp thiết kế mẫu
Ngoài các phương pháp nêu trên, tôi cũng đã sử dụng thêm hai phương
pháp nghiên cứu để nhằm đưa ra các cơ sở về lí luận cũng như thực tiễn, thực
trạng dạy học kể chuyện của GV và HS đó bao gồm hai phương pháp:
6.8. Nghiên cứu lý luận
- Tham khảo tài liệu, sách báo có liên quan đến việc rèn kĩ năng kể chuyện
cho HS lớp 5.
- Tham khảo nội dung, phương pháp, hình thức dạy học Kể chuyện cho HS
lớp 5.
6.9. Nghiên cứu thực nghiệm dạy học
- Quan sát qua dự giờ, khảo sát chất lượng dạy và học.
-Tìm hiểu nguyên nhân khiến HS kể chuyện chưa tốt từ đó không chỉ tìm
cách sửa chữa mà quan trọng hơn là đề xuất những giải pháp rèn kĩ năng kể
chuyện đạt hiệu quả cao hơn.
- Thực nghiệm trên HS để kiểm tra tính khả thi của vấn đề và biện pháp đề
ra để nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng kể chuyện cho HS lớp 5.
7. Giả thiết khoa học
Dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là định hướng trong dạy học hiện
nay nhất là đối với bậc học tiểu học. Đây là vấn đề được nhiều thầy cô dạy tiểu
học quan tâm, nghiên cứu và thực hiện.
Nếu đề tài tôi nghiên cứu chứng minh được tính hiệu quả của các biện pháp
đề xuất, sẽ góp thêm tiếng nói vào việc tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng
dạy và học theo quan điểm giao tiếp qua lĩnh vực rèn kĩ năng nói cho HS lớp 5.
Dưới thời kỳ nguyên thuỷ, bầy người nguyên thuỷ quây quanh đám lửa
nướng thịt thú rừng, nướng quả hạt, thường kể những câu chuyện về săn bắn, hái
lượm cho nhau nghe. Đó cũng là khởi đầu của sự tích luỹ tri thức khoa học và kể
chuyện ở đây mang chức năng thông tin.
8
Khi ngôn ngữ ngày càng phát triển, khối lượng từ tăng thêm, đời sống vật
chất và tinh thần ngày một phong phú thì kể chuyện không chỉ dừng ở mức độ
thông tin nữa mà còn mang thêm chức năng giải trí hay cao hơn nữa là chức
năng nghệ thuật. Nhờ vậy mà kho tàng truyện cổ dân gian hết sức giàu có và đa
dạng được truyền lại đến ngày nay bằng hình thức kể chuyện.
Những nghệ sĩ dân gian đứng trước đám đông kể lại những bản tình ca,
những truyện thần thoại, cổ tích bằng ngôn ngữ kể trong sáng, đẹp đẽ và đầy hấp
dẫn. Các tác phẩm anh hùng ca Iliát và Ôđítxê, truyện cổ Nghìn lẻ một đêm… đã
tồn tại truyền miệng như vậy.
Trải qua 1000 năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam sở dĩ bảo toàn được bản
lĩnh và bản sắc dân tộc độc đáo, không bị phong kiến phương Bắc xâm lược
đồng hoá, thôn tính, một phần là nhờ ở hùng khí của những câu chuyện cổ được
truyền lại như Vè chàng Lía, truyện Tống Trân Hoa Cúc, chùm truyền thuyết về
Âu cơ, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Thánh Gióng…
Trong một thời gian lịch sử lâu dài khi chưa có văn tự để ghi chép thì kể
chuyện là một hình thức chiếm địa vị độc tôn. Khi đã có văn tự ghi chép, in ấn
rồi thì kể chuyện vẫn tồn tại và phát triển song song với sự phát triển của văn tự.
Cho đến ngày nay, kể chuyện và nghe kể chuyện vẫn là một nhu cầu không thể
thiếu của mỗi người nói riêng và của cuộc sống nói chung.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và
vô cùng quý báu. Chúng ta phải biết quý trọng nó, giữ gìn nó, phát triển nó”.
Nhờ có tiếng nói mà ranh giới giữa con người và loài vật được phân biệt rõ ràng.
Từ tuổi lên 3 khi mới bập bẹ biết nói, con người đã thích nghe kể chuyện,
đến sau tuổi Mẫu giáo nhu cầu nghe kể chuyện ngày càng tăng thêm nhất là ở
một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói.
Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được cả sức mạnh của
tác phẩm văn học. Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn cho trẻ thơ. Sự hiểu
biết về cuộc sống, về con người, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ nghèo nàn đi
biết mấy nếu không có môn học kể chuyện trong trường học.
b) Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện
- Giờ kể chuyện có liên quan đến nhu cầu nghe kể chuyện của trẻ em, góp
phần hình thành nhân cách, đem lại những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh cho tâm
hồn HS.
Thích nghe kể chuyện là một đặc điểm của trẻ em. Từ thủa hai, ba tuổi trẻ
em đã say mê nghe kể chuyện. Các em được sống với những nhân vật cổ tích,
được tham gia và hòa mình vào những chuyến phiêu lưu kì thú, được gặp những
nàng công cúa xinh đẹp và chàng hoàng tử dũng cảm qua những câu chuyện kể
của bà, của mẹ. Nhiều người không bao giờ quên những kỷ niệm về các buổi tối
nghe kể chuyệm. Puskin từng tâm sự: “Buổi tối, tôi nghe kể chuyện cổ tích và
lấy việc đó bù đắp những thiếu sót trong sự giáo dục đáng nguyền rủa của mình.
Mỗi truyện cổ tích ấy mới đẹp làm sao, mỗi truyện là một bài ca”. Lớn lên các
em đi học, biết chữ, có thể đọc được truyện nhưng vẫn không giảm hứng thú
nghe kể chuyện để được đến với những vùng đất mới, vùng đất của sự sáng tạo,
10
của trí tưởng tượng mà ở đó các em thấy mình đang “bay bổng” trong tâm hồn.
Phân môn Kể chuyện trong chương trình tiểu học trước tiên đáp ứng yêu cầu
trên của trẻ.
Kể chuyện có sức mạnh riêng trong việc giáo dục trẻ. Sức mạnh này bắt
nguồn từ sức mạnh của công cụ mà phân môn Kể chuyện sử dụng, đó là tác
phẩm văn học nghệ thuật GV dùng để kể trong lớp. Các tác phẩm văn học có tác
dụng lớn đến tâm hồn và cảm xúc của trẻ em, đem lại những cảm xúc thẩm mỹ
lành mạnh.
- Giờ kể chuyện góp phần tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ em.
diễn biến từng loại truyện khác nhau. Có thể nói, ngôn ngữ nói được rèn luyện
trong giờ kể chuyện hướng tới phong cách nghệ thuật.
1.1.3. Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học
Từ ngày xưa ông cha ta đã có câu “Biết người biết ta trăm trận trăm
thắng”. Vậy để “thắng” được trong dạy học nói chung và trong phân môn Kể
chuyện nói chung hơn ai hết thầy cô giáo phải nắm vững được đặc điểm tâm
sinh lí của HS là đối tượng mà mình trực tiếp giảng dạy từ đó có những phương
pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng HS.
a) Đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 1
Đối với HS lớp 1 việc đến trường là một bước ngoặt vĩ đại trong cuộc đời
các em. Khi đến trường tuổi ấu thơ hồn nhiên, vô tư của các em đã có thêm trách
nhiệm nhất định, các em phải đi học đúng giờ, học hết tiết mới được ra chơi…
Những hoạt động này mang tính chất bắt buộc song trẻ lớp 1 vốn có tính hưng
phấn cao về mặt cảm xúc, biết khát khao tìm hiểu các hiện tượng thiên nhiên,
các hiện tượng về đời sống con người… Tuy vậy ngôn ngữ và tư duy của HS
lớp 1 mới bắt đầu phát triển, cách phát âm, cách dùng từ còn nhiều hạn chế. Từ
đó có thể thấy phương pháp chung được sử dụng trong phân môn Kể chuyện ở
lớp 1 là: sau khi nghe GV, HS dựa vào những câu hỏi gợi ý đơn giản để kể được
cốt truyện và các chi tiết cơ bản của truyện, tập phát biểu cảm nghĩ của mình đối
với các nhân vật. Khi kể, GV chú ý luyện cách diễn đạt cho các em.
b) Đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 2, 3
Trải qua một năm học lớp 1, các em đã biết tư duy và xác định được yêu
cầu học tập như: đi học đứng giờ, học bài và làm bài nghiêm túc, giữ trật tự
trong lớp học… các em đã biết đọc, biết viết, biết nhận xét, tính toán, năng lực
tư duy và ngôn ngữ của các em đều có bước phát triển song còn hạn chế và chưa
thuần thục. Phương pháp kể chuyện chung ở lứa tuổi này là: GV kể, HS nghe và
tập kể lại từng đoạn hoặc cả truyện đối với truyện cổ tích. Trong khi HS tập kể,
GV nên khuyến khích HS sử dụng ngôn ngữ của riêng mình và có sự sáng tạo.
c) Đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 4, 5
So với HS lớp 2, 3, HS lớp 4, 5 có sự phát triển đột biến về chất. Về mặt cơ
+ Ông Nguyễn Khoa Đăng
+ Người đi săn và con nai
+ Vì muôn dân
+ Lớp trưởng lớp tôi
+ Nhà vô địch
13
- Nội dung cần đạt: GV kể - HS nghe - HS kể lại.
- Mục đích: Rèn kĩ năng nói và kĩ năng nghe.
b) Bài tập kể chuyện đã nghe, đã đọc gồm 11 câu chuyện.
- Đó là các đề bài:
+ Kể về các anh hùng, danh nhân của nước ta
+ Kể về một câu chuyện ca ngợi hoà bình, chống chiến tranh
+ Kể một câu chuyện nói về quan hệ giữa con người với thiên nhiên
+ Kể một câu chuyện có nội dung bảo vệ môi trường
+ Kể một câu chuyện nói về những người đã góp sức mình chống lại đói
nghèo, lạc hậu, vì hạnh phúc của nhân dân
+ Kể về những ngời biết sống đẹp, biết mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc
cho những người xung quan
+ Kể về những tấm gương sống, làm việc theo pháp luật, theo nếp sống văn minh
+ Kể về những người đã góp sức mình bảo vệ trật tự, an ninh
+ Kể về truyền thống hiếu học hoặc truyền thống đoàn kết của dân tộc
Việt Nam
+ Kể về một nữ anh hùng hoặc một phụ nữ có tài
+ Kể về gia đình, nhà trường và xã hội chăm sóc, giáo dục trẻ em hoặc trẻ
em thực hiện bổn phận với gia đình, nhà trường và xã hội
c) Bài tập kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia gồm 10 câu chuyện.
- Đó là các đề bài:
+ Kể việc làm tốt góp phần xây dựng quê hương đất nước
+ Kể một câu chuyện em đã chứng kiến hoặc một việc em đã làm thể hiện
- Kể toàn bộ câu chuyện trong nhóm.
- Thi kể từng đoạn nối tiếp nhau trước lớp.
- Thi kể toàn bộ câu chuyện trước lớp.
e. HS tìm hiểu nội dung, ý nghĩa câu chuyện
- Nói về nhân vật chính.
- Nói về ý nghĩa câu chuyện.
g. Củng cố, dặn dò
* Dạy bài kể chuyện đã nghe, đã đọc; đã chứng kiến hoặc tham gia
15
a. Kiểm tra bài cũ
b. Định hướng chú ý của HS vào bài mới.
- GV giới thiệu yêu cầu kể chuyện của tiết học
c. HS tìm những ví dụ phù hợp với yêu cầu của tiết học ( theo gợi ý trong
SGK)
d. HS tập kể chuyện
- Kể trong nhóm.
- Thi kể trước lớp.
e. HS trao đổi với nhau về nội dung, ý nghĩa câu chuyện
- Nói về nhân vật chính
- Nói về ý nghĩa câu chuyện.
g. Củng cố, dặn dò
1.2.2. Kết quả khảo sát
1.2.2.1. Quan điểm của GV và HS về việc dạy và học phân môn Kể chuyện
a) Học sinh
Đối tượng tôi nghiên cứu là HS lớp 5 của trường tiểu học có điều kiện về cơ
sở vật chất tốt và môi trường học tập ở lớp là hai buổi sáng -chiều thì việc dạy học
kể chuyện là một thuận lợi. Hầu hết các em HS đều được cha mẹ quan tâm, tạo
điều kiện cho các em được tiếp xúc với môi trường học tập khá tốt từ gia đình đến
lớp học cũng như việc tham gia các hoạt động của nhà trường - Đội Thiếu niên
với một số GV ở trường Tiểu học 15 - 10, Thị trấn Mộc Châu, Huyện Mộc
Châu, tỉnh Sơn La, tôi đã thu được những kết quả sau:
- Đa số GV được điều tra trả lời phân môn Kể chuyện có vai trò giáo dục
rất quan trọng đối với HS tiểu học.
- Không có GV nào cho rằng phân môn Kể chuyện không có tác dụng đối
với HS tiểu học.
- 100% GV được phỏng vấn đều cho rằng hoạt động kể chuyện gây được
hứng thú cho HS trong giờ học kể chuyện, giúp các em nhanh chóng nắm được
nội dung truyện.
Tuy nhiên phân môn Kể chuyện không phải là phân môn được đưa vào
kiểm tra học kì như các phân môn: Tập đọc, Luyện từ & câu, Tập làm văn, nên
ít được GV chú trọng đầu tư.
1.2.2.2. Thuận lợi
- Hiện nay đã có nhiều nguồn thông tin, sách báo để GV tham khảo, nghiên
cứu, tự học để nâng cao tay nghề. Nội dung chương trình đã được lựa chọn biên
soạn phù hợp với HS lớp 5 giúp các em dễ dàng tiếp cận và ham thích phân môn
Kể chuyện.
17
- Là một trường Tiểu học nằm ở nơi có điều kiện kinh tế phát triển, là
trường trung tâm của một huyện vì vậy trường luôn được sự quan tâm của các tổ
chức giáo dục, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho GV và HS về cơ sở vật chất, đồ
dùng dạy học cũng được trang bị tương đối đầy đủ.
- Trường tiểu học 15 – 10 có nhiều GV lâu năm trong nghề với kinh
nghiệm sẵn có, lòng yêu nghề, nhiệt huyết với nghề luôn là một thế mạnh trong
viêc đào tạo và giáo dục con người HS tiểu học.
- HS thị trấn hầu hết có điều kiện về kinh tế, vật chất, khả năng hòa nhập,
giao tiếp và khả năng sử dụng ngôn ngữ phát triển khá tốt. Bên cạnh đó các em
đã có ý thức học tập, ham học hỏi, chuyên cần. Đây chính là điều kiện tiên quyết
cho việc học tập có hiệu quả của các em.
trong cuộc sống nên thời gian các em HS dành cho môn học kể chuyện này còn
ít, hứng thú học tập của các em cũng chưa nhiều.
- Thư viện trường chưa có nhiều sách báo để GV tham khảo và nghiên cứu.
1.2.2.4. Số liệu thống kê
Trong quá trình nghiên cứu làm đề tài, tôi đã đi thực tế, tiếp xúc với GV và
HS khối lớp 5 trong nhà trường để tìm hiểu về thực trạng dạy và học kể chuyện.
Tôi đã làm 1 cuộc khảo sát nhỏ và điều tra thực tế để đưa ra những số liệu thống
kê cụ thể về tình hình thực tế của việc dạy và học kể chuyện trong nhà trường.
Đối tượng tôi tiếp xúc là 48 HS khối lớp 5 trường Tiểu học 15 – 10, thị
trấn Mộc Châu, Huyện Mộc Châu, Tỉnh Sơn La.
` - Trước khi thực hiện đề tài này, tôi thu được số liệu từ 48 HS như sau:
Câu 1: Em có thích môn Kể chuyện không ?
Thích
Bình thường
Không thích
Số lượng
21
19
8
%
43,75
39,58
16,67
Câu 2: Trong giờ học Kể chuyện, em có cảm thấy hứng thú với các hoạt
động kể chuyện không ?
Rất hứng thú
Hứng thú
Hoàn toàn không