Một số biện pháp rèn phát âm l n cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi trên địa bàn huyện an dương – hải phòng - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Việc
giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm
lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất
nước. Bác Hồ kính yêu đã giành nhiều tâm tư, tình cảm cho thế hệ trẻ trong công
tác giáo dục, đặc biệt Bác đã giành cho trẻ em những tình yêu thương vô bờ.
Trong công tác giáo dục mầm non, giáo dục ngôn ngữ đóng vai trò hết sức
quan trọng đối với trẻ. Ở trường mầm non, phát triển ngôn ngữ cho trẻ là nhiệm
vụ được đặt lên hàng đầu. Phát triển ngôn ngữ giúp trẻ lĩnh hội được cả ba phần
của ngôn ngữ: phát âm, vốn từ, ngữ pháp. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi
nhà trẻ là dạy trẻ lắng nghe, hiểu và giao tiếp bằng ngôn ngữ (âm, từ, câu, lời
nói) còn phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo là giúp trẻ nói mạch lạc, phát âm
chuẩn và chính xác.
Ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện của tư duy, là phương thức
biểu đạt cho người khác hiểu được những suy nghĩ, nhu cầu, mong muốn của
bản thân thông qua lời nói. Từ xa xưa, dân tộc ta đã từng có “ truyền thống quý
trọng tiếng mẹ đẻ của mình và có ý thức đề cao cái hay, cái đẹp trong lời ăn
tiếng nói ”. Khi trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày:
phát âm chuẩn; vốn từ phong phú, đa dạng; trẻ khám phá về mọi sự vật, hiện
tượng, về thế giới xung quanh mình.
Ngôn ngữ của trẻ em 5 - 6 tuổi phát triển không ngừng, vốn từ của trẻ tăng
nhanh. Sự linh hoạt và phong phú trong ngôn ngữ của trẻ không chỉ phụ thuộc
vào tuổi mà nó còn phụ thuộc rất lớn vào môi trường xung quanh trẻ: môi trường
lớp học, môi trường gia đình, môi trường văn hoá – xã hội nơi mà trẻ sinh sống...
Trẻ 5 - 6 tuổi có thể đọc biểu cảm các bài thơ, đồng dao, ca dao; câu nói của trẻ có
thể đạt 8 từ trở lên. Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 5 - 6 tuổi là ngôn ngữ phải mạch lạc,
trẻ phát âm chuẩn. Nếu trẻ phát âm ngọng, vốn từ ít, trẻ sẽ không diễn đạt được
điều mình muốn nói. Hoặc trẻ nói không đúng ngữ pháp, diễn đạt không mạch lạc
sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ, nhận thức, tư duy của trẻ.
1

chữ L - N là chủ yếu. Nếu có biện pháp tác động tích cực, phù hợp thì sẽ giúp
cho trẻ phát âm chuẩn L - N.

2

2


5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến rèn phát âm L - N cho trẻ 5 - 6 tuổi
ở trường mầm non.
5.2. Thực trạng của việc rèn phát âm L - N cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
5.3. Đề xuất các biện pháp rèn phát âm L - N cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Nội dung: rèn phát âm L - N cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
6.2. Địa điểm:
- Trường mầm non An Hồng – An Dương – Hải Phòng
- Trường mầm non Đại Bản – An Dương – Hải Phòng
- Trường mầm non Tân Tiến – An Dương – Hải Phòng
6.3. Độ tuổi: trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
6.4. Thời gian: từ tháng 9/ 2015 đến tháng 1/2016.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp phân tích lí luận
- Thu thập và phân tích tư liệu, sách báo, tạp chí… có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2. Phương pháp phân tích thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát trẻ phát âm L - N thông qua hoạt động học tập, hoạt động
giao tiếp, hoạt động vui chơi...
- Quan sát cách phát âm L - N của giáo viên khi giảng dạy, khi luyện


4


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng để phân biệt giữa người và động vật, ngôn
ngữ làm cho con người giao tiếp được với nhau và biểu đạt những mong muốn, ý
tưởng, cảm xúc; mô tả các sự vật hiện tượng thiên nhiên hiện ra trước mắt, tiếng
nói giúp người với người hiểu và gần gũi nhau hơn. Ngôn ngữ luôn đi đôi, gắn
liền với mọi đời sống sinh hoạt của con người làm cho loài người là loài trội nhất
và tách biệt hơn so với các loài khác. Các nhà khoa học thí nghiệm trên các con
vật và các loài chim, dạy chúng đáp ứng một vài tiếng nói đơn giản. Ví dụ như
loài vượn: sau khi được huấn luyện, có thể sử dụng một vài điệu bộ hay cử chỉ để
diễn tả một vài cảm xúc của chúng. Nhưng khả năng diễn tả cảm xúc bằng một
vài dấu hiệu đơn giản của loài vượn hay loài chim còn quá đơn giản không thể
nào so sánh được với khả năng ngôn ngữ kì diệu của con người.
Nhiều chuyên gia đã tìm cách giải quyết nguồn gốc của tiếng nói thông
qua các cách tự nhiên. Họ cho rằng quá trình tiến hóa từ vượn đến con người,
thanh quản đã tự điều chỉnh để có thể phát ra âm thanh khác nhau. Đồng thời,
bộ não cũng lớn dần ra giúp con người có thể kiểm soát và sử dụng các dây phát
âm trong bộ thanh quản hữu hiệu hơn để phát ra tiếng nói. Theo lối giải thích
này, con người thô sơ chỉ biết hú, biết gào để diễn tả suy nghĩ, cảm xúc nhưng
qua quá trình tiến hóa lâu dài, đã tự hoàn chỉnh thanh quản để đạt tiếng nói như
ngày nay. Nhà ngôn ngữ học lừng danh thế giới của thế kỉ 20, giáo sư Noam
Chomsky không thỏa mãn với cách giải thích trên nên ông đã tự nghiên cứu
nguồn gốc của tiếng nói. Giáo sư quan sát rằng, nếu đặt một em bé và một con
mèo vào môi trường có tiếng nói thì sau một thời gian ngắn, em bé có khả năng
nhận biết được tiếng nói và nói được, trong khi con mèo thì không nói được.

Kim Bảng, Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam nói rằng: “Bản chất
của vấn đề nói ngọng là hiện tượng có tính chất phương ngữ. Đó là hiện tượng
phát âm không đúng so với chuẩn chính tả. Hiện tượng không phân biệt trong
cách phát âm các phụ âm đầu như ch - tr, s - x, d - r - gi của người miền Bắc
hay sự lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã của người miền Nam”[9]. Về việc phát
âm đúng, viết đúng hai phụ âm L - N ông cho biết: “Chuyện nói ngọng chẳng
riêng gì ở 13 nơi tại Hà Nội. Đây là hiện tượng phổ biến ở các tỉnh, thành thuộc
khu vực đồng bằng Bắc Bộ như: Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định,
Bắc Ninh… Việc nói ngọng giữa hai phụ âm L - N có nhiều dạng: tất cả các từ
6

6


bắt đầu bằng phụ âm “L” được đọc thành “N” hoặc ngược lại đọc “L” thành
“N”; có vùng thì đọc đúng, từ đọc sai; có vùng thì đọc lẫn lộn L và N”[9]. Về
việc sửa nói ngọng PGS - TS cho hay: “Tật nói ngọng rất khó sửa nhưng có thể
sửa được. Vấn đề là phải tách người đó ra khỏi môi trường “ngọng” của họ vì
bản thân người cùng một vùng không nhận thấy đó là bất thường, là lệch chuẩn.
Chúng ta vẫn lấy chuẩn chính tả làm mực thước nên nói ngọng rất nguy hiểm vì
ngữ âm biến đổi làm chính tả dần biến đổi theo, dẫn đến hiện tượng viết cũng
“ngọng”, sai chính tả” [9].
Phát âm ngọng L - N xuất hiện chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ và được rất
nhiều người quan tâm vì nói ngọng làm cho mọi người không tự tin trong giao
tiếp. Đặc biệt, khi trẻ em phát âm ngọng sẽ ảnh hưởng không tốt trong quá trình
học tập của trẻ. Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề phát âm
của trẻ có giá trị như: “Dạy nói cho trẻ trước tuổi cấp 1” ( NXB GD – 1973)
của tác giả Phan Thiều; “Dạy trẻ phát âm đúng và làm giàu vốn từ cho trẻ” của
Tạ Thị Thanh Ngọc; “Tìm hiểu khả năng phát âm đúng của trẻ mẫu giáo lớn” ở
trường mầm non Thụy Vân, Thành phố Việt Trì… Bên cạnh đó, còn có các công

chậm đến đâu chăng nữa thì cũng chỉ tách được đến âm tiết là hết. Câu: “Vườn
hồng có lối nhưng chưa ai vào” có tất cả 8 âm tiết [1, tr 76].
Âm tiết tiếng Việt có tính độc lập cao: Trong lời nói, âm tiết tiếng Việt bao
giờ cũng thể hện khá đầy đủ, rõ ràng, được tách và ngắt ra thành từng khúc đoạn
riêng biệt. Các âm tiết tiếng Việt không hề bị “biến dạng” ở trong lời nói. Ví dụ:
“im ắng” không nói thành “i mắng”; “thức ăn” không nói thành “thứ căn”…
[1, tr.78].
Âm tiết tiếng Việt có khả năng biểu hiện ý nghĩa: Đa số các âm tiết tiếng
Việt đều có nghĩa. Nói cách khác, ở tiếng Việt gần như toàn bộ các âm tiết đều
hoạt động như từ. Ví dụ: mắt, đầu, tay, bụng, mây, mưa, gió,… Chính vì mỗi âm
tiết của tiếng Việt đều có khả năng biểu hiện ý nghĩa cho nên người Việt mới có
điều kiện tạo ra cách chơi chữ theo lối tách từ: có hội mà không có nghị, có nghị
mà không có quyết (tách đôi các từ hội nghị, nghị quyết) [1, tr.80].
1.2.1.2. Hệ thống ngữ âm của âm tiết tiếng Việt
Mỗi âm tiết Tiếng Việt ở dạng đầy đủ nhất bao gồm 5 thành phần:
8

8


Thanh điệu
Vần
Âm chính

Âm đầu
Âm đệm

Âm cuối

* Thành phần thứ nhất có chức năng phân biệt các âm tiết với nhau về cao

Âm tiết

Bậc 1:

Bậc 2:

Âm đầu

Âm đệm

Vần

Thanh điệu

Âm chính

Âm cuối

1.2.2. Phát âm
Trong quá trình giáo dục trẻ mầm non, chúng ta đã biết phát triển ngôn
ngữ cho trẻ là vấn đề vô cùng quan trọng được đặt lên hàng đầu. Để ngôn ngữ
của trẻ được phát triển toàn diện thì việc đầu tiên phải dạy trẻ phát âm đúng,
phát âm chuẩn.
- Theo từ điển Wikipedia: phát âm có nghĩa là cách đọc một từ hay một
ngôn ngữ nào đó hoặc phát âm có thể hiểu là cách ai đó thốt ra một từ nào đó.
Một từ có thể được đọc theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào nhân tố con
người như:
+ Nơi họ đã lớn lên
+ Nơi họ đang sinh sống
+ Họ có thiếu sót trong khả năng nói hay không

bản để hoàn thiện chức năng tâm lý người. trẻ luôn tò mò, hoạt động nhiều, ham
học hỏi, thích tự làm việc… Những phẩm chất tâm lý và những đặc điểm của trẻ
mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ nhất trong hoạt động vui chơi. Trẻ 5 tuổi bắt
đầu có ý thức chan hòa với bạn cùng chơi, trẻ đã chơi theo nhóm vì đối với trẻ
trò chơi bao giờ cũng phản ánh một mặt nào đó của xã hội người lớn xung
quanh, mà hoạt động của người lớn trong xã hội không mang tính chất riêng lẻ,
đơn độc. Nhiều nhà tâm lý học cho rằng: “nhóm chơi của trẻ là một trong những
cơ sở xã hội đầu tiên của con người”. Ở lứa tuổi này tâm tư của trẻ được bộc lộ
ra ngoài. Tâm trạng của trẻ không kéo dài, dễ bộc phát nhưng cũng dễ tiêu tan.
Tâm tư của trẻ được bộc lộ ra bên ngoài cho nên chỉ cần nhìn cũng biết được tẻ
đang vui hay đang buồn. tính tình của trẻ lúc này tương đối ổn định, người lớn
có thể dễ dàng hướng dẫn và chỉ bảo trẻ. Đời sống tình cảm của trẻ ở lứa tuổi
11

11


này phong phú và sâu sắc, trẻ luôn mong muốn được tình yêu thương của cha
mẹ và những người thân trong gia đình, khi không được sự quan tâm của mọi
người thì trẻ rất dễ bị tủi thân.
Trẻ 5 - 6 tuổi đã sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày.
Một trong những thành tựu lớn lao nhất của giáo dục mầm non là làm cho trẻ sử
dụng được một cách thành thạo tiếng mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày. Tiếng mẹ
đẻ là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu
với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học, để bồi dưỡng tâm
hồn… Ganzalốp – một nhà thơ nổi tiếng của Đaghextan đã nói: “Khi chết, người
cha để lại cho con cái của mình nhà cửa, ruộng vườn, thanh kiếm và cây đàn
pandua. Nhưng một thế hệ khi mất đi thì để lại cho thế hệ tiếp theo tiếng nói. Ai
có tiếng nói người ấy sẽ xây dựng nhà mình, sẽ cày được ruộng, đúc được kiếm,
lên được dây đàn pandua và gẩy được nó”. Trẻ em “tốt nghiệp” xong trường mẫu

Trẻ cần ngủ ít nhất là 10 tiếng mỗi ngày… Hệ thần kinh của trẻ tương đối phát
triển, hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đã biến hóa, chức năng phân tích,
tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càng
nhiều, tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện nhanh, trí tuệ phát triển nhanh. Vì
vậy, trẻ có thể nói được những câu dài, có biểu hiện ham học, có đối tượng sâu
sắc đối với những người xung quanh.
1.3.3. Đặc điểm bộ máy phát âm của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Bộ máy phát âm của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có các bộ phận: bộ phận cung
cấp làn hơi, bộ phận phát thanh, bộ phận truyền tăng âm, bộ phận phát âm, bộ
phận dội âm. Một số đặc điểm của cơ quan phát âm của trẻ chưa được phát triển
và hoàn thiện so với người lớn:
1.3.3.1. Bộ phận cung cấp làn hơi
Ở lá phổi phải chia làm ba thùy, lá phổi trái chia làm hai thùy. Ở người
lớn, ranh giới chia các thùy được xác định rõ ràng và chính xác. Nhưng ở trẻ,
ranh giới này chưa thể hiện rõ rệt [7, tr.101].
1.3.3.2. Bộ phận phát thanh
Thanh quản của trẻ khe âm thanh ngắn, thanh đới ngắn nên trẻ có giọng
nói cao hơn so với người lớn [7, tr.106].
1.3.3.3. Bộ phận truyền tăng âm
Ở trẻ, họng và hầu ít phát triển: họng, hầu tương đối hẹp, ngắn, hướng
thẳng đứng có hình phễu, sụn mềm nhẵn [7, tr.106].
13

13


1.3.3.4. Bộ phận phát âm ( nhả chữ )
Là miệng với các hoạt động của môi, răng, lưỡi, hàm dưới, vòm mềm.
Khi nói đến khẩu hình là nói đến hình thể, hình dáng, cả bên ngoài lẫn bên trong
của miệng do hoạt động phối hợp của môi, lưỡi, hàm dưới, vòm mềm tạo ra khi


trẻ có thể phát ra những âm tương đối chuẩn, kể cả những âm khó của tiếng mẹ
đẻ như: “ khúc khuỷu ”, “ uềnh oàng ”… Trẻ mẫu giáo lớn đã bắt đầu sử dụng
giọng nói diễn cảm trong lời nói hàng ngày, khi đọc thơ, truyện …
Mặt âm thanh trong lời nói của trẻ 5 - 6 tuổi nhanh chóng phát triển và
hoàn thiện: Phần lớn trẻ đã nắm được và phát âm đúng tất cả các âm vị tiếng mẹ
đẻ, phát âm đúng hầu hết các thanh điệu; biết phát âm đúng và rõ các từ, câu; trẻ
sử dụng được nhiều mẫu câu đơn giản, đúng ngữ pháp; trẻ biết điều chỉnh tốc độ
(phát âm nhanh, chậm) và cường độ (phát âm to, nhỏ) của giọng nói; sử dụng
phương tiện biểu cảm phát âm phù hợp…
1.4.2. Những lỗi phát âm thường gặp ở trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Phát âm của trẻ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy phát âm. Ở tuổi
này, trẻ đã có thể phát âm được hầu hết các âm vị. Tuy nhiên vẫn còn một số trẻ
vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm:
1.4.2.1. Lỗi về thanh điệu
Trong số các thanh điệu tiếng Việt, thanh hỏi và thanh ngã là hai thanh có
cấu tạo phức tạp. Việc thể hiện thanh ngã với âm đệm gãy, ở giữa là cách phát
âm khó đối với trẻ. Trẻ thay thế bằng cách phát âm đơn giản hơn tức là với âm
điệu không gãy ở giữa. Vì vậy dễ đồng nhất với âm điệu của thanh sắc.
Ví dụ: ngã - > ngá;
nghĩa - > nghía,…
Sự chuyển đổi hướng đi của đường nét âm điệu của thanh hỏi không diễn
ra đột ngột như thanh ngã, qua trình phát âm kéo dài trở nên khó đối với trẻ nhỏ
có hơi thở ngắn. Khi phát âm, trẻ thay thế âm điệu gãy bằng âm điệu không gãy.
Điều này làm cho trẻ phát âm thanh hỏi gần như đồng nhất với thanh nặng.
Ví dụ: khỏi - > khọi,
quả - > quạ…
Đến cuối 6 tuổi thì hầu như lỗi sai về thanh điệu được khắc phục hoàn toàn.
1.4.2.2. Lỗi về âm chính
Lỗi về âm chính tập trung vào việc trẻ phát âm nguyên âm đôi này thành

1.4.2.4. Lỗi vễ âm đệm
Âm đệm chỉ được đọc lướt qua nên trẻ khó ghi nhận những âm này. Chính
vì thế, âm đệm trẻ thường bị bỏ qua.
Ví dụ: quả quất - > quả cất,
loắt choắt - > lắt chắt,…
16

16


1.4.2.5. Lỗi về âm cuối
Trong phụ âm đứng làm âm cuối thì những cặp “ch” và “nh” trẻ phát âm
thành “t”, “n”
Ví dụ: Anh - > ăn,
xanh - > xăn,
cái phích - > cái phứt,…
Trẻ ở miền Nam phát âm sai các phụ âm cuối: “n” thành “ng”, “t” - >
“ch”, “nh” - > “n”, “ch” - > “c”[3, tr.194].
1.5. Đặc điểm phát âm L - N
1.5.1. Đặc điểm phát âm L - N của trẻmẫu giáo 5 - 6 tuổi
“L” là phụ âm xát, vang bên, đầu lưỡi quặt: Trước khi phát âm, đầu lưỡi ở
vị trí lợi hàm trên làm điểm cản một phần luồng hơi đi ra từ phổi qua khoang
miệng, thoát ra hai bên cạnh của lưỡi, đầu lưỡi cong lên, lưỡi chuyển động theo
chiều đi xuống, tạo thành âm: L.
“N” là phụ âm tắc, vang, đầu lưỡi răng: Trước khi phát âm, đầu lưỡi đặt ở
mặt sau của răng làm điểm cản hoàn toàn luồng hơi đi ra từ phổi qua khoang
miệng, sau đó bật ra, lưỡi thẳng, đầu lưỡi hơi tụt lại, tạo thành âm: N.
Bên cạnh trẻ phát âm đúng chữ L - N thì đa phần trẻ đều mắc lỗi phát âm L
và N. Một số trẻ phát âm lẫn lộn giữa L và N; phát âm L thành N: líu lo - > níu
lo, lúc - > núc, leo - > neo,…. Trẻ phát âm N thành L. Ví dụ: nào - > lào, này > lày, nóng - > lóng, nặng - > lặng…

Khi giao tiếp trong môi trường mà mọi người đều nói ngọng thì sẽ không
phát hiện ra lỗi phát âm sai để sửa. Những người phát âm sai chưa có ý thức rèn
luyện phát âm, coi như việc nói ngọng là bình thường với vùng miền mình đang
sinh sống. Cho nên, khi sống ở địa phương phát âm chưa chuẩn thì người ta
không phát hiện ra mình phát âm sai, có những từ ngữ ở địa phương là đúng
nhưng so với từ toàn dân là chưa chuẩn ( ví dụ: bảo - > bẩu). Hoặc khi bản thân
đã biết mình phát âm ngọng nhưng do quá trình phát âm đã thành thói quen nên
rất khó sửa và ngại sửa. Vì thế mọi người vẫn phát âm theo thói quen từ trước
đến nay.
1.5.2.3. Do bộ máy phát âm
Bộ máy phát âm của trẻ góp phần quan trọng vào việc phát âm đúng của trẻ.
Bộ máy phát âm bao gồm 13 bộ phận đó là: khoang yết hầu, khoang miệng,
khoang mũi, môi, răng, lợi, ngạc cứng, ngạc mềm, lưỡi con, đầu lưỡi, mặt lưỡi
18

18


trước, mặt lưỡi sau, nắp họng. Bộ máy phát âm bị khiếm khuyết ảnh hưởng lớn
đến việc phát âm của trẻ, trẻ sẽ phát âm khó khăn, phát âm sai: hở hàm ếch, sứt
môi, lưỡi quá to, quá dày, răng cửa trên bị khe hở… Rất nhiều trẻ phát âm không
rõ phụ âm L và N là do cử động của môi, lưỡi, sự linh hoạt của hàm còn yếu.
Việc phát âm của trẻ phụ thuộc lớn vào bộ máy phát âm cho nên muốn dạy
trẻ phát âm chuẩn, phát âm đúng thì người lớn và giáo viên cần chú ý hướng dẫn
trẻ luyện tập một số cơ quan phát âm như: Môi, lưỡi, sự linh hoạt của hàm để trẻ
có thể phát âm chuẩn và chính xác phụ âm L – N. Nếu bộ máy phát âm của trẻ
bị khiếm khuyết: hở hàm ếch, sứt môi,… thì cần tới sự giúp đỡ của các bác sĩ y
khoa để có các phương pháp giúp cho bộ máy phát âm của trẻ được lành lặn. Từ
đó, trẻ có thể dễ dàng phát âm chuẩn phụ âm L và N.
Tóm lại, bộ máy phát âm là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng

20


Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC RÈN LUYỆN PHÁT ÂM L - N CHO TRẺ
MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG.
2.1. Vài nét về cơ sở giáo dục mầm non huyện An Dương
Trường mầm non An Hồng nằm ở thôn Lê Lác 1 - An Hồng - An Dương
- Hải Phòng. Hiệu trưởng nhà trường là cô Đỗ Thị Huần. Trường mầm non An
Hồng hiện đang chăm sóc, nuôi dưỡng hơn 500 trẻ, trong đó đông nhất là trẻ 5 6 tuổi đạt 100% tỷ lệ huy động trẻ đến trường. Tại đây, các bé nhà trẻ, mẫu giáo
3 tuổi được vui chơi, học múa, hát, được chăm sóc yêu thương. Nhà trường có
34 cán bộ, giáo viên, 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ. Trong đó, có 50%
giáo viên trên chuẩn, 9 giáo viên đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở.
Trường mầm non Đại Bản nằm tại thôn Tân Thanh - Đại Bản - An Dương
- Hải Phòng. Hiệu trưởng nhà trường là cô Phạm Thị Sắm. Trường mầm non
Đại Bản có tất cả 50 giáo viên có trình độ chuyên môn cao (80% giáo viên đạt
trình độ cao đẳng - đại học, 20% giáo viên đạt trình độ trung cấp) và 25 lớp học
thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông đảm bảo sức khỏe cho trẻ. Trong
đó, có 8 lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi với 280 trẻ được sự chăm sóc của 16 cô giáo.
Trường mầm non Tân Tiến địa chỉ ở Do Nha - Tân Tiến - An Dương - Hải
Phòng. Hiệu trưởng nhà trường là cô Phạm Thị Trầm. Trường mầm non Tân
Tiến có 51 cán bộ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, luôn yêu thương, chăm
sóc trẻ chu đáo, tận tình. Nhà trường có 5 lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trẻ đi học đầy
đủ, ngoan ngoãn, vâng lời cô giáo và cha mẹ.
2.2. Khái quát quá trình điều tra thực trạng
2.2.1. Mục đích điều tra
Tiến hành điều tra nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên, các bậc phụ
huynh và thực trạng của việc rèn luyện phát âm L - N cho trẻ. Từ đó đề xuất một
số biện pháp rèn luyện phát âm L - N cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.

- Sử dụng phương pháp quan sát và trò chuyện với trẻ để tìm hiểu khả
năng phát âm L - N của trẻ.
* Các câu hỏi trong phiếu trưng cầu ý kiến khai thác những thông tin sau:
- Dấu hiệu nhận biết trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi phát âm ngọng L - N
- Những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc rèn phát âm L - N cho trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi.
22

22


- Các hình thức cô giáo sử dụng để rèn phát âm L - N cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Tần suất giáo viên sử dụng các hình thức để rèn luyện phát âm L - N
cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Tầm quan trọng của vấn đề rèn phát âm L - N cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
2.3. Kết quả điều tra
2.3.1. Kết quả về việc rèn phát âm L - N cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở trường
mầm non trên địa bàn huyện An Dương, Hải Phòng
Để nắm vững được thực trạng của việc rèn phát âm L - N cho trẻ mẫu giáo
5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non trên địa bàn huyện An Dương, em đã lập
phiếu trưng cầu ý kiến và thu được 50 phiếu trả lời của giáo viên trực tiếp giảng
dạytrẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi và 50 phiếu của phụ huynh của trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi. Kết quả điều tra được trình bày như sau:
2.3.1.1. Dấu hiệu nhận biết trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi phát âm ngọng L - N
Khi được hỏi: “Cô(chị) cho biết dấu hiệu nhận biết trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
phát âm ngọng L - N” thì hầu hết các giáo viên và phụ huynh đều có ý kiến cho
rằng dấu hiệu để biết trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi phát âm ngọng L - N được tổng hợp
qua bảng sau:
Bảng2.1: Dấu hiệu nhận biết trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi phát âm ngọng L - N
T


Phụ huynh
Số
Mức độ
lượng
đánh giá
(%)
14/50
28
8/50
16
10/50
20

28/50

18/50

56

36

Kết quả cho thấy:
* Về phía giáo viên:
- Có 5/50 phiếu giáo viên chọn đáp án: Trẻ phát âm L thành N là dấu hiệu
nhận biết trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi phát âm ngọng L - N (chiếm 10%)
23

23


phát âm lẫn lộn giữa L và N. Qua đó, ta có thể thấy rằng phụ huynh đã quan tâm
24

24


đến việc phát âm của trẻ. Phụ huynh đã nhận biết được các dấu hiệu mà trẻ phát
âm ngọng L và N. Đó cũng là một tín hiệu tốt để cho giáo viên và phụ huynh
cùng kết hợp giáo dục ngôn ngữ cho trẻ đạt được hiệu quả cao.
2.3.1.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến lỗi phát âm L - N cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Kết quả câu hỏi:“ Nguyên nhân ảnh hưởng đến lỗi phát âm L - N của trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi” được tổng hợp như sau:
Bảng 2.2: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến lỗi phát âm L - N cho trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi
TT

Nguyên nhân ảnh hưởng
đến lỗi phát âm L - N
cho trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi
1
Do ảnh hưởng của bộ máy
phát âm
2
Do ảnh hưởng của môi
trường giao tiếp
3
Do ý thức rèn luyện của
trẻ và người lớn
4


22

21/50

42

6/50

12

0/50

0

- Có 13/50 phiếu giáo viên chọn nguyên nhân ảnh hưởng đến lỗi phát âm
L - N của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đó là: “Do bộ máy phát âm” (chiếm 26%)
- Có 20/50 phiếu giáo viên chọn đáp án: “Do ảnh hưởng của môi trường
giao tiếp” (chiếm 40%)
- Có 11/50 phiếu giáo viên chọn đáp án: “Do ý thức rèn luyện của trẻ và
người lớn” (chiếm 22%)
- > Giáo viên mầm non chọn nguyên nhân ảnh hưởng đến phát âm L - N
cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là: “Do ảnh hưởng của bộ máy phát âm” với tỷ lệ
26%. Sở dĩ, giáo viên mầm non cho rằng nguyên nhân chính ảnh hưởng đến lỗi
phát âm L - N cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đó là do ảnh hưởng bộ máy phát âm
bởi vì giáo viên nắm được cấu tạo về đặc điểm sinh lý của trẻ, giáo viên đã
nghiên cứu và tìm hiểu về cấu tạo của bộ máy phát âm của trẻ. Từ đó, giáo viên
cho rằng bộ máy phát âm có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phát âm của trẻ. Bộ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status