ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
------------------------------o0o-------------------------------- NGUYỄN THỊ THU HUYỀN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ
BỀN VỮNG TRONG HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 – 31 - 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: T.S ĐOÀN QUANG THIỆU
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đõ nhiệt tình của
các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và
kinh trọng tới tất cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đõ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài!
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới T.S Đoàn Quang Thiệu -
người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn!
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế và Quản
trị Kinh doanh Thái Nguyên, Ban giám hiệu trường Cao đẳng Kinh tế Tài
chính Thái Nguyên, phòng Đào tạo trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh
doanh Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học trường Đại học Kinh tế
và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên cùng các giáo sư, Tiến sĩ - người đã
trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đõ của lãnh đạo các cơ quan: Uỷ ban
nhân dân huyện Đồng Hỷ, Uỷ ban nhân dân các xã Văn Lăng, Hoà Bình, Sông
Cầu, Đồng Bẩm, Hoá Thượng, Huống Thượng, Khe Mo, Cây Thị và Trại Cau,
phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng thống kê, phòng địa chính
huyện Đồng Hỷ, những hộ nông dân, các cán bộ xã, cán bộ thôn bản ở những
xã tôi trực tiếp điều tra!
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp trường Cao đẳng Kinh tế Tài
chính Thái Nguyên, các bạn bè gần xa đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ nhiệt tình
và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này!
1.1.1 Cơ sở lý luận …………………………………………………... 4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn ……………………………………………….... 10
1.2 Phương pháp nghiên cứu ………………………………………... 18
1.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu ………………………..... 18
1.2.2. Phương pháp thống kê ………………………………………... 18
1.2.3. Phương pháp đánh giá nông thôn nhanh (RRA) và phương
pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) …......
19
1.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích ……………………………..... 20
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế trong hệ thống nông
nghiệp huyện đồng hỷ - tỉnh thái nguyên
24
2.1. Đặc điểm của huyện Đồng hỷ – tỉnh thái nguyên ……………..... 24
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên ……………………………………………... 24
2.1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội ……………………………………... 31
2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển nông nghiệp trên
địa bàn huyện Đồng Hỷ ………………………………………...........
42
2.2.Thực trạng phát triển kinh tế trong hệ thống nông nghiệp trên địa
bàn huyện đồng hỷ ………………………………………...................
44
2.2.1 Quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên ………………………………........................................
44
2.2.2 Quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững ở huyện
Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên ..................................................................
80
83
86 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nguyên nghĩa
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
NFI
NFE
Bình quân
Bảo vệ thực vật
Chuyên môn hoá
Chi phí biến đổi
Chi phí cố định
Đơn vị tính
Giá trị sản xuất
Nông lâm
Nông lâm kết hợp
Lúa – Màu – Chăn nuôi - Rừng
Lúa – Chè – Cây ăn quả - Chăn nuôi - Rừng
Chè – Lúa – Màu – Chăn nuôi
Lúa xuân – Mùa sớm – Cây vụ đông – Chăn nuôi - Rừng
Chăn nuôi – Rau – Màu –Lúa - Rừng
Nông nghiệp
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Lao động
Uỷ ban nhân dân
Vườn - Ao - Chuồng
Vườn - Ao - Chuồng - Rừng
Gross Output
Variable Costs
Fixed Costs
Gross Margin
Net Farm Income
Net Farm Earing
65
Bảng 2.13: Kết quả điều tra về sức sản xuất của đất đai trong hệ nông
nghiệp chuyên môn hoá qua 3 năm
66
Bảng 2.14: Một số chỉ tiêu về xã hội và môi trường năm 2006 - 2007 66
Bảng 2.15: Những yếu tố trở ngại chủ yếu trong phát triển một số hệ
thống nông nghiệp
67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1. Cơ cấu đất đai huyện Đồng Hỷ 29
Biểu đồ 2. Dân số và dân tộc huyện Đồng Hỷ năm 2006 - 2007 33
Biểu đồ 3. Chỉ tiêu kinh tế huyện Đồng Hỷ năm 2006 - 2007 37
Biểu đồ 4. Diện tích các cây trồng chính qua 2 năm 39
Biểu đồ 5. Sản lượng các cây trồng chính qua 2 năm 39
Biểu đồ 6. Ngành chăn nuôi huyện Đồng Hỷ qua 2 năm 41
thiết để mở mang phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế xã hội khác.
Nông nghiệp là ngành sử dụng chủ yếu hai nguồn tài nguyên thiên nhiên quan
trọng bậc nhất đối với sự tồn vong của loài người đó là đất và nước. Khi dân
số gia tăng mạnh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm cho cuộc sống của con
người càng tăng lên, do vậy nông nghiệp có những tác động ngày càng to lớn
đối với môi trường. Chính vì vậy, phát triển nông nghiệp, đặc biệt phát triển
kinh tế nông nghiệp bền vững đang là vấn đề hết sức quan trọng đặt ra cho
các nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp.
Huyện Đồng Hỷ thuộc tỉnh Thái Nguyên có tỷ lệ đất dốc tương đối cao,
chiếm khoảng 3/ 4 diện tích đất của huyện. Những người dân ở đây, họ đang
phải đối mặt với biết bao khó khăn trở ngại, điều này làm hạn chế phát huy
hết tiềm năng về sản xuất nông lâm nghiệp. Hơn thế nữa, trong nông nghiệp,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 2 -
việc lạm dụng quá nhiều phân hoá học, sử dụng nhiều loại thuốc bảo về thực
vật độc hại đã gây ô nhiễm nguồn nước, suy thoái đất như đất bị chua, bị rửa
trôi, bạc màu nghèo kiệt chất dinh dưỡng. Thêm vào đó, nguy cơ mất rừng tự
nhiên và suy giảm đa dạng sinh học do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và
khả năng bảo vệ rừng tự nhiên và phát triển rừng chưa tốt, làm cho rừng bị
khai thác ngày càng cạn kiệt. Số diện tích rừng trở thành nương rẫy hoặc đồi
trọc có nguy cơ tăng cao và nhiều laòi sinh vật đang có nguy cơ bị diệt chủng.
Do đó, phát triển nông nghiệp bền vững là vấn đề đặt ra cần giải quyết. Để
phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững phải đánh giá thực trạng và đề ra
những giải pháp khoa học phù hợp. Xuất phát từ thực tế khách quan đó tôi
chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế bền vững
trong hệ thống nông nghiệp trên địa bàn huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái
Nguyên” là yêu cầu đặt ra mang tính cấp thiết.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 4 -
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN
VỮNG TRONG HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Quan niệm về hệ thống
Theo Vonber Tanlafy: Hệ thống là một nhóm các thành phần qua lại với
nhau, hoạt động cùng chung mục đích. Hoạt động này mang tính tổng thể và
có thể bị thúc đẩy bởi điều kiện môi trường. Hệ thống không bị ảnh hưởng
bởi chính đầu ra của nó và mỗi hệ thống đều có ranh giới rõ rệt, ranh giới có
được là do sự phản hồi nhận ra các thành phần trong hệ thống. [21 ]
Vậy lý thuyết hệ thống nhấn mạnh đến cách nhìn mọi sự vật, hiện tượng
thái.
1.1.1.3. Quan niệm về khả năng bền vững
Khả năng bền vững là sự phát triển hài hoà với môi trường và không gây
ra thoái hoá đất đai, đáp ứng được những yêu cầu cần thiết hiện tại cho người
sử dụng, không gây tác hại cho điều kiện sinh thái. (Đỗ Nguyên Hải)
Khả năng bền vững có liên quan đến sức sản xuất của đất đai, tính ổn
định, khả năng tồn tại, khả năng chấp nhận và duy trì tốt tình trạng của môi
trường.
Những khả năng sau có thể xảy ra khi đánh giá khả năng bền vững trong
sử dụng đất nông nghiệp
*Khả năng không bền vững :
- Điều kiện sinh thái xấu đi hoặc bị suy giảm trong khi điều kiện hệ
thống sử dụng đất cũng bị xấu đi hoặc bị suy giảm (xói mòn rửa trôi, trơ sỏi
đá, hoá chua hoá mặn, đá ong, kết von, cạn kiệt nguồn nước).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 6 -
- Điều kiện hệ sinh thái bị xấu đi hoặc bị suy giảm trong khi điều kiện hệ
thống sử dụng đất tốt hoặc được cải thiện (chặt phá rừng để trồng cây nông
nghiệp, lạm dụng phân bón, hoá chất nông dược trong sản xuất)
Điều kiện sinh thái tốt hoặc được cải thiện trong khi điều kiện hệ thống
sử dụng đất cũng bị xấu đi hoặc bị suy giảm (tăng cường mở rộng hệ thống
rừng bảo vệ, rừng ngập mặn giảm diện tích sử dụng đất).
* Khả năng bền vững chỉ tồn tại khi điều kiện sinh thái tốt hoặc được cải
thiện trong khi điều kiện hệ thống sử dụng đất cũng tốt hoặc được cải thiện
(kết hợp hài hoà giữa sử dụng đất và bảo vệ môi trường, không gây ra mâu
thuẫn giữa sử dụng đất và duy trì bảo vệ độ phì đất, không gây ra sự suy kiệt
và ô nhiễm đất).
1.1.1.4.Quan niệm về sử dụng đất đai bền vững
Theo các báo cáo tại Brundland (WCED 1987) đưa ra định nghĩa về phát
triển bền vững mà ngày nay được thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới với nội
dung chính: “Là sự phát triển hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã
hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm
tổn hại đến nhu cầu của thế hệ tương lai”. [14-Tr 287].
Phát triển bền vững phải đảm bảo sử dụng đúng mức và đảm bảo ổn định
tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống. Đó không chỉ là sự phát triển nền
kinh tế văn hoá xã hội một cách vững chắc nhờ khoa học công nghệ tiên tiến,
mà còn đảm bảo cải thiện những điều kiện tự nhiên mà con người đang sống
và chính sự phát triển đang dựa vào đó để ổn định bền vững. Như vậy, trong
mỗi hoàn cảnh môi trường và nguồn tài nguyên, con người phải tìm ra các
hướng phát triển tối ưu của mình phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, phong
tục truyền thống của dân tộc.[6,Tr 12]
Phát triển bền vững được định nghĩa như là “việc quản lý và giữ gìn cơ
sở của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và định hướng các thay đổi về công
nghệ và thể chế nhằm đạt được và thoả mãn các nhu cầu của con người cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 8 -
thế hệ ngày nay và thế hệ mai sau. Phát triển bền vững với các kỹ thuật phù
hợp, có lợi ích lâu dài về mặt kinh tế và được xã hội chấp nhận cho phép gìn
giữ đất, nước, các nguồn tài nguyên di truyền thực vật và động vật, giữ cho
môi trường không bị huỷ hoại”{Theo FAO – Tổ chức lương thực và Nông
nghiệp thế giới, 1988}[8]
Phát triển bền vững là quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên tự nhiên, định
hướng sự thay đổi công nghệ và thể chế nhằm đảm bảo, đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng của con người trong các thế hệ hiện tại và tương lai.[ 25, tr
10]
1.1.1.6. Phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.1.8. Phát triển kinh tế bền vững trong hệ thống nông nghiệp
Xuất phát từ quan niệm phát triển bền vững, phát triển kinh tế bền vững
trong hệ thống nông nghiệp là việc phát triển kinh tế trong hệ thống nông
nghiệp hiện tại không những không ảnh hưởng mà còn tạo điều kiện thuận lợi
cho phát triển kinh tế trong hệ thống nông nghiệp trong tương lai.
1.1.1.9. Các nguyên tắc chung trong xây dựng kinh tế bền vững trong
hệ thống nông nghiệp
- Đảm bảo bền vững môi trường và sinh vật: Để có một hệ thống nông
nghiệp bền vững, điều mấu chốt nhất là phải xây dựng hệ thống cây trồng, vật
nuôi sao cho các nguồn lợi đất, nước và sinh vật được khai thác và bảo vệ một
cách hợp lý nhất, đảm bảo tính bền vững hoặc không suy thoái của nguồn lợi
này.
- Đảm bảo bền vững kinh tế: Bền vững kinh tế được xác lập bởi sự biến
động về lợi nhuận kinh tế theo thời gian. Một hệ thống không thể được coi là
bền vững nếu lợi nhuận kinh tế giảm dần theo thời gian, mặc dù năng suất vẫn
giữ ở mức cao. Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong xây dựng, phát triển hệ
thống nông nghiệp bền vững vì nó là kết quả của sự bền vững môi trường và
sinh học, cũng như có ảnh hưởng quyết định đến sự bền vững về mặt xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 10 -
- Đảm bảo bền vững xã hội: Khi xây dựng hệ thống cây trồng vật nuôi
phải xem xét để đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội cộng đồng. Cụ thể
đảm bảo sử dụng lao động một cách có hiệu quả; đáp ứng các nhu cầu của
người dân về các loại nông sản; đảm bảo tính công bằng trong cộng đồng về
sử dụng các nguồn lợi.
- Đảm bảo bền vững theo không gian và thời gian: Con người chỉ chú ý
đến vật chất ở đầu ra mang lại lợi ích kinh tế cho họ, còn ít chú ý đến vật chất
được thải ra tới các hệ sinh thái xung quanh làm ảnh hưởng đến tính bền vững
làm cho sản lượng lương thực thế giới tăng cao.
Cách mạng xanh lần thứ nhất xảy ra vào cuối những năm 60 đã tạo ra
các giống cây trồng mới, năng suất cao. Cùng với cách mạng xanh là một nền
nông nghiệp phát triền theo hướng Công nghiệp hoá với sự đầu tư ngày càng
tăng lượng hoá thạch vào trong sản xuất. Phân hoá học, thuốc trừ sâu, trừ cỏ,
chất kích thích sinh trưởng, thuỷ lơi và máy móc sử dụng rộng rãi trên phạm
vi toàn thế giới. Cách mạng xanh với nền nông nghiệp Công nghiệp hoá (chủ
yếu dựa vào năng lượng hoá thạch) đã để lại những hậu quả ngày càng
nghiêm trọng đối với môi trường và sức khoẻ con người. Do vậy tính bền
vững và năng suất cao của hệ sinh thái nông nghiệp vẫn là mâu thuẫn khó giải
quyết trong tình trạng hiện nay của các nước nông nghiệp nhiệt đới, các nước
đang và kém phát triển.
* Những hậu quả của phát triển nông nghiệp theo hướng Công nghiệp
hoá và tính cấp thiết của phát triển kinh tế bền vững trong hệ thống nông
nghiệp.
Hiện nay xói mòn là một trong những nguy cơ quan trọng nhất dẫn đến
suy thoái các vùng đất nông nghiệp của thế giới, đặc biệt ở các nước nhiệt đới
có lượng mưa lớn và tập trung. Xói mòn là hiện tượng mất dần lớp đất mặt
dưới tác động bào mòn của nước hoặc gió. Xói mòn do nước thường làm suy
thoái đất mạnh nhất và xảy ra rất trầm trọng ở các nước nhiệt đới. Cùng với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 12 -
xói mòn do nước, xói mòn do gió cũng góp phần làm mất dần lớp đất mặt.
Theo số liệu bảng 1.1, xói mòn hàng năm đã làm mất đi khoảng 0,7 lượng đất
đó, có nghĩa là mất đi 7% lượng đất canh tác sau mỗi thập kỷ. Sau khi tổng
kết nghiên cứu, Leon Lyles (1975) chỉ ra rằng, cứ mất đi 1 inch đất mặt do xói
mòn, năng suất cây trồng sẽ giảm đi 4% đối với ngô và 8% đối với lúa mì. Và
muốn giành năng suất như trước cần phải đầu tư thêm nhiều phân bón như N,
- Ở Myanma, để phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững người dân đã
sử dụng mô hình canh tác lúa - cá ,đã làm năng suất tăng lên 20%, mặc dù
diện tích đất đã sử dụng làm mương rãnh và bờ bao. Hệ thống này đã sử dụng
phân hoá học, thuốc trừ bệnh gây hại và cỏ dại giảm đáng kể.
Từ mối quan hệ giữa nông nghiệp với môi trường, Bill M (1994) [16] đã
đưa ra phương pháp nghiên cứu hệ thống canh tác cũ nhằm khắc phục tình
trạng mất cân bằng sinh học, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả
mãn các nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai ô nhiễm môi trường,
nhằm hướng tới phát triển kinh tế bền vững trong hệ thống nông nghiệp.
- Ở Ấn Độ, để phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế bền vững trong
hệ thống nông nghiệp thì chương trình phối hợp nghiên cứu từ năm 1960 -
1972 lấy hệ thống luân canh tăng vụ chu kỳ một năm ưu tiên cây lương thực
chu kỳ một năm 2 vụ ngũ cốc, đưa thêm vào một vụ đậu đỗ đã đáp ứng được
3 mục tiêu là khai thác tối ưu tiềm năng của đất đai, ảnh hưởng tích cực đến
độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân [3 - tr 22].
Như vậy, ở hầu hết các nước trên thế giới dù ở trình độ phát triển không
giống nhau đều phải quan tâm tới việc xây dựng “một nền nông nghiệp theo
quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền” với mục tiêu quản lý và bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi công nghệ và tổ chức thực hiện
nhằm đảm bảo thoả mãn liên tục các nhu cầu con người thuộc các thế hệ hôm
nay và mai sau [11].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 14 -
1.1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế bền vững trong hệ thống nông
nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân có truyền thống trồng trọt,
chăn nuôi từ lâu đời. Ngay từ thời Hùng Vương, người dân đã di chuyển từ
vùng gò đồi xuống vùng Đồng bằng ven biển để khai hoang, xây dựng đồng
nông nghiệp sinh thái bền vững cần phải:
(1) tạo các giống thích hợp với vùng sinh thái, không dùng nhiều các tác
động hoá học để thay đổi môi trường.
(2) đầu tư hợp lý, không gây ô nhiễm môi trường
(3) dùng đạm sinh học (các cây cố định đạm, cây họ đậu…) dùng phân
bón hữu cơ
(4) duy trì sự đa dạng sinh học
(5) bảo vệ thực vật phải dùng côn trùng có ích, duy trì sự cân bằng sinh
thái.
Sự phát triển kinh tế bền vững cho hệ thống nông nghiệp còn có hệ quả
cực kỳ quan trọng là bảo vệ tài nguyên đất, tài nguyên nước và đa dạng sinh
học.
* Kinh nghiệm phát triển kinh tế bền vững trong hệ thống nông nghiệp ở
một số địa phương
- Lạng Sơn: Tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững trong hệ
thống nông nghiệp vừa qua của tỉnh Lạng Sơn vẫn dựa vào khai thác tài
nguyên thiên nhiên là chủ yếu như: đất, rừng, nước ... Song với trình độ công
nghệ sản xuất thấp kém và lạc hậu, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng
không bền vững, năng suất lao động thấp, cộng với tỷ lệ tăng dân số nhanh,
dẫn đến tỷ lệ hộ đói nghèo cao. Cơ cấu kinh tế đã có những bước chuyển dịch
quan trọng đúng hướng, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đất
nước, tỷ trọng ngành nông lâm thuỷ sản giảm từ 47,99% (năm 2005) xuống
45% (năm 2006).Về sản xuất nông nghiệp, bước đầu thực hiện có hiệu quả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 16 -
việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng khai thác lợi thế sản xuất hàng
hoá, nổi bật là sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, xác
định được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, từng bước hình thành vùng sản
mỗi năm tăng 28.000 ha rừng do khoanh nuôi tái sinh hành rừng và do trồng
rừng đã khép tán.
Như vậy, đánh giá chung thực trạng phát triển bền vững kinh tế nông
nghiệp của tỉnh Lạng Sơn trong thời gian qua là khá khả quan, tuy nhiên để
phát triển bền vững mang tính chiến lược và lâu dài cần phải chú ý đến việc
sử dụng đất sản xuất chưa hợp lý làm đất bị rửa trôi, xói mòn ảnh hưởng đến
hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường; tài nguyên rừng có nguy cơ bị suy
giảm, nguồn tài nguyên nước đang bị thiếu hụt và ô nhiễm.[13 - Tr 439]
- Ở Bắc Giang: Phát triển kinh tế bền vững ở Bắc Giang cần được hiểu
toàn diện bao gồm phát triển liên tục cả kinh tế và an ninh quốc phòng, cả văn
hoá xã hội và môi trường sống. Tăng trưởng kinh tế của tỉnh chủ yếu dựa vào
nguồn tài nguyên thiên nhiên đang có nguy cơ cạn kiệt. Sản xuất nông nghiệp
chiếm 40% GDP nhưng lượng nông sản được chế biến còn rất thấp.Có loại
rau quả chỉ đạt 5%, thịt 1% tổng lượng nguyên liệu hiện có. GDP bình quân
đầu người nhỏ hơn 500 đô la Mỹ nên đây là một khó khăn cho Bắc Giang
không chỉ do tỉnh thiếu cơ sở kinh tế để đảm bảo duy trì phát triển sản xuất
mà còn phải “ bóc lột” tự nhiên để thoả mãn các nhu cầu của con người. Thực
tế nguy hại của ô nhiễm và thực hành các biện pháp phòng chống ô nhiễm
trong là khá rõ đối với Bắc Giang. Thừa hưởng các kết quả phòng chống ô
nhiễm đã có, tỉnh có thể bảo vệ môi trường hiệu quả hơn.Ví dụ: Chính sách
phòng ngừa đã khẳng định là đỡ tốn kém nhất. Nếu chi phí phòng ngừa xói
mòn, thoái hoá đất chỉ mất khoảng từ 5 - 150 USD Mỹ cho 1 ha thì chi phí
phục hồi và cải tạo tốn từ 500 - 1000 USD cho 1 ha.
Tuy nhiên, tỉnh cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển bền vững,
khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng là thấp hơn ngay cả ở một số nhóm