TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYÊN THỊ TƯƠI
XÂY DựNG MỘT SỐ BÀI TẬP
RÈN KĨ NĂNG PHÂN BIỆT TỪ ĐÒNG
ÂM, TỪ NHIÈU NGHĨA CHO HỌC
SINH TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•••
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI – 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ TƯƠI
XÂY DựNG MỘT SỐ BÀI TẬP
•
••
RÈN KĨ NĂNG PHÂN BIỆT TỪ
Khoá luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS. Lê Thị
Lan Anh. Tôi xin cam đoan rằng:
-
Khoá luận này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi.
-
Những tư liệu được trích dẫn trong khoá luận là trung thực.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
-
Ket quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình nghiên
cún của tác giả nào đã được công bố trước đó.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, thảng 5 năm 2015 Tác giả khoá ỉuận
Nguyễn Thị Tươi
MỤC LỤC
1.1.
1.2.
trong những nội dung khó đó là phần nghĩa của từ. Phân môn Luyện từ và câu giữ
vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho học sinh các kiến thức về từ và câu. Từ
6
trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Từ bao gồm từ thuần Việt và từ mượn.
Việc tìm hiếu từ trong tiếng Việt rất rộng.
Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo thành câu, câu là đơn vị giao tiếp nhỏ nhất, vì
vậy, trong quá trình học tập và giao tiếp hằng ngày, người nói cũng như người
nghe phải nắm được, hiểu được từ, sử dụng một cách chuẩn xác thì việc giao tiếp
mới hiệu quả. Đối với học sinh tiểu học, vốn từ của các em còn hạn chế vì vậy
cần phải dạy đế học sinh nhận biết, giải nghĩa, hiếu được giá trị của tù' để phát
triển vốn từ.
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là một hiện tượng phong phú của tiếng Việt.
Đây là mảng kiến thức rất khó đối với học sinh. Khi học từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa, các em thường hay có sự nhầm lẫn bởi từ đồng âm và từ nhiều nghĩa có
hình thức giống nhau, ranh giới không rõ ràng.
Nhằm giúp học sinh tiểu học hiểu rõ về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và biết
cách sử dụng hai loại từ này một cách linh hoạt, chúng tôi đã chọn đề tài Xây
dựng một số bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cho
học sinh tiêu học.
Đe tài này chắc chắn sẽ có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học kiểu bài từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cũng như chất lượng dạy học
tiếng Việt nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa đã được các nhà nghiên cứu đề cập
từ rất lâu. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về từ vựng nói đến từ đồng âm, từ
nhiều nghĩa. Sau đây, tôi xin sơ lược qua một số tài liệu viết về vấn đề này.
Hai tác giả Lê Phương Nga,Nguyễn Trí trong giáo trình Phương pháp dạy
trường:
-
Trường Tiểu học cố Loa - Đông Anh - Hà Nội.
-
Trường Tiểu học Quang Minh B - Mê Linh - Hà Nội.
-
Trường tiểu học Nghĩa Đô- cầu Giấy- Hà Nội.
5. Nhiệm vụ nghiên cửu
-
Trình bày khái quát những vấn đề lí luận có liên quan đến từ đồng âm, từ
nhiều nghĩa.
-
Tìm hiều thực trạng dạy học kiểu bài từ đồng âm và từ nhiều nghĩa ở
trường tiểu học hiện nay.
8
- Thiết kế một số bài tập rèn kĩ năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
cho học sinh tiếu học và bước đầu kiếm nghiệm hệ thống bài tập này.
6. Phương pháp nghiên cứu
1.1.1.
Khái niệm
Theo tác giả Đào Duy Anh trong cuốn Hán Việt từ điến giản yếu thì “đồng
âm là những tiếng giống nhau ” [2,tr.208].
Tác giả Hoàng Phê trong cuốn Từ điến tiếng Việt đã giải thích từ đồng âm
là “những từ có vỏ ngữ âm giống nhau nhưng khác nhau về mặt ỷ nghĩa
[7,tr.432].
9
Theo Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn Hỏi - Đáp Tiếng Việt 5: “Từ đồng
âm ỉà những từ có hình thức ngữ âm giong nhau nhưng có nghĩa hoàn toàn khác
biệt nhau và không hề ỉỉên quan với nhau ” [8,tr.l29].
Qua các ý kiến trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về từ đồng âm như
sau: Từ đồng âm là những từ trùng nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau
về ý nghĩa.
Ví dụ: Trong tiếng Việt có những nhóm từ đồng âm như: ĐỒNG Đồng li là
nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Cu và số nguyên tử
bằng 29. Đồng là kim loại dẻo có độ dẫn điện và dẫn nhiệt cao. Đồng nguyên
chất mềm và dễ uốn; bề mặt đồng tươi có màu cam đỏ.
Đồng2: là một khoảng đất rộng đế gieo trồng ngũ cốc (cánh đồng bao la).
Đồng3: đơn vị tiền tệ (mười ngàn đồng).
Đồng4! người được thần linh hay người chết nhập vào theo mê tín (cô
đồng). Đồng5: Tiền bạc nói chung (đồng lương).
1.1.2.
Đặc điểm của từ đồng âm
toàn khác nhau để tạo ra sự bất ngờ. Chẳng hạn:
Con ngựa ĐÁ con ngựa ĐÁ.
Ớ đây
ĐÁ2
ĐẢ Ì
là động từ chỉ hành động tác động và vật khác bằng chân, còn
là danh từ chỉ miếng chất rắn, thường là lấy từ vỏ Trái Đất.
Hay: Con ruồi ĐẬU mâm xôi ĐẬU cũng giống câu trên.
Trong câu: MỒMBÒ không phải là MỒM BÒ mà lại là MỒM BÒ ta thấy:
MỒM BÒ Ì
3
: là hoạt động của mồm. MỒM BÒ2: là mồm của con bò.
Hoặc trong câu: BÁC BÁC trứng, TÔI TÔI vôi. Nghĩa của các từ đồng ậm như
sau:
BÁC Ì',
là đại từ.
BÁC2-
là động
từ.
từ.
tạo nên tiếng cười ngộ nghĩnh, hóm hỉnh cho người đọc.
Bên cạnh sử dụng từ đồng âm để chơi chữ thì người ta còn sử dụng từ đồng
âm để giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày.
Đêm nay, trời nhiều sao.
Vì sao trời lại có sao?
Bạn làm sao thế?
Sao thuốc là làm thế nào?
Hay:
Đi mua một cân đường mà sao con đi lâu thế, đường đâu có xa ?
Khi sử dụng từ đồng âm đế giao tiếp thường ngày, đôi khi người cũng ta sử
dụng lối chơi chữ.
1.2.
Từ nhiều
nghĩa 7.2.7.
Khái niệm
Theo Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn Hỏi - Đáp Tiếng Việt 5: ‘Tử nhiều
nghĩa là một từ nhung cỏ nhiều nghĩa. Từ nhiều nghĩa hình thành do cơ chế chuyến
nghĩa theo phương thức ấn dụ hoặc hoán dụ”.
1
Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 quan niệm: “Từ nhiều nghĩa là từ cỏ một
nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyến. Các nghĩa của từ
nhiều nghĩa bao
1
nghĩa chuyến, do phương thức ấn dụ(rút ra từ
điểm tương đồng) từ CỔ CHAI mà ra, là đoạn đường bị thắt lại.
1.2.2.
Giá trị sử dụng của từ nhiều nghĩa
Từ nhiều nghĩa là một từ có nhiều nghĩa. Chính vì vậy, từ nhiều nghĩa có
nhiều giá trị sử dụng.
1.2.2.1.
Dùng đế gọi tên sự vật, đò vật
Trong từ nhiều nghĩa, bao giờ chúng ta cũng xác định được nghĩa gốc của từ.
Dựa vào nghĩa gốc này, ta có thể mở rộng vốn từ để gọi tên sự vật, đồ vật. Chẳng
hạn:
Nghĩa của từ ĐẦU:
1. Chỉ bộ phận trên cùng của người hay động vật (đầu người, đầu gà).
2. Chỉ phần đầu tiên, phần trên cùng của một sự vật nào đó (đầu nhà, đầu làng,
đầu nguồn...)
Nghĩa của từ XUÂN:
Mùa xuân! là tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân2.
XUÂN // Mùa đầu tiên trong năm, mùa trăm hoa đua nở, tươi đẹp.
1
4
XUÂN2: Chỉ sự tươi đẹp.
giống nhau, viết cũng giống nhau, chỉ khác nhau về nghĩa.
Ví dụ:
Cơm đã chín Ị.
Hôm nay con được CHÍN2 điểm.
Bị điểm kém, em ngượng CHÍN Ị cả người.
CHÍN Ỉ', là tính từ chỉ trạng thái.
CHÍN2: là số từ chỉ số lượng.
CHÍN/, là tính từ chỉ trạng thái.
Trong đó, từ CHÍN2ÂOng âm với từ CHÍN/VẦ. CHÍN3 nhưng nghĩa hoàn toàn khác
nhau.
1
5
CHÍN Ị và CHÍN Ị là từ nhiều nghĩa, trong đó CHÍN,] mang nghĩa gốc, từ CHÍN3
mang nghĩa chuyển. Tuy nhiên xét về nghĩa chúng đều chỉ trạng thái.
1.3.2.
Sự khác nhau giữa từ đằng âm và từ nhiều nghĩa
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là hai lớp từ khác nhau.
a, TỪ
ĐỒNG ÂM
là những từ có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng có nghĩa
■ Do sự rút gọn trùng hợp với từ sẵn có (2 kí, chữ kí).
b, TỪ NHIỀU NGHĨAÌẦ một từ nhưng có nhiều nghĩa. Đây là các nghĩa khác nhau
của cùng một từ, các nghĩa có mối liên hệ với nhau. Từ nhiều nghĩa được
hình thành do cơ chế chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ hoặc hoán dụ.
Ví dụ:
MŨI trong MŨI DỌC DỪA mang nghĩa gốc (chỉ bộ phận của cơ quan
hô hấp, có dáng nhọn, nhô về phía trước mặt người hoặc
động vật).
1
6
MŨI trong
MŨI DAO, MŨI TÊN, MŨI THUYỀN
đều là nghĩa phái sinh được hình
thành do phương thức ấn dụ rút ra từ điếm tương đồng (giống nhau): vật có dáng
nhọn, nhô về phía trước.
MŨI trong MŨI DÃI là nghĩa phái sinh, được hình thành theo phương thức hoán
dụ, rút là từ điểm tương cận (gần nhau) giữa hai đối tượng: chất nhày tiết ra ở mũi.
Như vậy, TỪ NHIỀU NGHĨA có điếm khác cơ bản so với TỪ ĐỒNG ÂM là:
TỪ
ĐỒNG ÂM
là nhiều từ nhưng nghĩa của các từ đó trong văn cảnh đều là
chuyển.
Các từ mang nghĩa gốc thì nêu được nghĩa khác nhau nhưng phải bằng cách
diễn giải.
Còn phần nhiều các từ mang nghĩa chuyển thì nêu bằng cách thay thế bằng
một từ khác.
Ví dụ:
Mùa XUÂN I là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng XUÂN2.
XUÂN2
được dùng theo nghĩa chuyển vì XUÂN2có thể thay thế bằng từ TƯƠI
đẹp.
Trong cùng một hình thức ngữ âm vừa có thể là hiện tượng đồng âm, vừa có
thể là hiện tượng nhiều nghĩa.
1
7
Có thể nêu lên những điểm khác nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
như sau:
Từ đông âm
-
Từ nhiều nghĩa
Là hai hoặc nhiêu từ có cùng hình
làm tổn thương.
-
Nước ĐẢ: chỉ nước đông cứng lại
thành tảng, giống như đá.
Không giải thích được bằng cơ chế
- Do cơ chế chuyển nghĩa tạo thành.
chuyển nghĩa.
CHƯƠNG 2. THựC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC TỪ ĐỒNG ÂM
VÀ TỪ NHIỀU NGHĨA Ở TIÉU HỌC
2.1.
Hệ thống những bài có sử dụng kiến thức từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa
2.1.1.
Hệ thống những bài sử dụng kiến thức từ đằng âm
2.1.
ì. l.Hệ thông những bài sử dụng kiên thức từ đông âm
Xét các phân môn từ lớp 1 đến lớp 5:
Phân môn (Bài)
0
3
1
4
5
Kể
Tập viết
chuyện
X
1
0
1
0
0
0
1
X
Nhận xét
Ngay từ lóp 1, học sinh đã được biết thông qua phân môn Học vần. Đó là
các em được đọc những âm mà có cách phát âm giống nhau. Cụ thể:
1. / / có thế viết:
gh (khi đi với i, e, ê)
g khi đi với các nguyên âm còn lại
2. /i/ có thể viết i,y.
Tuy nhiên đây chỉ là một phần không đầy đủ của từ đồng âm. Sở dĩ nói như
vậy vì các âm nêu trên chỉ có cách đọc là giống nhau còn khi viết thì khác nhau.
Ngoài phân môn Học vần - Tập đọc thì các phân môn khác của Tiếng Việt 1
chưa sử dụng các kiến thức khác của từ đồng âm.
Lớp 2,3,4 các phân môn đã sử dụng các kiến thức của từ đồng âm nhưng chỉ
dừng lại ở việc đưa ra trong văn bản chứ không giải thích sự giống nhau hay khác
nhau giữa các từ.
Ví dụ;
Ai ai cũng được tùy tài lập CÔNG
Voi vận tải trên lưng quân bị Vào
trận sao cho khỏe như voi CÔNG
đồn, Gấu phải kịp thời (Sư Tử xuất
quân, [11 ,t2,tr.47]).
Riêng lớp 5, kiến thức của bài từ đồng âm được dạy bằng bài bài một cách cụ
thể. Đó là đưa ra khái niệm từ đồng âm. Sau khi đưa ra khái niệm từ đồng âm “TỪ
1
0
Tập
làm
Luyện
và câu
X
Kê
chuyện
0
2
3
1
3
1
2
1
3
2
3
5
2
X
гжч A
X
từ
гжч A
Tập
viết
0
Tổng số những bài sử dụng từ nhiều nghĩa là 43 bài. Trong đó, tất cả các
phân môn đều sử dụng kiến thức của từ nhiều nghĩa.
2.7.2.2. NHẬN XÉT
Bắt đầu tù’ lớp 2, lóp 3 học sinh đã được làm quen với những kiến thức đơn
giản nhất về từ nhiều nghĩa. Những bài sử dụng kiến thức của từ nhiều nghĩa chủ
yếu ở các bài thuộc phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu. Các bài sử dụng kiến thức
này được biên soạn kết hợp với các mảng kiến thức khác chứ không lí giải một cách
rõ ràng như một bài lí thuyết luyện từ và câu.
Đen lóp 5, học sinh được học bài lí thuyết riêng về từ nhiều nghĩa. Trong bài
đưa ra khái niệm trong phần Ghi nhớ. Học sinh có thể tiếp thu khái niệm về
ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA
TỪ
dễ dàng, nhẹ nhàng và nắm chắc kiến thức, có cơ sở để
vận dụng, thực hành.
Mục tiêu quan trọng hàng đầu khi dạy Tiếng Việt cho học sinh tiểu học là rèn
kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong học tập và giao tiếp. Quan điểm giao tiếp trong
phân môn Luyện từ và câu ở lớp 5 được thể hiện ở cả phương diện nội dung lẫn
phương pháp dạy học. Cách bố trí và sắp xếp các đơn vị kĩ năng sử dụng từ ngữ
phục vụ giao tiếp. Các bài về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa chú trọng đến việc sử
dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong nói, viết chứ không phân loại hàn lâm. Ta có
thể thấy ngay cách sắp xếp này, ngay từ cách đặt tên các bài như: Từ đồng âm
[14,l,tr.51]; Dùng từ đồng âm để chơi chữ [14,l,tr.61]; Từ nhiều nghĩa [14,l,tr.67];
Luyện tập về từ nhiều nghĩa [14,l,tr. 73]; Luyện tập về từ nhiều nghĩa[14,l ,tr.82]
cho đến cách phân bố thời lượng, sắp xếp bài học, bài luyện tập cũng thể hiện rõ
quan điểm trên.
Học sinh được học 02 tiết về từ đồng âm, 03 tiết về từ nhiều nghĩa. Tiết đẩu
tiên của TỪ ĐỒNG ÂM cung cấp cho học sinh kiến thức chung về từ đồng âm. Tiết đầu
tiên của TỪ
NHIỀU NGHĨA
dạy cho học sinh khái niệm về từ nhiều nghĩa, còn hai tiết
còn lại dạy cho học sinh LUYỆN TẬP VỀ TỪ NHIỀU NGHĨA.
2
- Từ nhiều nghĩa BÀN Ị trong cái bàn và BÀN2 trong bàn phím.
Hai từ bàn có từ bàni là nghĩa gốc, từ bàn2 là nghĩa phái sinh.
BÀN Ị: là danh từ, chỉ đồ vật có mặt phẳng, có chân, dùng để chứa đồ.
BÀN2: là danh từ, là bộ phận có mặt phẳng chứa các phím trong một số loại
đàn hoặc máy tính.
HAI LÀ: Trong chương trình tiếng Việt 5 chưa có dạng bài tập phối hợp cả hai
kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đế học sinh rèn kĩ năng phân biệt. Trong
sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập 1 có phân bố dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa như
sau:
rs > • rr^ \
4.À
A
PinÀ m
- Bài: Từ đông âm - Tuân 5
- Bài: Dùng từ đồng âm để chơi chữ - Tuần 6
2
2
- Bài: Từ nhiều nghĩa - Tuần 7
- Bài: Luyện tập về từ nhiều nghĩa - Tuần 7
- Bài: Luyện tập về từ nhiều nghĩa - Tuần 8
Hòn ĐÁ- ĐẢ bóng.
c)Ba MÁ- gò MÁ.
- Tìm từ đồng âm hoặc từ nhiều nghĩa trong bài.
Ví dụ: Các câu sau đã sử dụng những từ đồng âm nào?
a) Ruồi đậu mâm xôi đậu.
Kiến bò đĩa thịt bò.
b)Một nghề cho chín còn hơn chín nghề.
c) Bác bác trứng, tôi tôi vôi.
d)Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa.
2
3
[14,tl,tr.61]
Hay ví dụ:
Mùa xuân là tết trồng cây Làm cho đất nước càng ngày càng xuân
[14,tl,tr.82]
- Đặt câu phân biệt từ.
Ví dụ: Đặt câu để phân biệt từ đồng âm:
-Cờ
-
Bàn
-
Nước
2
4
II. Ghi nhớ
Đó chính là những nội dung lí thuyết cơ bản mà học sinh vừa rút ra ở phần
Nhận xét. Nội dung ghi nhớ được đóng khung in màu.
Ví dụ:
Từ nhiêu nghĩa là từ có một nghĩa gôc và một hay một só nghĩa chuyển. Các
nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau.
[ 14,t 1 ,tr.51 ]
III.Luyện tập
Bao gồm các bài tập thuộc 2 dạng chủ yếu sau:
+ BÀI TẬP NHẬN DIỆN (thường là các bài tập phần đầu
phần luyệntập) với
các yêu cầu như: Tìm, xác định, gạch chân, chỉ ra...
Ví dụ: Trong những câu nào các từ MẮT, CHÂN, ĐẦU
mangnghĩa gốc và
trong những câu nào, chúng mang nghĩa chuyển?
a) Mắt
-
Đôi mắt của bé mở to.
-