KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP THỬ NGHIỆM MỘT SỐ HỢP CHẤT CHIẾT XUẤT TỪ THẢO DƯỢC TRONG PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM TRẮNG DO VIRUS GÂY HỘI CHỨNG ĐỐM TRẮNG (WSSV) TRÊN TÔM SÚ (Penaeus monodon) - Pdf 11


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
* * * * * * * KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỬ NGHIỆM MỘT SỐ HỢP CHẤT CHIẾT XUẤT TỪ THẢO
DƯỢC TRONG PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM TRẮNG DO VIRUS
GÂY HỘI CHỨNG ĐỐM TRẮNG (WSSV) TRÊN TÔM SÚ
(Penaeus monodon) Ngành học: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Niên khóa: 2001 – 2005
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN ĐỨC THÀNH Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 8/2005


Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 8/2005

iii
LỜI CẢM TẠ

Trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp, tôi đã gặp những khó khăn nhất định
nhưng nhờ sự hướng dẫn và giúp đỡ của mọi người khóa luận đã được hoàn thành. Tôi
xin chân thành cảm tạ:
 Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban chủ
nhiệm Bộ Môn Công nghệ sinh học, cùng tất cả quý thầy cô đã truyền đạt cho
tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường.
 TS Lý Thị Thanh Loan, ThS Nguyễn Hoàng Phượng Uyên đã hết lòng hướng
dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp.
 Các anh chị tại Trung tâm Quốc gia Quan trắc Cảnh báo Môi trường thuộc Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 2 và các anh chị tại Trại Thực nghiệm Thủy
sản Thủ Đức đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian
thực tập tốt nghiệp.
 Ban Giám đốc và các anh chị công ty Nam Khoa.
 Các bạn bè thân yêu của lớp Công nghệ Sinh học 27 đã chia sẻ vui buồn trong
quá trình học tập và giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập.

2
có tác dụng lên virus WSSV ở những nồng độ 2,5 (mg/ml),
5 (mg/ml), 7,5 (mg/ml), 10 (mg/ml). v
MỤC LỤC

CHƯƠNG TRANG
Trang tựa
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt vi
Mục lục v
Danh sách các hình viii
Danh sách các bảng và sơ đồ ix

PHẤN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tình hình dịch bệnh tôm trên thế giới 3
2.2 Tình hình nuôi và dịch bệnh tôm ở Việt Nam. 4
2.3 Đặc điểm hệ thống miễn dịch của tôm sú 6
2.4 Khái quát về bệnh đốm trắng và virus gây
hội chứng đốm trắng trên tôm sú 7
2.4.1 Tác nhân gây bệnh 7
2.4.2 Khu vực phân bố 7
2.4.3 Ký chủ 8
2.4.4 Điều kiện phát sinh và đường lây truyền 8

đối với virus gây hội chứng đốm trắng 18
3.4.2 Thử nghiệm các hợp chất sàng lọc khi tiêm trực tiếp
hỗn hợp dich virus và hợp chất vào tôm 19

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Sàng lọc các hợp chất chiết xuất từ thảo dược
đối với virus gây hội chứng đốm trắng 20
4.1.1 Kết quả sàng lọc đối với hợp chất D
2
20
4.1.2 Kết quả sàng lọc đối với hợp chất B 21
4.1.3 Kết quả sàng lọc đối với hợp chất M 23 vii
4.2 Kết quả thử nghiệm sau khi tiêm trên tôm hỗn hợp virus WSSV
và hợp chất D
2
, B ở các nồng độ khác nhau 23
4.2.1 Kết quả thử nghiệm hợp chất D
2
27
4.2.2 Kết quả thử nghiệm hợp chất B 29

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32


hỗn hợp dịch virus WSSV và hợp chất B sau thí nghiệm 30

ix

DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ

BẢNG TRANG
Bảng 2.1 Tên một số quốc gia và năm xuất hiện bệnh đốm trắng 3
Bảng 2.2 Đánh giá khả năng phát hiện bệnh đốm trắng bằng các phương pháp
khác nhau 10
Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 24
Bảng 4.2 Kết quả ghi nhận tỷ lệ tôm chết ở các lô trong quá trình
thí nghiệm 25
Bảng 4.3 Kết quả Realtime PCR so sánh chu kỳ ngưỡng và hàm lượng DNA
của mẫu hỗn hợp dịch virus và hợp chất trước thí nghiệm và sau thí nghiệm 26

phòng trị bệnh đốm trắng như dùng chế phẩm sinh học, hoá chất, thuốc… nhưng còn
tồn tại nhiều mặt hạn chế và mức độ thành công chưa cao.
Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên khu hệ thực vật rất
phong phú. Thảo dược từ xưa đã được ứng dụng phòng trị bệnh có hiệu quả trong y
học và thú y. Tuy nhiên trong lĩnh vực thuỷ sản thì chưa được ứng dụng rộng rãi. Thử
nghiệm một số hợp chất thảo dược trong phòng trị bệnh ở các đối tượng nuôi thuỷ sản
là hướng nghiên cứu mới và cần khai thác. Được sự đồng ý của Trung tâm Quốc gia
Quan trắc, Cảnh báo Môi trường và Phòng ngừa Dịch bệnh Thuỷ sản khu vực Nam Bộ
(MCE) thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II (RIA 2) và Bộ môn Công nghệ
Sinh học Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh cùng các thầy cô hướng
dẫn, chúng tôi thực hiện khoá luận tốt nghiệp: “Thử nghiêm một số hợp chất chiết xuất
từ thảo dược trong phòng trị bệnh đốm trắng do virus gây hội chứng đốm trắng
(WSSV) trên tôm sú (Penaeus monodon)” 2
1.2 Mục đích yêu cầu
- Sàng lọc một số hợp chất chiết xuất từ thảo dược có tác dụng lên virus gây hội
chứng đốm trắng (WSSV).
- Thử nghiệm tác dụng của các hợp chất sàng lọc lên virus gây hội chứng đốm
trắng (WSSV) trong điều kiện thí nghiệm.

3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình dịch bệnh tôm trên thế giới.
Nuôi trồng thủy sản là ngành kinh tế quan trọng đóng góp một phần đáng kể
trong thị phần xuất khẩu của một số nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Châu Á
4
Tỷ lệ gây chết do virus có thể lên đến 100 % trong vòng 3 - 10 ngày kể từ khi
có dấu hiệu đầu tiên.
2.2 Tình hình nuôi và dịch bệnh tôm ở Việt Nam.
Hoạt động nuôi tôm biển ngày càng đóng vai trò quan trọng ở nước ta. Tôm
nước lợ là đối tượng nuôi chủ lực ở các tỉnh ven biển. Diện tích nuôi tôm nước lợ đạt
546.757 ha (2003), trong đó diện tích nuôi thâm canh là trên 15.534 ha (chiếm khoảng
2,84 % tổng diện tích nuôi tôm), nuôi bán thâm canh trên 20.116 ha (chiếm 3,67 %),
còn lại là nuôi quảng canh cải tiến và quảng canh. Năm 2003, diện tích nuôi tôm bị
nhiễm bệnh là 32.423 ha, chiếm 3,2 % gây nhiều thiệt hại cho người nuôi tôm. Các
tỉnh duyên hải Nam Bộ có tổng diện tích nuôi lớn nhất, chiếm 87,17 % của cả nước
với 476.528 ha. Năm 2003 sản lượng nuôi tôm nước lợ đạt hơn 200.000 tấn.
Trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2003, tôm sú vẫn là
mặt hàng chủ lực. Khối lượng đạt trên 123.600 tấn, chiếm khoảng 25 %, nhưng về giá
trị chiếm khoảng 50 %, đạt hơn 1 tỷ USD.
Theo thống kê của Bộ Thuỷ Sản (1995), từ năm 1993 - 1995 đã báo động trên
toàn quốc dịch bệnh tôm đã làm thiệt hại hàng trăm tỷ đồng. Trong năm 1994, tổng
diện tích nuôi tôm có dịch bệnh là 84.558 ha với sản lượng thiệt hại ước tính là 5.225
tấn, trị giá khoảng 294 tỷ đồng. Đến nay dịch bệnh vẫn tồn tại và lây lan ngày càng
rộng gây tổn thất nghiêm trọng. Đồng Bằng Sông Cửu Long bị thiệt hại lớn nhất do
nơi đây tập trung khoảng 87 % diện tích nuôi tôm của cả nước.
Hiện tượng tôm chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển phía Nam từ năm 1993 –
1994 đã xác định tôm sú có ba loại bệnh MBV, bệnh đốm trắng và bệnh đầu vàng (Bùi
Quang Tề, 1996, 1997; Nguyễn Việt Thắng và CTV, 1998).
Trong những năm gần đây, bệnh đốm trắng thường xuyên xuất hiện trong các
khu vực nuôi tôm ven biển ở Việt Nam. Hầu hết các tỉnh khi tôm bị nhiễm bệnh đốm
trắng đã làm tôm chết hàng loạt gây tổn thất nghiêm trọng cho nghề nuôi tôm. Mùa
xuất hiện bệnh là mùa xuân và đầu hè khi thời tiết biến đổi nhiều như biên độ nhiệt độ

Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hoá và Hà Tĩnh ) và tôm post đưa từ Quảng Nam
và Đà Nẵng chuyển ra Bắc. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh đốm trắng của tôm post
đưa từ miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam) là 23,08 %; tôm sú nuôi thương phẩm ở
các tỉnh phía Bắc là 26,92 %; tôm chân trắng là 13,33 %.
Phân tích tỷ lệ lưu hành bệnh WSSV theo tháng trên tôm sú nuôi thương phẩm
thì thấy tháng 7, 8, 9 có tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất (0,25 – 0,4); tháng 6 tỷ lệ thấp hơn
(0,12) và tháng 5 chưa phát hiện thấy tôm nhiễm bệnh.
Các bệnh trên tôm xảy ra chủ yếu là do virus gây hội chứng đốm trắng
(WSSV), ngoài ra còn xuất hiện bệnh MBV, bệnh do vi khuẩn Vibrio, bệnh do ký sinh
trùng, do dinh dưỡng và gần đây còn xuất hiện bệnh phân trắng, teo gan tụy ở một vài
nơi. 6
Các bệnh thường gặp trên tôm nuôi thường được phân chia thành hai loại bệnh
truyền nhiễm và không truyền nhiễm trong đó chủ yếu là do bệnh truyền nhiễm.
Từ tình hình dịch bệnh chung ở trên cho thấy để phát triển bền vững nghề nuôi
tôm đòi hỏi phải kết hợp rất nhiều yếu tố quan trọng như nghiên cứu hoàn thiện quy
trình sản xuất giống và nuôi tôm thịt, các vấn đề về dinh dưỡng và môi trường, đồng
thời không kém phần quan trọng đó là nghiên cứu các tác nhân gây bệnh để tìm ra
những biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả.
2.3 Đặc điểm hệ thống miễn dịch của tôm sú.
Môi trường nước gồm một loạt các thông số tác động đến sự sinh trưởng và tái
sản xuất của sinh vật. Ở điều kiện bình thường thì giữa sinh vật (vật chủ ), nguồn bệnh
và môi trường giữ trạng thái cân bằng, bất cứ sự phá vỡ cân bằng nào đều có thể gây
bệnh. Trong hầu hết các trường hợp, nguồn gốc chính của việc phát sinh bệnh là vấn
đề môi trường dù rằng trong bản thân nội tại của vật chủ có sự tồn tại của mầm bệnh,
đây không nên xem là nguyên nhân chính sinh ra bệnh.
Cơ chế kháng bệnh của tôm chủ yếu là miễn dịch không đặc hiệu, điều này có
hạn chế so với động vật có xương sống do sự khác biệt tiến hoá biểu hiện ở chỗ không

không thể dựa vào việc sử dụng các loại vaccin mà chủ yếu là các biện pháp tăng
cường hiệu quả đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu thông qua cải thiện điều kiện môi
trường nuôi và sử dụng các chất kích thích miễn dịch.
2.4 Khái quát về bệnh đốm trắng và virus gây hội chứng đốm trắng trên
tôm sú.
2.4.1 Tác nhân gây bệnh.
Bệnh đốm trắng được xem là bệnh nguy hiểm và gây hậu quả nghiêm trọng
nhất đến ngành nuôi tôm công nghiệp. Bệnh được phát hiện đầu tiên vào năm 1993.
Virus dạng hình trứng, kích thước 120 x 275 nm, có một đuôi phụ ở một đầu,
kích thước 70 x 300 nm.
Virus có ít nhất 5 lớp protein, trọng lượng phân tử từ 15 – 28 kilodalton. Vỏ bao
có 2 lớp protein VP28 và VP 19; nucleocapsid có 3 lớp VP26, VP24 và Vp15.
Nhân có cấu trúc DNA sợi đôi ( dsDNA ): không có thể ẩn ( Occlusion body ).
Khi bị nhiễm bệnh đốm trắng, tôm rất yếu và mềm vỏ do các đốm trắng (nên
gọi là bệnh đốm trắng) có đường kính từ 0,5 – 2 mm, hiện rất rõ ở dưới vỏ kitin. Đốm
trắng là chất đọng lại không bình thường của muối canxi bởi biểu bì vỏ kitin. Khi đã
thấy rõ dấu hiệu này thì tôm chết rất nhanh.
2.4.2 Khu vực phân bố.
Bệnh đốm trắng xuất hiện đầu tiên tại Bắc Á vào năm 1992 – 1993, sau đó bệnh
lan rộng ra khắp khu vực Châu Á và trên thế giới. Dịch bệnh được phát hiện trước tiên
ở Đài Loan năm 1992, Trung Quốc 1993, sau đó là Nhật, Indonesia, Thái Lan, 8
Malaysia, Ấn Độ, Việt Nam, Bangladesh, Texas (Hoa Kỳ 1995). Bệnh đã làm giảm
nghiêm trọng sản lượng tôm ở các quốc gia trên.
2.4.3 Ký chủ.
Hầu hết các loài tôm he đều có thể nhiễm bệnh này. Một số loài tôm he có thể
nhiễm ngoài tự nhiên như P. monodon, P. japonicus, P. chinensis, P. indicus, P.
merguiensis, P. seriferus, P. vannamei. Một số tôm he đã bị nhiễm trong điều kiện thí

bệnh đốm trắng). Kết quả theo dõi tôm sú nuôi tại Hải Phòng và Hà Tĩnh năm 2003
của Bùi Quang Tề cho thấy lan truyền theo chiều ngang là chính.
2.4.5 Cơ chế xâm nhập.
Theo L .M.passano, đây là dạng DNA virus, hình que ngắn. Khi xâm nhập vào
tôm, virus sẽ cư trú ở nhiều bộ phận như nội bì, mô dạ dày, mang, buồng trứng, tinh
hoàn, hệ thống thần kinh, mắt chân bơi và các bộ phận khác. Sau khi thâm nhập vào tế
bào chủ, virus tiến hành tự nhân bản dựa trên cơ sở vật chất và nguyên liệu của tế bào.
Quá trình này làm số lượng virus tăng lên rất nhanh, đồng thời làm thay đổi hoạt động
bình thường của tế bào, virus tiếp tục phát triển đến giai đoạn làm vỡ nhân và giết chết
tế bào sau đó lan truyền ra môi trường nước, tìm ký chủ khác và tiếp tục xâm nhập tấn
công. Hoặc tôm khoẻ ăn tôm bị nhiễm virus cũng tạo điều kiện cho virus tấn công vào
ký chủ mới. Nếu virus không tìm được ký chủ mới nó chỉ có thể sống được trong môi
trường nước khoảng 24 giờ.
2.4.6 Bệnh lý
Có thể chia bệnh virus đốm trắng thành hai dạng. Dạng 1 là bệnh cấp tính gây
tỷ lệ chết cao trong vòng 2 tuần. Bệnh thường gặp ở các loài tôm: P. monodon, P.
indicus và P. penicilatus. Dạng 2 là bệnh tiềm ẩn, virus đặc biệt này tồn tại trong các
loài tôm Macrobrachium sp, các loại cua tự nhiên, tôm hùm tự nhiên thường không có
dấu hiệu bệnh lý rõ rệt.
Tuy nhiên một số nhà khoa học khác đã chia bệnh virus đốm trắng xuất hiện ở
tôm he thành 3 dạng chính theo các dấu hiệu bệnh. Trong dạng I bệnh xuất hiện (cấp
tính và thứ cấp tính) mức độ phá huỷ nhiều ở các mô bị nhiễm virus, tỷ lệ tôm chết
trong vòng 7 – 10 ngày và dấu hiệu bệnh lý thể hiện rõ nhất là xuất hiện các đốm trắng
dưới vỏ. Tỷ lệ tôm chết từ trung bình đến cao, tỷ lệ mẫu kiểm tra bị nhiễm từ trung
bình đến cao. Dạng II tôm chết cấp tính. Bệnh xuất hiện tác động làm tôm chuyển màu
đỏ, mức độ phá huỷ rất mạnh ở các mô bị nhiễm virus, tỷ lệ tôm chết hầu hết trong
vòng từ 2 – 3 ngày, tỷ lệ mẫu kiểm tra bị nhiễm rất cao. Dạng III bệnh xuất hiện mãn
tính tổ chức mô phá huỷ thấp không có đốm trắng và không có màu đỏ, tỷ lệ tôm chết
kéo dài từ 15 - 28 ngày.


+ +
PCR + + +Từ bảng đánh giá trên cho thấy phương pháp PCR có độ nhạy và độ chính xác
cao. Vì vậy hiện nay người ta thường sử dụng phương pháp PCR để chẩn đoán bệnh
đốm trắng trên tôm sú.
2.5.2 Sơ lược về phương pháp PCR và Realtime PCR.
Nguyên tắc: PCR là một kỹ thuật in-vitro (trong ống nghiệm). Bằng kỹ thuật
này, một chuỗi phân tử DNA đặc thù nằm giữa hai vùng của một chuỗi đã biết có thể
được khuếch đại bởi một chu kỳ nhiệt được lặp đi lặp lại.
Mỗi chu kỳ PCR gồm 3 giai đoạn chính: 11
- Biến tính chuỗi DNA kép thành mạch đơn, ở nhiệt độ 92 – 95
o
C,
chuỗi xoắn kép DNA sẽ tách thành 2 mạch đơn.
- Bắt cặp giữa đoạn mồi và (primers) và mạch DNA đơn, sự bắt cặp
theo chiều 3

của sợi DNA mục tiêu ở nhiệt độ khoảng 45 – 55
o
C.
- Tổng hợp mạch DNA bổ sung từ điểm bắt cặp giữa đoạn mồi
(primers) và mạch DNA đơn nhờ enzyme DNA polymerase, từ đầu 3


của primers ở nhiệt độ khoảng 70 – 75

12
Alkaloid có tính kiềm và khi gặp acid tạo những muối có hoạt tính sinh học
mạnh và đặc hiệu, có tác dụng lâm sàng rõ ràng như dùng thuốc giảm đau, thuốc gây
tê đặc biệt là morphine, điều trị tăng huyết áp, rối loạn tinh thần, khối u, và thuốc
chống vi khuẩn,… Ngoài ra các alkaloid có tác dụng diệt ký sinh trùng, trị nguyên sinh
động vật như quinin, emezin, conessin. Tác dụng kháng khuẩn của berberin, quinon là
quan trọng hơn cả. Theo Ukita Mizuno và Tamura (1994) nhận thấy thì berberin có tác
dụng tốt đối với vi khuẩn tụ cầu khuẩn, trực khuẩn. Berberin có nhiều trong họ thực
vật Ranunculaceae, Rutacea, Menispermaceae.
Alkaloid thay đổi trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Yếu tố khí
hậu, đất đai và cách thu hái, bảo quản cũng ảnh hưởng đến sự thay đổi của alkaloid
trong cây. Hầu hết alkaloid đều có vị đắng, không màu hay có màu vàng như Berberin,
màu đỏ như Sangkinarine,…
2.6.2 Flavonoid.
Flavonoid có trong hầu hết các loại thực vật, và được lưu trữ nhiều trong hạt, ở
hoa, vỏ trái cây, hay trong vỏ cây. Theo báo cáo của nhiều tác giả cấu trúc của hợp
chất của phân tử bao gồm 2 vòng benzen và 3 carbon nằm ngoài 2 vòng. Là sắc tố màu
vàng trong cây, màu sắc đậm nhạt thay đổi theo từng loại cây. Có vị đắng hơi chua.
Flavonoid đã được nghiên cứu về hiệu quả thúc đẩy quá trình oxy hoá các chất,
dùng trong các trường hợp chuyển hoá cơ bản giảm. Các gốc tự do như superoxide
(O
2
-
), hydroxyl (OH
-
), hydoperoxy (H
2
O
2
), lipidperoxide, có khả năng tiêu diệt hoặc

Theo thông tin khoa học công nghệ và kinh tế thuỷ sản (2003) thì vi khuẩn
Vibrio harveyi và Vibrio alginolyticus là hai tác nhân gây bệnh ở tôm sú đều được
kiểm soát một cách hiệu quả bằng cách sử dụng MSM
S
. Chiết xuất methanol chứa chất
chuyển hoá thứ cấp ở biển (MSM
S
) từ cải biển (Ulva fasciata) và bọt biển (Dendrilla
nigra) đều tỏ ra hoạt động có hiệu quả trong việc kháng khuẩn. Thử nghiệm với liều
1000mg/kg thức ăn chứa U.fasciata và / hoặc 500mg/kg thức ăn chứa Dnigra được
xem là hiệu quả nhất.
Phan Xuân Thanh và cộng tác viên (2002) đã chọn một số loại cây có hoạt chất
chính là 2 - hydroxy 6 – pentadeca - trienylbenzoat để làm nguyên liệu sản xuất ra một
số loại thuốc phòng trị bệnh do vi khuẩn và vi nấm gây ra như bệnh phát sáng, bệnh
đóng rong, bệnh mang đen, bệnh mang vàng, bệnh đốm đỏ, bệnh mòn đuôi và hoại tử
phụ bộ trên tôm sú, … Liều dùng trong phòng bệnh, cứ 15 ngày xử lý thuốc 1 lần với
nồng độ 0,5 – 1 ppm. Liều dùng trong trị bệnh ở nồng độ 1 – 3 ppm, sau 3 – 5 ngày
lặp lại lần 2.
Theo S. Direkbusarakom, L. Ruangpan, Y. Ezura và M. Yoshimizu (1998), dịch
chiết từ lá cây Clinacanthus nutans trộn với thức ăn viên theo liều lượng 1 g/kg thức 14
ăn có khả năng ức chế hoạt động virus gây ra bệnh đầu vàng (Yellow - Head
Rhabdovirus) trên tôm sú (P. monodon). Hiệu quả bảo vệ tôm sú khỏi virus này trong
điều kiện thí nghiệm là 57,6 %.
Đây là một trong số rất nhiều công trình nghiên cứu dùng các hợp chất thảo
dược để hạn chế một số bệnh gây chết hàng loạt cho đối tượng nuôi thuỷ sản. Từ đó
cho thấy việc tập trung nghiên cứu và ứng dụng các loại dịch chiết từ thảo dược vào
thực tiễn sản xuất và một hướng đi đúng và đầy triển vọng.

- Máy Realtime PCR, các bộ Kit Realtime,…
- Các loại hóa chất thường dùng:
 Cồn 95% dùng cố định mẫu.
 Hóa chất dùng trong quy trình khuếch đại DNA virus như NAOH - SDS,
dung dịch PCR, các primer…
 Hóa chất dùng trong phân tích mẫu nước như NaOH, KI, KMnO
4
,
Na
2
S
2
O
3
, H
2
SO
4
, hồ tinh bột,…
 DMSO dùng làm dung môi hoà tan các hợp chất thử. Các hợp chất chiết xuất từ thảo dược: B, D
2,
M

3.2.2.2 Dụng cụ và hoá chất trong phòng thí nghiệm ướt.
- Bể kính bố trí thí nghiệm, máy sục khí, máy bơm nước, hệ thống lọc nước, các
dụng cụ đo môi trường nước.


hợp sau khi trộn chung dịch virus và hợp chất thuốc. Phương pháp này không sử dụng
dung dịch NaOH - SDS để ly trích DNA như thông thường. Ngoài ra các bước khác
tiến hành như một phản ứng PCR bình thường.
Sau khi chuẩn bị mẫu và chạy phản ứng PCR, tiến hành điện di trên gel
Agarose và đọc kết quả, nhận biết sự hiện diện của WSSV nhờ so sánh kích thước của
chúng với thang DNA chuẩn cùng với mẫu đối chứng dương và âm.

Trích đoạn Sàng lọc các hợp chất chiết xuất từ thảo dược
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status