Một số biện pháp chỉ đạo việc dậy học bồi dưỡng phân môn tập làm văn cho học sinh giỏi lớp 4 - Pdf 26

Một số biện pháp
chỉ đạo việc dạy học bồi dỡng phân môn tập làm văn cho
học sinh giỏi lớp 4 - 5
A. Đặt vấn đề:
I. Lời nói đầu:
Nh chúng ta đã biết: Trong bậc học Tiểu học , bốn kỹ năng quan trọng mà bộ môn
Tiếng Việt ( môn học cơ bản nhất của bậc Tiểu học) cần đạt đó là: Nghe - nói - đoc
- viết. Trong đó, kỹ năng viết là kỹ năng hết sức quan trọngvà khó rèn luyện cho
học sinh nhất. Để rèn kỹ năng viết cho học sinh , giáo viên phải dạy tốt các phân
môn nh: Tập đọc, Chính tả, Tập viết , Luyện từ và câu và Tập làm văn. Để viết đẹp
và viết đúng ngời thầy phải chú trọng và rèn kỹ năng cho học sinh khi dạy Tập viết
và Chính tả. Còn muốn dạy cho học sinh viết đúng và hay thì chúng ta phải đặc biệt
chú trọng đến việc dạy tốt phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu và Tập làm văn.
Trong các phân môn này, thực tế nhiều giáo viên cho rằng: Tập làm văn là khó dạy
nhất vì đòi hỏi học sinh phải có năng khiếu mới viết văn hay đợc. Nội dung bồi d-
ỡng làm văn nhằm trau dồi vốn sống, vốn văn chơng, nâng cao năng lực cảm nhận
và diễn tả ở học sinh , học sinh luyện viết văn theo kiểu bài đã học. Các kiểu bài cơ
bản ở tiểu học là: Kể chuyện, miêu tả, viết th. Trong các lần kiểm tra định kỳ, hay
các đề thi học sinh giỏi nhiều năm đã tổ chức( hay đề hớng dẫn giao lu Toán tuổi
thơ) cấp Huyện - cấp Tỉnh thì Tập làm văn luôn dành một số điểm cao hơn. Song số
học sinh đạt điểm giỏi bài văn viết còn ít.
Tuy nhiên, từ kinh nghiệm thực tế của bản thân tôi là giáo viên dạy văn hoá đã
nhiều năm. Một số năm cũng đã đảm nhận việc dạy bồi dỡng môn Tiếng Việt cho
học sinh lớp 4 - 5. Thì việc dạy Tập làm văn cũng không quá khó hay chỉ học sinh
có năng khiếu văn mới viết hay đợc, mà chúng ta có thể rèn luyện đợc nếu nh có
biện pháp và cách thức dạy phù hợp.
Sau khi đảm nhận chức vụ Phó hiệu trởng Trờng Tiểu học Thống Nhất phụ trách
chuyên môn , đặc biệt đợc nhà trờng giao nhiệm vụ phụ trách mảng bồi dỡng học
1
sinh giỏi, tôi đã dùng những kinh nghiệm trong thực tế giảng dạy của mình đã
nghiên cứu và đúc rút đợc để chỉ đạo giáo viên dạy bồi dỡng học sinh giỏi cách dạy

thuộc vào dàn ý sẵn có của giáo viên, hoặc bài mẫu của giáo viên,thiếu nét riêng,
thiếu sự hồn nhiên trong sáng của trẻ thơ, ít cảm xúc và cha vận dụng tốt các ngữ
liệu mẫu trong sách giáo khoa để thực hành.
Việc đọc đề bài và xác định yêu cầu của đề bài các em cha chú trọng nên bài làm
của các em cha đúng yêu cầu trọng tâm diễn đạt mang tính liệt kê, lủng củng,
không có sự vận dụng từ việc cảm thụ bài Tập đọc hay các bài tập rèn kỹ năng của
Luyện từ và câu vào bài viết Vì vậy kết quả làm văn của các em còn hạn chế cha
đạt yêu cầu nh mong muốn của thầy cô.
Kết quả khảo sát đầu năm (Tháng 10 năm 2008 ): học sinh đạt giỏi phân môn
Tập làm văn lớp 4- 5 là: 4/28
Từ thực trang dạy và học phân môn Tập làm văn của giáo viên và học sinh nh đã
nêu ở trên, tôi mạnh dạn đa ra một số biện pháp chỉ đạo giúp giáo viên dạy bồi dỡng
nâng cao chất lợng học tập phân môn Tập làm văn ở lớp 4- 5.
B.Giải quyết vấn đề
I/Các giải pháp thực hiện:
1.Dự giờ, kiểm tra đánh giá các tiết học bồi dỡng môn Tiếng Việt,đặc biệt là phân
môn Tập làm văn
2.Xây dựng một số đề Tập làm văn để kiểm tra khảo sát học sinh.
3.Nghiên cứu các tài liệu về môn Tiếng Việt có liên quan đến môn Tập làm văn ,
một số chuyên san Tiếng Việt (Nh Văn học tuổi trẻ, )và tài liệu phơng pháp dạy
học Tiếng Việt ở tiểu học.
4.Tìm biện pháp chỉ đạo việc dạy học bồi dỡng phân môn Tập làm văn cho học sinh
lớp 4-5 vận dụng trong thực tế dạy học.
II/Các biện pháp tổ chức thực hiện:
Để nâng cao chất lợng trong việc bồi dỡng học sinh học phân môn Tập làm
văn,tôi đã vận dụng một số biện pháp chỉ đạo sau đây:
1.Dựa vào các bài thơ để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng làm văn kể chuyện.
3
ở Tiểu học,Văn kể chuyện đợc giảng dạy từ lớp 3 nhng trọng tâm của thể loại này
đợc học ở lớp 4 . Kiểu bài văn kể chuyện đợc xây dựng với những đề bài cụ thể và

Bài tập1 : Đêm khuya vắng vẻ , những vì sao trên trời dần dần ẩn khuất , bóng đêm
bao trùm khắp nơi . Gần về sáng , không khí bắt đầu ngột ngạt .Rồi những tiếng rì
rào bắt đầu mạnh dần , to dần.
Gió ù ù thổi qua mái nhà , gió vít những cành cây , gió làm va đập , cành cây gãy
răng rắc , tiếng cánh chim đập cửa phành phạch . Cơn bão đã thật sự đổ bộ về.
Bầi tập2: Em Mạnh Linh viết:
Chiếc tổ chim trong ống tre đầu nhà chiều nay còn ấm cúng , chim mẹ đang ấp ủ
những quả trứng . Bão về , gió xoáy thẳng vào mái nhà . Chim mẹ giật mình dáo
dác bay tìm nơi trú ẩn . Nó bay ra khỏi tổ giữa màn đêm dày đặc và những trận gió
gào thét điên cuồng . Rồi nh loé lên niềm hi vọng , chim mẹ lao đầu vào cánh cửa
một ngôi nhà . Cánh cửa vẫn đóng chặt , con chim mẹ vẫn không mất niềm hi
vọng,cứ cố sức chấp chới đôi cánh rã rời vỗ vào cánh cửa , mong ai đó mở cửa ra
cho nó tránh bão qua đêm . Cửa vẫn không mở,không chống đỡ nổi cái dữ dội của
cơn bão , nó đã chết lạnh ngắt ngay trớc cửa nhà , để lại những quả trứng trong tổ
mãi mãi không nở thành những chú chim non.
Bài tập3: Em Mỹ Duyên viết:
Sáng mai thức dậy , nhìn thấy chim mẹ đã chết ngay trớc cửa những quả trứng
trong tổ bơ vơ nằm đó , tác giả không khỏi day dứt , băn khoăn . Đêm bão ấy , rõ
ràng tác giả nằm trong chăn nghe tiếng chim mẹ đập cửa , nhng sự ấm áp của
chăn gối đã giữ chặt tác giả ở trong nhà , không dậy mở cửa cho chim mẹ tránh
bão ,
Sau các bài tập nhỏ trên , giáo viên mới yêu cầu học sinh về làm cả bài . Có nh thế
các em mới áp dụng đợc những kỹ năng đã học vào bài làm văn viết .
Ví dụ 2 : Dựa vào bài thơ Qua Thậm Thình của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi , em hãy
kể lại câu chuyện nhằm giải thích nguyên nhân sinh ra tên gọi của làng.
5
Nội dung bài thơ , đó là :
Qua Thậm Thình
Đi qua xóm núi Thậm Thình
Bâng khuâng nhớ nớc non mình nghìn năm

nh sau :
a) Kể lại chuyện đã nghe , đã học bằng cách mợn lời nhân vật.
Ví dụ : Em hãy mợn lời nhân vật vua Mi-đát kể lại câu chuyện : Điều ớc của Vua
Mi-đát .
b) Dựa vào cốt chuyện có sẵn để kể lại câu chuyện theo trí tởng tợng của em .
Ví dụ : Một chú ong mải mê hút nhuỵ hoa , không hay biết trời đang sập tối , ong
không về nhà đợc . Sáng hôm sau khi trở về gặp các bạn , ong đã kể lại câu chuyện
nó xa nhà trong đêm qua . em hãy tởng tợng và kể lại câu chuyện của chú ong xa
nhà đó .
c) Tởng tợng để viết tiếp đoạn văn thành câu chuyện hoàn chỉnh .
( Giáo viên ghi đoạn chuyện còn thiếu , cho học sinh tởng tợng và viết thêm . đoạn
viết thêm có thể là phần đầu , phần diễn biến hoặc phần kết thúc) .
d) Dựa vào ý nghĩa của một câu chuyện để kể lại chuyện theo trí tởng tợng của em
Sau khi đựơc luyện tập theo sự hớng dẫn nh trên thì học sinh làm bài có nhiều tiến
bộ hơn .
Ví dụ với đề bài :
Một chú ong mải mê hút nhuỵ hoa , không hay biết trời đang sập tối , ong không
về nhà đợc . Sáng hôm sau khi trở về gặp các bạn , ong đã kể lại câu chuyện nó xa
nhà trong đêm qua . Em hãy tởng tợng và kể lại câu chuyện của chú ong xa nhà đó .
Học sinh đã làm bài có nhiều sáng tạo và đạt kết quả tốt nh em Thạch Thảo , em
Trang , em Hà , em Huyền lớp 4.
3) Dựa vào nội dung của cốt chuyện hoặc dàn ý của bài văn kể chuyện để tả
ngoại hình , tả nội tâm , tả hoạt động của nhân vật .
7
Đối với văn kể chuyện , xây dựng cốt chuyện , dàn bài là quan trọng nhng nếu học
sinh không biết vận dụng các yêu cầu về tả ngoại hình , tả nội tâm , tả hoạt động ,
vào kể chuyện thì câu chuyện sẽ không sinh động hấp dẫn mà chỉ là liệt kê các ý
chính . Vì vậy , giáo viên phải hớng dẫn học sinh thật kĩ : Khi nào phải tả ngoại
hình , khi nào phải tả nội tâm , khi nào phải thể hiện hành động ngôn ngữ
Thông thờng các cách tả này xen với kể sẽ hiệu quả và gây đợc sự chú ý cho ngời

Khi hớng dẫn học sinh làm đến phần thân bài , giáo viên có thể nêu hai câu chủ đề
nh sau và yêu cầu học sinh phát triển thành hai đoạn văn tả cảnh :
a) Buổi sáng , vờn hoa rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hơng thơm .
b) Vờn hoa nhộn nhịp , tơi vui với biết bao ong bớm rập rờn và tiếng chim ca hát .
Ví dụ 2: Với kiểu bài tả đồ vật :
Hãy tả một đồ dùng học tập mà em yêu thích .
Trong phần thân bài giáo viên có thể nêu hai câu chủ đề nh sau và yêu cầu học sinh
phát triển thành hai đoạn văn tả đồ vật .
a) Cái cặp của em mới đẹp làm sao!
b) Cặp của em đã đẹp lại còn tiện lợi biết bao!
Ví dụ 3 : ở kiểu bài tả ngời với đề bài cụ thể là :
Hãy tả ngời mà em yêu quý nhất .
Trong phần thân bài giáo viên có thể nêu các câu chủ đề ( tả mẹ ) nh sau và yêu
cầu học sinh phát triển thành các đoạn văn tả ngời .
a) Mẹ em không đẹp nhng rất dễ nhìn .
b) Chẳng có ai vừa giỏi giang lại vừa thông minh nh mẹ của em .
c) Mẹ yêu em không sao kể hết .
Sau khi đợc giáo viên hớng dẫn nh trên , qua kiểm tra tôi thấy học sinh làm bài văn
có nhiều tiến bộ và sáng tạo hơn , bài văn sinh động giàu cảm xúc hơn .
Ví dụ : Với đề bài :
Em hãy tả vẻ đẹp của vờn hoa trong một buổi sáng mùa xuân.
Với hai câu chủ đề nh đã nêu trên , có học sinh đã viết đợc :
Đoạn 1 : Buổi sáng , vờn hoa rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hơng thơm .
9
Những bông hồng nhung đỏ thắm , chúm chím nh còn e lệ với những giọt sơng
long lanh ánh bạc đọng trên những cánh hoa . Hoa cúc vàng rực rỡ đón chào một
ngày mới . Hoa đồng tiền đơn , đồng tiền kép nô nức khoe màu đỏ, vàng, hồng , tím.
Rồi thợc dợc, loa kèn, lu li, cúc áo rung rinh theo gió , đua nhau khoe sắc toả h-
ơng . Ong bớm rập rờn , vờn hoa ngào ngạt hơng sắc mùa xuân.
Đoạn 2 : Vờn hoa nhộn nhịp , tơi vui với biết bao ong bớm rập rờn và tiếng chim

vàng của quả chín , gợi cảm giác rất ngọt(vàng lịm) , có màu vàng rất đậm , rải đều
trên mặt của lá mít , lá chuối(vàng ối) ; có màu vàng sáng của tàu đu đủ ,lá sắn
héo(vàng tơi) ; có màu vàng gợi cảm mọng nớc(vàng xọng) ; có màu vàngcủa rơm ,
thóc đợc phơi già nắng tạo cảm giác giòn đều đến có thể gãy ra(vàng giòn); rồi đến
màu vàng gợi tả những con vật béo tốt có bộ lông óng ả , mợt mà(vàng mợt) ; và
cả những màu vàng rất lạ , không thể chỉ nhìn bằng mắt mà phải nhìn bằng tâm hồn
(vàng hơn thờng khi , vàng nh những vạt áo nắng , vàng trù phú đầm ấm )
Từ đó giáo viên có thể vận dụng ra đề văn cho học sinh làm : Hãy viết một doạn văn
tả cảnh mà em yêu thích.
Qua theo dõi và kiểm tra kết quả vận dụng của giáo viên vào thực tế dạy học bồi d-
ỡng , học sinh đã biết vận dụng và viết đợc một số bài văn hay trong đó có sử dụng
nghệ thuật dùng từ đồng nghĩa để tả.
6.Làm tốt một số công việc để giúp học sinh xác định đúng yêu cầu của đề bài ,
có vốn từ và biết cách diễn đạt trong làm văn.
Với bất kì thể loại văn nào, giáo viên cũng phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng xác
định yêu cầu đề bài . Với các dạng đề bài không mở rộng , giáo viên chỉ cần hớng
dẫn học sinh chú ý vào câu lệnh . Nhng với các để bài mở rộng , phần gợi mở tơng
đối quan trọng , giáo viên phải cho học sinh đọc kĩ đề gạch chân các dữ liệu cần
thiết để tập trung chú ý.
Ví dụ : Hãy tả vẻ đẹp của một vờn hoa mà em có dịp thấy.
ở bài này, học sinh có thể chọn tả bất kì điểm nào để thể hiện vẻ đẹp của vờn
hoa .Nhng nếu đề bài sửa lại mở rộng hơn , ví dụ nh:
11
Vờn hoa gần nhà em , vào buổi sáng mùa xuân rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hơng
thơm . Hãy tả lại vẻ đẹp của vờn hoa ấy.
Với đề bài này thì nội dung bài làm của các em phải tập trung vào các ý chính để
tả : rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hơng thơm.
Để học sinh có vốn từ sử dụng tốt trong văn miêu tả , giáo viên phải yêu cầu học
sinh sử dụng sổ tay văn học , ghi chép những đoạn văn hay, những ý văn thơ độc
đáo để làm t liệu và không quên ghi chép những từ ngữ miêu tả , gợi tả hợp lí với

giao lu Toán Tuổi Thơ cấp tỉnh của huyện . (Môn Tiếng Việt của em đợc đánh giá
tốt).
2.Bài học kinh nghiệm:
Trong công tác chỉ đạo chuyên môn , về mảng kiến thức phân môn Tập Làm Văn ,
tôi rút ra đợc bài học kinh nghiệm sau đây:
- Trong quá trình giảng dạy, đối với giáo viên phải tập trung nghiên cứu chuyên sâu
nội dung bài dạy.
- Ngời quản lí công tác chuyên môn phải nắm bắt chắc chắn yêu cầu cơ bản của
môn học và có hệ thống kiến thức về môn học để kịp thời chỉ đạo và chỉ đạo sâu sát
để giáo viên thực hiện .
-Kết hợp giữa chỉ đạo và kiểm tra đánh giá quá trình dạy học bồi dỡng của giáo viên
để kịp thời phát hiện những hạn chế hoặc bổ sung uốn nắn những hạn chế trong
công tác giảng dạy của giáo viên.
-Luôn yêu cầu giáo viên rèn kĩ năng nói cùng với kĩ năng viết cho học sinhvà tiến
hành đồng thời hai hoạt động : nói trớc , viết sau. Khi học sinh nói , cả lớp nghe và
nhận xét bổ sung cho bạn , nghĩa là các em đã đợc học một lần sau đó viết lại là học
lần thứ hai . Cách dạy này sẽ củng cố kĩ năng một cách có hiệu quả nhất đặc biệt là
đối với việc dạy phân môn Tập Làm Văn.
- Khi dạy học giáo viên phải luôn đa ra các đề bài , các tình huống mang đậm tính
nhân văn để học sinh đợc nâng cao tâm hồn , bồi dỡng cho học sinh nền tảng đạo
đức thông qua bài học , hớng các em đến với chân , thiện , mĩ .
3) Đề xuất kiến nghị :
13
Đối với BGH nhà trờng : Cần chú trọng đến việc nâng cao trình độ chuyên môn
cho đội ngũ giáo viên bồi dỡng học sinh giỏi . Khuýến khích giáo viên tự học , tự
rèn .
Đối với Phòng Giáo Dục : Hàng năm nên tổ chức hội thảo chuyên đề về công tác
bồi dỡng học sinh giỏi cho giáo viên các trờng trong huyện nhằm giao lu học hỏi
kinh nghiệm để nâng cao chất lợng học sinh giỏi của bậc Tiểu học trong huyện đáp
ứng những yêu cầu mới trong giáo dục hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status