DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
THPT
Trung học phổ thông
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa; Hiện đại hóa
TD TT
Thể dục thể thao
THCS
Trung học cơ sở
PHHS
Phụ huynh học sinh
HSG
Học sinh giỏi
QG
Quốc gia
1
3
4.1.3. Thời gian ôn luyện……..………………………………………...
3
4.1.4. Chính sách khuyến khích giáo viên và học sinh………………...
4
4.2. Giải pháp mới cải tiến……………………….…………………………
5
4.2.1. Cơ sở lí luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tì m
giải pháp mới và cải tiến giải pháp cũ…………………………...
5
4.2.2. Cách thức tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp, tính mới của giải
pháp……….………………………………………………………………..
7
4.2.3. Nội dung giải pháp mới…………..………………………………
7
4.2.3.1. Xây dựng nguồn nhân lực………………………………………
2
6.1. Điều kiện áp dụng………………………………………………...........
18
6.2. Khả năng áp dụng………………………………………………………
19
PHỤ LỤC…………………………………………………………………..
SÁNG KIẾN
ĐỔI MỚI QUẢN LÍ GIÁO DỤC
I. Cơ sở công nhận sáng kiến:
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình
II. Tác giả sáng kiến:
Họ và tên: Lê Thị Lan Anh
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Học vị: Thạc sĩ Quản lí giáo dục
Địa chỉ: Trường THPT Kim Sơn A, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Email: [email protected]
Số điện thoại: 0972680376
III.Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng:
3.1. Tên sáng kiến:
“Một số biện pháp chỉ đạo trong công tác bồi dưỡng Học sinh giỏi ở trường
THPT Kim Sơn A, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”.
3.2. Lĩnh vực áp dụng:
4.1.1. Lựa chọn đối tượng ôn luyện:
4
Đối tượng học sinh trong các đội tuyển học sinh giỏi được lựa chọn là những
em nổi trội nhất ở các môn trong toàn khối lớp. Sau đó học sinh làm việc cùng các
giáo viên được phân công ôn luyện.
* Ưu điểm:
- Vẫn chọn được cơ bản đúng đối tượng mong muốn cho từng môn học.
* Tồn tại:
- Học sinh lựa chọn chưa được trải qua các kỳ thi sát hạch, các kì thi định hướng
của nhà trường(ví dụ như kì thi học sinh giỏi cấp trường…), hoàn toàn phụ thuộc
vào tính chủ quan của người tuyển chọn, nên không thể tránh khỏi đôi lúc có tính
cục bộ.
- Do các em bản thân ở rải rác các lớp trong toàn khối, nên kiến thức nền tảng trang
bị cho các em ở mỗi lớp với mỗi thầy giáo, cô giáo dạy sẽ khác nhau về cách tiếp
cận, điều này sẽ khó cho giáo viên ôn luyện khi là m việc với các em, vì phải mất
một khoảng thời gian không nhỏ để tìm hiểu từng học sinh một, sau đó mới ra được
phương pháp làm việc chung.
4.1.2. Phân công giáo viên ôn luyện:
Đội ngũ giáo viên ôn luyện các đội tuyển học sinh giỏi là những giáo viên giỏi
có nhiều năm kinh nghiệm dạy học và thường chỉ cố định cho một nhóm giáo viên
đó ở các năm mà không có sự thay đổi.
* Ưu điểm:
- Các thầy giáo, cô giáo dạy các đội tuyển đều là những giáo viên giỏi có kinh
nghiệm dạy học và ôn luyện.
- Giáo viên dạy kế thừa được kinh nghiệm và tài liệu ôn luyện của những năm
trước.
* Tồn tại:
lệch về các môn khoa học tự nhiên).
6
- Không kích thích được trách nhiệm của giáo viên trong vấn đề ôn luyện phải ra
được hiệu quả(tức là không có mục đích ôn luyện thì phải cố gắng hết sức để có
giải). Bởi vì, nếu chỉ chi trả thù lao dạy cho giáo viên dựa trên số tiết giáo viên dạy
được qua bảng chấm công thì nhà quản lí mới giám sát được giáo viên dạy về mặt
chuyên cần mà chưa giám sát và khích lệ thường xuyên về chất lượng của từng tiết
dạy đó.
Trên đây là những giải pháp cơ bản nhất trong công tác chỉ đạo bồi dưỡng học
sinh giỏi ở trường THPT Kim Sơn A những năm trước đây. Mỗi một giải pháp tuy
nó đều chứa đựng những ưu việt chúng ta cần phải quan tâ m để kế thừa, nhưng
cũng phải nhìn nhận thực tế những tồn tại của từng giải pháp làm kìm hãm và
không phát huy được hết năng lực của đội ngũ giáo viên cốt cán, cũng như chưa
khích lệ học sinh tham gia các đội tuyển. Từ đó dẫn đến hiệu quả của phong trào ôn
luyện chưa xứng tầm với bề dày lịch sử của nhà trường.
4.2. Giải pháp mới cải tiến:
4.2.1. Cơ sở lí luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu,
tìm giải pháp mới và cải tiến giải pháp cũ
Dân tộc Việt Na m vốn có truyền thống “tôn sư trọng đạo”. Truyền thống ấy
xuất phát từ truyền thống hiếu học có từ lâu đời. Bởi ngàn xưa, ông cha chúng ta đã
thấy rõ tầm quan trọng của sự học. Học để thành tài, để vinh hiển dòng họ và để
giúp ích đất nước. Ngày nay, dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng, Giáo dục và
Đào tạo được xe m là “quốc sách hàng đầu”. Việc “nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài” càng được quan tâm đúng mức. Đây là một trong những
nhiệ m vụ cơ bản của Đảng về định hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong thời
kì đổi mới.
Nước ta đang trong giai đoạn CNH, HĐH, nên rất cần một lực lượng tri thức và
chất xá m lớn. Tại đại hội Đảng lần thứ XI đã xác định chiến lược phát triển kinh tế
- Thi Violympic Toán trên Internet;
8
- Thi học sinh giỏi giải Toán trên máy tính cầm tay;
- Thi Violympic Tiếng Anh trên Internet;
- Hội thi TDTT, Giáo dục quốc phòng;
- Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn…
Như vậy, chúng ta có thể thấy với công việc giảng dạy và học tập của học sinh theo
quy định chương trình đã lấy đi công sức và thời gian không ít của thầy và trò,
cộng với việc ôn luyện và tham gia các kì thi nói trên với mục tiêu phải đe m lại
hiệu quả đã trở thành một “bài toán khó” trong công tác chỉ đạo, quản lí cho lãnh
đạo các nhà trường. Vì lẽ đó, trong 5 năm vừa qua kế thừa, cải tiến, sáng tạo và áp
dụng một số giải pháp sau tại trường THPT Kim Sơn A, tôi thấy rõ được tính ưu
việt của nó đã đem lại hiệu quả lớn trong công tác chỉ đạo.
4.2.2. Cách thức tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp, tính mới của giải
pháp
4.2.2.1 Cách thức tiến hành:
- Kế thừa những ưu điể m của giải pháp cũ, tiếp cận với các kinh nghiệ m tốt đã
có trong thực tế.
- Vận dụng chỉ đạo tại trường THPT Kim Sơn A.
- Thông qua kết quả trong phong trào học sinh giỏi của nhà trường theo từng
năm, tiến hành rút kinh nghiệm, điều chỉnh bổ sung để thực hiện cho năm tới
4.2.2.2 Thời gian tạo ra các giải pháp:
Từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 -2015
4.2.2.3 Tính mới của giải pháp:
- Căn cứ vào kết quả phân hóa đối tượng học sinh để phân công giảng dạy phù
hợp với việc phân công giáo viên ôn luyện các đội tuyển;
- Quy trình lựa chọn, thành lập đội tuyển;
- Quá trình ôn luyện, bồi dưỡng học sinh;
+ Nguyện vọng của học sinh: Thông qua sở thích và năng lực học sinh;
10
+ Điều kiện để được dự thi của nhà trường( Phụ lục 1)
Bước 2: Kết quả của kì thi là một kênh thông tin quan trọng cho các thầy giáo, cô
giáo dạy học sinh lựa chọn, định hướng, bồi dưỡng học sinh hàng ngày trên lớp qua
những nội dung nâng cao của bài giảng. Đây là lực lượng nòng cốt để chúng ta bồi
dưỡng thường xuyên trên lớp và khảo sát loại dần ở từng giai đoạn cho đến giai
đoạn cuối cùng ra đội tuyển chính thức.
- Nuôi dưỡng đội ngũ học sinh lựa chọn: Đây là giải pháp quan trọng, bởi
không thể có ngay được một đội tuyển học sinh giỏi mà ta không bồi dưỡng các em
thường xuyên. Khi đã tuyển chọn rồi thì chúng ta phải cố gắng giữ lực lượng ổn
định về mặt kiến thức, cũng như tư tưởng của học sinh và thậm trí là cả phụ huynh
học sinh nữa(sở dĩ tôi nói như thế là vì, hiện nay học sinh của chúng ta có xu hướng
tập chung học để cố gắng thi đỗ vào trường đại học mình dự định và các em nghĩ
việc vào một đội tuyển học sinh giỏi rất dễ bị ảnh hưởng đến mục đích chung của
mình và ngay chính bố mẹ các em cũng cùng chung suy nghĩ, nên thực tế có những
lúc giáo viên của chúng ta vừa ôn luyện kiến thức cho các em vừa phải là m công
tác cho cả học sinh và phụ huynh học sinh để cho các em yên tâm ôn luyện). Vì
vậy, nhà trường cần phải có biện pháp nuôi dưỡng thật tốt để cho các em và cha mẹ
các em nhận thức rõ, được vào các đội tuyển học sinh giỏi của nhà trường là niềm
vinh dự, tự hào của các em và gia đình các em; các em cũng phải hiểu rõ được trách
nhiệ m của mình là cần phải đóng góp công sức để cùng các thầy giáo, cô giáo trong
trường xây dựng thương hiệu nhà trường. Cụ thể:
+ Khi ở trong đội tuyển học sinh giỏi thì về mặt kiến thức môn học đó các em được
các thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để nghiên cứu sâu, rộng hơn các bạn khác, và cơ hộ i
thi các môn học này ở các kì thi được điể m tối đa là cao;
+ Vào đội tuyển các em phải tập trung sâu, nên một số công việc khác như lao
động, trực nhật được ưu ái hơn so với các bạn;
và đi vào luyện dạng đề thi.
12
+ Đẩy mạnh hoạt động tổ chuyên môn như thường xuyên tổ chức các hoạt động hội
giảng, báo cáo chuyên đề nhằm nâng cao trình độ cho giáo viên, khuyến khích giáo
viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học, tích cực tự học, tự rèn luyện, tự đúc rút
kinh nghiệ m để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm nhằ m phát huy
tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh. Đây là giải pháp nhằ m tránh tính cục bộ
của cá nhân giáo viên(sự cục bộ sẽ giúp kìm hãm sự phát triển của giáo viên, dẫn
đến kìm hãm sự phát triển của nhóm chuyên môn). Giải pháp này sẽ giúp tất cả
giáo viên phải cố gắng, phải lao động và tất cả giáo viên có cơ hội như nhau để thử
sức vào các nhóm đối tượng học sinh khác nhau, cũng như cơ hội để tha m gia ôn
luyện các đội tuyển.
+ Thường xuyên tổ chức kiểm tra kiến thức chuyên môn của tất cả giáo viên trong
tổ, từ đó tạo động lực cho giáo viên có hướng tự học, tự nghiên cứu, đồng thời
thông qua hoạt động này giúp cho các tổ chuyên môn tạo nguồn để dự thi giáo viên
có giờ dạy giỏi các cấp và là cơ sở để giao nhiệ m vụ ôn luyên đội tuyển.
Như chúng ta đã biết, đối với những giáo viên được phân công giảng dạy, ôn
luyện học sinh giỏi thì mất rất nhiều thời gian và trí tuệ. Chính vì vậy, nhà trường
phải thường xuyên khơi dậy niề m tự hào của giáo viên khi được nhận trách nhiệm
dạy ôn luyên đội tuyển và xác định đây là nhiệ m vụ vô cùng quan trọng vì kết quả
của nó sẽ phản ánh vị thế của nhà trường so với các trường bạn, phản ánh uy tín
của giáo viên trong nhà trường, trong phụ huynh học sinh. Tuy vậy đối với giáo
viên thì chất lượng giáo dục và kết quả học sinh giỏi các cấp là thước đo chính xác
nhất để đánh giá năng lực của giáo viên. Từ đó tạo cho mỗi giáo viên được phân
công giảng dạy bồi dưỡng có sự đam mê, đầu tư hết sức vào công việc để đem lại
hiệu quả cao nhất. Việc phân công giáo viên từng bộ môn, từng khối phải có kế
hoạch sớm từ những năm đầu để ổn định và chuyên sâu. Nhà trường nên phân công
giáo viên cố định việc dạy bồi dưỡng theo khối để tích lũy kinh nghiệm, sau đó thì
có cơ sở tìm nguồn và định hướng sớm cho học sinh.
14
- Trong giai đoạn ôn luyện “cấp tốc” Ban giá m hiệu nhà trường thường xuyên cập
nhật thông tin để có biện pháp điều chỉnh kịp thời:
+ Đối với giáo viên ôn luyện: Cần tìm hiểu xe m họ gặp khó khăn gì và mong muố n
gì để tạo điều kiện thuận lợi cho thầy giáo, cô giáo tập trung sâu vào là m việc.
+ Đối với học sinh: Thông qua giáo viên chủ nhiệ m và qua trao đổi trực tiếp với
học sinh để thăm dò ý kiến, nguyện vọng của các em, cùng với những khó khăn các
em đang gặp phải để giúp các em vượt qua.
+ Đối với phụ huynh học sinh: Thông qua hội nghị PHHS tuyên truyền sâu rộng để
cha mẹ hiểu rằng khi các em được vào đội tuyển và đạt được thành tích ở một môn
nào đó cũng đều quan trọng vì đó là một trong những yếu tố định hướng cho con
em họ sau này.
c) Về công tác tài chính
Phát huy quyền tự chủ về mặt tài chính và phải thấy rõ được tầm quan trọng của
phong trào học sinh giỏi trong nhà trường để trong quá trình xây dựng quy chế chi
tiêu nội bộ cần chú trọng:
- Mức chi cho công tác ôn luyện của giáo viên.
- Mức khen thưởng cho giáo viên và học sinh khi có giải để ghi nhận thành tích của
thầy và trò.
- Huy động thêm nguồn lực từ PHHS, các tổ chức khác để khen thưởng cho học
sinh và giáo viên
(Phụ lục 2)
4.2.3.3. Xây dựng chính sách khích lệ giáo viên và học sinh:
a) Đối với học sinh:
Khi học sinh tha m gia trong đội tuyển học sinh giỏi các em được hưởng những
quyền lợi sau:
- Được tích lũy kiến thức sâu, rộng hơn;
16
- Thành lập trang webside của nhà trường, tổ chức viết bài, đăng bài về truyề n
thống nhà trường và những tấm gương học sinh giỏi, giáo viên có học sinh giỏi để
khích lệ và động viên cả thầy và trò.
Ý nghĩa của các giải pháp mới:
Với các trường THPT việc nâng cao chất lượng đại trà là một trong những
nhiệ m vụ trọng tâm, bên cạnh đó phong trào học sinh giỏi các cấp một mặt nó là
tiêu chí quyết định để cấp trên căn cứ xếp loại thi đua cho nhà trường, mặt khác
theo tôi đây cũng là tiêu chí để nhà trường khẳng định với nhân dân trong huyện về
chất lượng giáo dục – đào tạo. Chúng ta đều biết “sản phẩm” của ngành giáo dục là
tạo ra con người. Nếu “sản phẩm” đó ngày càng được nâng dần về chất lượng thì
đó là một nguồn nhân lực quan trọng và hữu ích cho xã hội. Chính vì vậy, mà
những năm gần đây các cấp quản lí giáo dục càng chú trọng hơn vào việc nâng dần
chất lượng giáo dục, đặc biệt là phong trào mũi nhọn như phong trào học sinh giỏi.
V. Hiệu quả kinh tế và xã hội dự kiến đạt được:
5.1. Hiệu quả kinh tế:
Khi áp dụng các giải pháp trên trong công tác quản lí nó đã thúc đẩy được
phong trào học sinh giỏi của trường THPT Kim Sơn A ngày một hiệu quả và kè m
theo đó là các hoạt động khác của nhà trường cũng mạnh lên. Một bài toán kinh tế
ta tính được, ví dụ như năm học 2013 -2014:
- Đối với tập thể trường THPT Kim Sơn A:
+ Nhận cờ xuất sắc trong phong trào học sinh giỏi được thưởng: 1.000.000đ
+ Nhận cờ xuất sắc của tỉnh được thưởng: 17.825.000đ
+ Nhận cờ của Thủ tướng chính phủ được thưởng: 28.175.000đ
- Đối với học sinh được giải: Tổng tiền thưởng là 98.000.000đ
- Đối với giáo viên có học sinh đạt giải: Tổng tiền giải thưởng là 77.250.000
25.920.000
2
Vật lí
9
1282
25.820.000
3
Hóa học
8
1282
25.800.000
4
Sinh học
3
1282
25.720.000
8
Tiếng Anh
10
1282
25.840.000
Tổng
59
10.265
206.480.000
Khi áp dụng các giải pháp nêu trên trong toàn tỉnh với số lượng 27 trường thì
lượng tiền mang lại còn lớn hơn nhiều.
5.2. Hiệu quả xã hội:
Khi chất lượng học sinh giỏi các cấp của nhà trường hàng nă m được nâng lên
và giữ vững thì sẽ kích thích niềm say mê học tập của tất cả học sinh trong toàn
trường. Từ đó giúp cho chất lượng đại trà sẽ được nâng lên và từng bước khẳng
định vị thế thương hiệu của nhà trường. Thật vậy, đối với trường THPT Kim Sơn A
sau 5 năm áp dụng các giải pháp trên, mặc dù kết quả từng nă m có sự thay đối về
18
Năm học
Số giải HSG tỉnh,QG
Xếp thứ tự trong tỉnh
1
2010 - 2011
33
2
2
2011 - 2012
47
2
3
2012 - 2013
82
1
2009 - 2010
517
516
99.81%
2
2010 - 2011
531
531
100%
3
2011 - 2012
505
505
100%
4
trong tỉnh
quốc gia
4
228/2700
- Kết quả thi Đại học, Cao đẳng:
STT
Năm học
1
2009 - 2010
Cao đẳng
61,2%
2
2010 - 2011
86,7%
3
155/2700
Từ kết quả trên, trường THPT Kim Sơn A hiện nay là “địa chỉ đỏ” trong sự
nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện Kim Sơn và của cả tỉnh Ninh Bình. Chính vì
thế mà quy mô phát triển của nhà trường luôn bền vững. Điều này thể hiện qua các
bảng thống kê dưới đây:
- Về quy mô và kế hoạch phát triển:
Số lớp
STT
Năm học
Công lập
Bán công
Số học
Số học
sinh đầu
sinh cuối
năm
năm
Kế hoạch
thực hiện
2012 - 2013
33
0
1371
1373
100,1%
4
2013-2014
33
0
1298
1301
100,1%
5
2014 -2015
99,34%
0,66%
20
3
2012 - 2013
99,4%
0,6%
4
2013-2014
99,69
0,31%
5
2014 -2015
99.59%
2
2011 - 2012
59,1%
39,6%
1,3%
0,0%
99,7%
3
2012 - 2013
60,2%
38,3
1,5%
0,0%
99,8%
4
trên,sự giúp đỡ của các tổ, nhóm chuyên môn để triển khai công việc kịp thời.
- Tạo được lòng tin đốivới nhân dân, đặc biệt là phụ huynh học sinh.
- Có chế độ động viên, khích lệ đội ngũ giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi và
những học sinh đạt học sinh giỏi các cấp.
- Xây dựng kế hoạch có tính khả thi, đặc biệt phải chú trọng công tác phân công
giảng dạy, ôn luyện, chế độ chi trả, chế độ khen thưởng và cần phải tạo được sự
đồng tâ m trong tập thể nhà trường.
- Hiệu trưởng phải tăng cường động viên, tạo điều kiện về vật chất và tinh thầ n
để kích thích lòng nhiệt tình, hăng say nghiên cứu của giáo viên. Chủ động gặp gỡ,
trao đổi, nắ m bắt những tâ m tư, nguyện vọng, những đề xuất, kiến nghị của giaso
viên, của học sinh bồi dưỡng để từ đó tìm giải pháp đáp ứng, đặc biệt quan tâ m đến
vấn đề tài liệu, điều kiện khai thác tài liệu phục vụ cho quá trình ôn luyện
21
- Giáo viên giỏi là lực lượng nòng cốt, trụ cột trong nhà trường, quyết định công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Do đó, cần phải quan tâ m, xây dựng đội ngũ nòng cốt
một cách liên tục và thường xuyên tạo mọi điều kiện để các giáo viên nâng cao
nghiệp vụ nghề nghiệp.
- Các môn chưa phải là thế mạnh của nhà trường thì chủ động phối hợp với các
trường bạn để học hỏi kinh nghiệ m nhằ m tiếp tục xây dựng đội ngũ vững vàng hơn.
- Khi chọn học sinh giỏi đội tuyển phải đảm bảo hai yếu tố: Yếu tố tâm lí thoải
mái giữa thầy và trò trên năng lực của học sinh và yếu tố học sinh phải yêu thích
môn học mà mình tham gia ôn luyện để dự thi.
- Làm tốt công tác động viên, khen thưởng những giáo viên và học sinh có
thành tích trong phong trào.
- Làm tốt công tác xã hội hóa nhằm khích lệ hơn nữa thầy và trò.
6.2. Khả năng áp dụng
Thực tế ngày càng khẳng định việc bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ quan
Lê Thị Lan Anh
23