Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn khối THPT thuộc địa bàn miền núi - Pdf 27

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. “Văn học là nhân học”, “Học văn là học làm người”, “Nghề dạy học là nghề
cao quý nhất”, “Thầy cô là kỹ sư tâm hồn”… Những ý kiến trên đem lại cho người
dạy văn, học văn bao nhiêu tự hào thì cũng đặt lên vai chúng ta bấy nhiêu đòi hỏi
về trách nhiệm. Dạy văn, học văn vốn đã không đơn giản, giờ đây trước cơn bùng
phát của công nghệ thông tin, trước cơn bão táp của văn hoá nghe nhìn thì vấn đề
càng trở nên khó khăn hơn.
Ngày nay, học sinh học văn (theo nghĩa là được gia đình định hướng học các
khối có môn Ngữ văn, hoặc bản thân chịu học, muốn học môn học này) đã hiếm,
học sinh yêu thích và học giỏi văn càng hiếm, hiếm hơn nữa là ở một số huyện
miền núi nghèo như Thường Xuân! Ấy vậy mà không phải khi nào có “của hiếm”
trong tay, người thầy, người cô dạy văn chúng ta cũng có thể phát huy tận độ tài
năng và tâm huyết để hỗ trợ, giúp các em thành những viên ngọc sáng!
1.2. Là giáo viên văn nhiều năm giảng dạy, được trực tiếp tham gia bồi dưỡng học
sinh giỏi (HSG) qua một số năm học, chúng tôi hiểu sự tự hào, niềm hạnh phúc
cũng như những khó khăn, vất vả, nhọc nhằn của công việc này. Tìm được học sinh
có tố chất rồi, người thầy phải nỗ lực tìm tòi, sáng tạo để nhân lên tình cảm của các
em với bộ môn, bồi dưỡng các em thành HSG thực thụ và được ghi nhận- Một áp
lực không hề nhỏ.
1.3. Phương pháp dạy học văn trong những năm gần đây đã trở thành vấn đề được
giới chuyên môn và xã hội quan tâm, vấn đề dạy thế nào để học sinh có hứng thú
và được phát huy trong những giờ văn, làm thế nào để nâng cao chất lượng đài trà,
làm thế nào để học sinh đạt kết quả tốt nghiệp cao…Công tác bồi dưỡng HSG cũng
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
đã được quan tâm, nhưng vẫn còn quá it, vấn đề bồi dưỡng HSG ở miền núi, vùng
đặc biệt khó khăn dường như vẫn còn rất nhiều khoảng trống.
1.4. Bồi dưỡng HSG là nhiệm vụ vinh quang và là trách nhiệm nặng nề. Đảm
nhiệm nhiệm vụ ấy chúng tôi có nhiều băn khoăn: từ chọn đồi tuyển, lên chương
trình, nội dung và phương pháp thực hiện… Bằng sự nỗ lực tìm tòi, học hỏi, trao

tích lũy kinh nghiệm, sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn để có thể đạt hiệu quả và
thuyết phục học sinh ,làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN- TÌNH HÌNH BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG THPT CẦM BÁ THƯỚC
1.2.1 Thuận lợi:
- Các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng tích cực tới đề tài:
+ Bản thân là giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu, tôi có
nhiều thời gian tìm tòi, đọc các tác phẩm văn học, tham khảo nhiều tài liệu, các
sách báo khác qua nhiều chương trình phổ thông khác nhau, từ cải cách qua phân
ban, từ chương trình chuẩn đến chương trình nâng cao suy ngẫm và chắt lọc về
chuyên môn, giúp ích cho việc dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.
+ Đam mê tích lũy được nhiều đề thi học sinh giỏi trong tỉnh, các đề học sinh giỏi
ở các tỉnh khác và đề thi học sinh giỏi olimpic khu vực và học sinh giỏi quốc
gia,.v.v có ghi chép và cập nhật thường xuyên.
+ Bản thân được tham gia các lớp tập huấn, các hội nghị về bồi dưỡng học sinh giỏi
ở nhiều cấp khác nhau; có năm được Sở Giáo dục và Đào tạo cử tham gia ra đề thi
học sinh giỏi vòng tỉnh. Nhiều năm tham gia bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi từ
đó rút ra được những kinh nghiệm cần thiết về kiến thức, phương pháp làm bài
áp dụng vào quá trình bồi dưỡng.
3
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
Yếu tố khách quan ảnh hưởng tích cực đến vấn đề liên quan đến đề tài:
+ Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) các môn văn hóa là một công tác mũi
nhọn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, tạo nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài
cho nhà trường nói riêng, cho ngành giáo dục tỉnh nhà nói chung. Các trường
THPT đã xác định rõ vai trò của công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi các
khối lớp nên đã đề ra kế hoạch và phân công cụ thể ngay từ đầu năm học.
+ Bản thân bộ môn Văn là một bộ môn quan trọng, có một vị trí đặc biệt trong
trường phổ thông, ảnh hưởng đến việc xếp loại học lực của học sinh. Môn Văn còn
là một bộ môn nghệ thuật, có sức hấp dẫn riêng nếu chúng ta biết khai thác để tạo

thành chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn và công tác kiêm nhiệm do đó cường độ làm
việc quá tải và việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng HSG cũng có phần bị hạn chế
(người thầy không có điều kiện đầu tư về chiều sâu trong giờ giảng, thời gian tập
trung bồi dưỡng cũng không nhiều- thường được tính là 10 buổi)
Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm
của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu.
Một số khó khăn khác đôi khi gặp phải là có giáo viên giỏi nhưng chưa thực sự
gắn bó với công tác bồi dưỡng HSG vì nhiều lý do khác nhau. Điều đó ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng BDHSG cũng như kết quả của công tác này.
+ Thời gian bồi dưỡng tập trung ngắn, kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng HSG
không nhiều
1.2.3. Sơ lược tình hình:
Trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm thì kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi
qua một số năm học như sau:
Từ 2000-2008 mỗi năm có đội tuyển là 10 em nhưng số lượng đạt giải không
nhiều, thường là giải khuyến khích cấp tỉnh.
Từ 2009- nay, ở những khoá học được áp dụng thực hiện đề tài mỗi năm đội
tuyển cũng có 10 em nhưng số lượng đạt giải và chất lượng giải có tăng lên đáng
5
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
kể. Kết quả có sự phát triển rõ rệt, học sinh chủ động và lạc quan khi tham gia vào
đội tuyển, học tập sôi nổi có hứng thú và tin tưởng vào kết quả khi làm bài. Chủ
động tích cực trong việc học tập, nghiên cứu trong sự giúp đỡ hướng dẫn của giáo
viên bồi dưỡng. Hàng năm, 10 em tham gia vào đội tuyển của trường đều đạt kết
quả rất khả quan. Đáng khích lệ hơn là số lượng học sinh giỏi cấp tỉnh tăng rất
nhiều so với trước đây và đặc biệt ở một ngôi trường vùng núi và chất lượng đầu
vào lớp 10 còn rất thấp lại có học sinh đạt giải nhì, giải ba.
CHƯƠNG 2
YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN THPT

trách nhiệm trong các bài làm văn theo quy định của chương trình và những bài
luyện tập, thực hành rèn luyện kỹ năng mà giáo viên hướng dẫn. Sự say mê sẽ giúp
các em chịu khó tìm tài liệu để mở mang kiến thức. Và quan trọng hơn là nó giúp
học sinh phát huy được trí tưởng tượng, sự liên tưởng để sống sâu sắc hơn với
những cái mình đã đọc, đã học.
HSG văn là những học sinh có những tư chất bẩm sinh, như tiếp thu nhanh,
có trí nhớ bền vững, có khả năng phát hiện vấn đề và có khả năng sáng tạo (có ý
tưởng mới trong bài làm).
HSG văn phải có vốn tri thức phong phú và hệ thống, thuộc nhiều thơ văn trong và
ngoài chương trình qua sự tìm đọc, tích luỹ; phải có sự hiểu biết càng nhiều càng
tốt về con người và xã hội.
Một trong những biểu hiện không thể thiếu và thường dễ phát hiện ở HSG văn là
rất giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề, trước cuộc sống. Biểu
hiện thường thấy ở những học sinh này là dễ vui nhưng cũng rất dễ buồn trước
những vấn đề đặt ra trong tác phẩm và nhất là do sự tác động qua lời giảng của giáo
viên. Thường thì đây là những học sinh sống rất tình cảm, thích gần gũi với thầy
7
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
cô, bạn bè và với mọi người, hay bộc lộ quan điểm tình cảm và chiều sâu nội tâm
của mình thông qua cách phát biểu trực tiếp hoặc gián tiếp qua các bài viết. Sự
nhạy cảm ở các em luôn gắn liền sự thông minh và đó là sự thông minh của cả khối
óc lẫn con tim.
HSG văn là những học sinh có vốn từ tiếng Việt khá dồi dào, biết sử dụng chính
xác chúng trong những trường hợp khác nhau. Thường những em HSG văn đều có
khả năng diễn đạt mượt mà, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, diễn đạt hàm súc và có
bản sắc riêng. Năng khiếu ở HSG văn thường đi kèm với các biểu hiện bên ngoài
như ánh mắt sáng, cách nói lưu loát, gãy gọn bởi ngôn ngữ diễn đạt là cái vỏ của
tư duy. Một học sinh hay nói lay, nói lặp, nói dài dòng mà lượng thông tin ít, khả
năng lựa chọn ngôn ngữ trong diễn đạt hạn chế quyết không thể là một học sinh
có tư duy trong sáng và có năng khiếu học văn. HSG văn thường là những học sinh

lệch lạc về môn Văn hoặc chán học Văn, cho dù đôi khi cái chán của học sinh bắt
nguồn từ Giáo viên dạy ở lớp.
+ Tìm hiểu hướng đi tương lai của các em, nhất là việc chọn khối thi vào trường
Đại học sau này. Không chọn những học sinh chỉ thi vào khối A, B mà chỉ chọn
những học sinh có nguyện vọng thi vào khối C, D
+ Trao đổi với các em được chọn về việc thành lập đội tuyển học sinh giỏi Văn để
các em biết, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tham gia đội tuyển để các
em có cái nhìn trước. Chỉ những em tự nguyện tham gia mới được đưa vào danh
sách đội tuyển chính thức của trường.
- Chốt danh sách đội tuyển của trường : Các tiêu chuẩn trên chú trọng đến chất
lượng của đội tuyển, không chú trọng số lượng, tuy nhiên để khích lệ cũng là tạo
điều kiện cho các em đội dự tuyển có thể chọn nhiều hơn. Danh sách đội tuyển
được lọc dần qua các kỳ thi HSG cấp trường. Danh sách đội tuyển chính thức sẽ
được chốt trước kì thi 1 tháng.
9
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
Như vậy, có thể nói kinh nghiệm trong việc tuyển chọn và thành lập đội tuyển
học sinh giỏi Văn của Trường là :
. Công việc không của riêng ai, mà là công việc chung của cả Tổ. Tất nhiên trong
đó Giáo viên bồi dưỡng đóng vai trò chủ yếu.
. Chỉ chọn những học sinh có đủ các tiêu chuẩn sau : viết chữ đẹp, văn viết khá, học
lực chung được xếp loại khá trở lên, có niềm đam mê với Văn học, có hướng đi thi
Đại học ở 2 khối C-D, tự nguyện tham gia đội tuyển.
2.2.2. Thời gian bồi dưỡng :
Sau khi có được đội tuyển, Giáo viên bồi dưỡng bắt tay ngay vào việc bồi
dưỡng học sinh giỏi. Thời gian bồi dưỡng được chia làm các giai đoạn :
- Giai đoạn khởi động - Giai đoạn khởi động sẽ chia hai chặng nhỏ:
+ Học kì II lớp 10, thời gian linh hoạt tùy theo thời khóa biểu học trên lớp của học
sinh. Số lượng buổi học và giờ học được Giáo viên và học sinh thỏa thuận sau mỗi
buổi học. Cố gắng ổn định được 1 buổi/ tuần (3 tiết x 15 tuần, 45 tiết)

phải bảo đảm ưu tiên cho thời gian bồi dưỡng học sinh giỏi.
2.2.3. Địa điểm bồi dưỡng:
Địa điểm bồi dưỡng không nhất thiết phải là trong lớp học. Nơi phù hợp nhất
là khung cảnh ngoài trời, nơi thoáng mát như dưới bóng cây sân trường, trong công
viên. Giáo viên nên linh hoạt thay đổi điểm bồi dưỡng để tạo sự hứng thú và thoải
mái cho học sinh.
2.2.4. Nội dung, chương trình và cách thức bồi dưỡng :
Biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi tiết cho từng
khối, lớp, về từng mảng kiến thức theo số tiết quy định nhất định và nhất thiết phải
bồi dưỡng theo quy trình từ thấp đến cao, từ dễ đến khó để các em HS bắt nhịp dần.
Xác định rõ trọng tâm kiến thức giảng dạy cho từng khối lớp để tránh trùng lặp.
Chương trình bồi dưỡng cần có sự liên thông trong suốt 3 năm liền (từ lớp 10 đến
lớp 12 )
11
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
Mỗi giáo viên bồi dưỡng và người tìm hiểu văn học đều có góc nhìn và cảm
nhận riêng. Vì lẽ đó, bên cạnh những cách thức bồi dưỡng đã trở thành truyền
thống, SKKN cũng đề xuất một số cách thức mới, hiệu quả cho công tác bồi dưỡng
HSG Văn.
Về nội dung, chương trình và cách thức bồi dưỡng, chúng tôi xin trình bày ở
chương III
CHƯƠNG 3
NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH VÀ CÁCH THỨC BỒI DƯỠNG
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN THPT
3.1 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ
Chúng tôi cho rằng việc dạy HSG phải luôn thực hiện được mục tiêu giáo dục-
đó là mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, về tư tưởng tình cảm. Quá trình bồi dưỡng
học sinh chúng ta đang chú trọng việc nâng cao kiến thức và kỹ năng, nghĩa là
hướng tới giúp học sinh phát huy năng lực văn học (tiếp nhận và tạo lập) cụ thể học

Tuy nhiên, điều đó vẫn còn nằm trong mong mỏi của giáo viên, học sinh và
trong khi chờ đợi một chương trình như thế, mỗi giáo viên trực tiếp tham gia bồi
dưỡng HSG cần tự nghiên cứu, học hỏi và dựa vào cơ sở thực tế để xây dựng một
chương trình cụ thể, phù hợp.
3.2.1. Về kiến thức
a. Kiến thức xã hội
Kiến thức xã hội rộng vô cùng, chính vì thế mà sẽ không một giáo viên nào
nên tham vọng sẽ cung cấp cho học sinh đủ kiến thức xã hội- dù chỉ là cơ bản.
13
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
Vậy chương trình nên giúp các em biết cấu trúc chung dàn ý của các dạng bài
nghị luận về một tưởng đạo lí, một hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề
xã hội trong tác phẩm văn học ( chưa học, đã học), biết cách triển khai ý, cách lập
luận và tìm các phương thức biểu đạt cho bài văn nghị luận xã hội.
Giáo viên có thể cung cấp các dẫn chứng trong thực tế, trong lịch sử để phục vụ tốt
cho bài viết của học sinh trong quá trình làm bài.
b. Kiến thức văn học
Bao gồm:
- Kiến thức tác phẩm
- Kiến thức văn học sử
- Kiến thức lí luận văn học
- Kiến thức văn hoá tổng hợp
* Kiến thức tác phẩm: Rất nhiều, trong đó bắt buộc HS cần nắm kiến thức sách
giáo khoa, ngoài ra cần phải mở rộng kiến thức ngoài SGK.
- Yêu cầu:
+ Chọn lọc : Tác phẩm đạt trình độ cổ điển
+ Hệ thống:
Theo văn học sử
Theo đề tài
+ Chính xác : Câu chữ và chi tiết

+ Một số vấn đề LLVH cơ bản
- Nắm được yêu cầu
+ Nội dung cơ bản của khái niệm/ vấn đề LLVH
+ Vai trò và ý nghĩa của khái niệm/ vấn đề LLVH ấy đối với người học/ người đọc
+ Vận dụng được trong tiếp nhận và tạo lập văn bản
* Một số vấn đề LLVH quan trọng
- Tác phẩm văn học: đặc trưng và cấu trúc
+ Đặc trưng : ngôn từ và lao động ngôn từ, tính đa nghĩa (polyphonie) và tính ổn
định (constant)
+ Cấu trúc: Nội dung và hình thức ( loại, thể…)
- Tiếp nhận và phân tích TPVH
+ Tiếp nhận và đọc-hiểu
+ Cảm nhận và phân tích
+ Những xu hướng cần tránh
- Các mối quan hệ trong văn học
+ Nội dung và hình thức, nhà văn- hiện thực cuộc sống và tác phẩm, dân tộc- cổ
điển và hiện đại, tâm và tài…
16
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
- Vai trò và tác dụng của văn học
- Phong cách văn học: tác phẩm, tác giả…
* Kiến thức văn hoá tổng hợp
- Nắm được vai trò của kiến thức văn hoá
+ Hiểu sâu hơn tác phẩm văn học ( tiếp nhận)
+ Viết bài văn tốt hơn ( tạo lập)
- Nắm được các nội dung cơ bản
+ Một số khái niệm cơ bản của các ngành nghệ thuật
+ Một số kiến thức cơ bản về lịch sử, địa lí, phong tục
+ Những hiểu biết về chính trị và đời sống xã hội
- Nắm được yêu cầu

hay không, học sinh vẫn phải vận dụng nhiều thao tác nghị luận khác nhau trong
một bài làm (Phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh ). Điều quan
trọng là xác định thao tác nào là chính, thao tác nào là bổ trợ. Nắm chắc yêu cầu
này, học sinh sẽ có cơ sở để xây dựng hệ thống luận điểm hợp lý và khoa học cho
bài viết. Thông thường, luận điểm chính của bài viết thường nằm ở những thao tác
chính. Đây cũng là trọng tâm của bài viết. Những thao tác hỗ trợ thường gắn với
những ý phụ, ý bổ sung, giúp cho nội dung bài viết hoàn chỉnh, trọn vẹn.
Trong bước này các em cũng xác định những kiến thức cần huy động và huy động
kiến thức để làm bài.
b. Rèn kĩ năng tìm ý, lập dàn ý
- Bước đầu tiên trong rèn kỹ năng lập dàn ý, học sinh phải lập dàn ý sơ lược
theo yêu cầu:
+ Đề xuất được hệ thống luận điểm sẽ triển khai trong bài viết;
+ Xác định mối quan hệ giữa các luận điểm, tầm quan trọng của mỗi luận điểm
trong việc thể hiện các yêu cầu của bài
+ Sắp xếp các luận điểm theo trình tự chặt chẽ, khoa học.
18
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
- Để giúp học sinh thực hiện được yêu cầu trên, Gv cần hướng dẫn các em đặt
hệ thống câu hỏi và tự trả lời:
+ Câu hỏi tìm luận điểm: Yêu cầu trọng tâm của đề là gì? Vấn đề cần giải quyết có
thể triển khai ở những khía cạnh, phương diện nào?
+ Câu hỏi xác định quan hệ và vai trò của luận điểm: Những khía cạnh, phương
diện ấy quan hệ với nhau như thế nào? Phương diện nào thể hiện tập trung và rõ
nét các yêu cầu trọng tâm của đề?
+ Câu hỏi sắp xếp luận điểm: Các khía cạnh, nội dung cần nghị luận được trình
bày như thế nào là tối ưu nhất?
Những nội dung này học sinh được suy nghĩ trong vòng 25-30 phút, sau đó
học sinh sẽ trình bày ngắn gọn bằng hình thức nói (yêu cầu phải nói rõ căn cứ để
nhận thức đề, đề xuất luận điểm và sắp xếp ý). Cuối cùng giáo viên mới chữa hoàn

+ Giọng văn biểu cảm
+ Dùng từ độc đáo, câu linh hoạt
+ Viết có hình ảnh: so sánh, ví von…
+ Chân thực, tránh sáo mòn, công thức
- Trình bày: Chữ viết, lề, tẩy xoá, trích dẫn…
Kĩ năng viết văn là kỹ năng quan trọng bởi nhận thức đề đúng, đề xuất luận điểm
hợp lý, có kiến thức phong phú chưa đủ. Muốn có một bài viết hay, học sinh phải
biết trình bày những hiểu biết, những rung động, suy nghĩ của mình một cách
mạch lạc, sáng sủa và có sức thuyết phục. Hơn nữa, việc đánh giá lại căn cứ vào
chính bài viết của học sinh.
Rèn kỹ năng viết văn cho học sinh, có thể tiến hành theo các hình thức:
- Viết thành văn một đoạn ý:
+Đoạn văn giải thích
+Đoạn văn chứng minh một luận điểm trong bài (thường là luận điểm chính); -
Đoạn văn bình luận nâng cao.
20
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh ở nhà trên cơ sở dàn ý đã được giáo viên chữa
(khoảng 2 bài /1 tuần).
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh trên lớp trong thời gian quy định (180 phút). Yêu
cầu trước hết đối với học sinh là phải diễn dạt lưu loát rõ ý; chữ viết sạch sẽ, dễ
đọc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu. Từ đó nâng dần yêu cầu học sinh
phải viết được những đoạn văn hay, có cách dùng từ chính xác, sáng tạo, mới lạ, có
giọng văn riêng, thể hiện được dấu ấn, phong cách của người viết.Để đạt được những yêu cầu đó, học sinh phải tham khảo những bài văn mẫu do
giáo viên lựa chọn, định hướng; Có thể học tập cách viết của các bạn của mình
(những đoạn, những ý mà giáo viên cho là đúng và hay). Hình thức này rất có hiệu
quả bởi đó là những đoạn văn, bài văn hay do chính các em viết; Các em rất tự hào

sinh, tôi thường tập trung vào một số dạng đề cơ bản sau:
a. Đề nghị luận xã hội
Dạng đề này gắn với những vấn đề xã hội vô cùng phong phú bao gồm những tư
tưởng cả tích cực và tiêu cực, những đạo lí đông tây kim cổ, những hiện tượng nổi
bật cả tốt cả xấu, những vấn đề đặt ra trong các tác phẩm đã học/ đọc hoặc chưa….
đòi hỏi người GV phải nhanh nhạy nắm bắt cũng như có cái nhìn sắc sảo, quan
điểm rõ ràng, bên cạnh đó là một thái độ sống đúng đắn, tích cực, từ đó cung cấp
cho HS nguồn tư liệu cũng như những gợi ý kịp thời, đúng đắn
Ví dụ:
Đề 1: Phía sau lời nói dối
Đề 2: Lỗ Tấn nói, trước kia thế giới vốn không có đường, người đi nhiều nên đã tạo
ra đường. Cũng có người nói, thế giới vốn ngay từ đầu đã có đường, người đi nhiều
nên đường bị mất đi. Anh (chị) hãy viết một bài văn với chủ đề “Con người và con
đường”
b. Đề kiểm tra khả năng cảm thụ tác phẩm văn học
Dạng đề này phải gắn với những tác phẩm hay có trong chương trình. Chẳng hạn:
Đề 1: Kết thúc tác phẩm "Đời thừa", nhân vật Hộ tự xỉ vả mình:
-Anh anh chỉ là một thằng khốn nạn!
Còn nhân vật Từ nói:
22
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
-Không! Anh chỉ là một người khổ sở chính vì em mà anh khổ!
Từ kết thúc trên, anh (chị) phân tích và bình luận về tình cảm nhân đạo sâu
sắc của nhà văn Nam Cao được thể hiện trong tác phẩm.
Đề 2: Phân tích vẻ đẹp nữ tính của dòng sông Hương trong bút kí Ai đã đặt
tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Qua dạng đề này có thể kiểm tra được kiến thức cơ bản của học sinh về tác phẩm:
nắm hệ thống chi tiết, hình ảnh; hiểu khái quát giá trị nội dung - nghệ thuật của tác
phẩm; năng lực chọn lựa và cảm thụ tác phẩm nghệ thuật ở nhiều cấp độ khác
nhau: chỉnh thể tác phẩm - hình tượng - chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ

Ví dụ:
Đề 1: Vẻ đẹp hình tượng người lính qua hai bài thơ "Đồng chí " của Chính
Hữu và "Tây Tiến" của Quang Dũng.
Đề 2: Phân tích đặc sắc riêng về cảm hứng đất nước ở bài thơ "Đất nước" của
Nguyễn Đình Thi và "Đất nước" (Chương V C -Trích Mặt đường khát vọng) của
Nguyễn Khoa Điềm.
Đề 3: Những tương đồng và khác biệt trong cách cảm nhận và thể hiện số
phận người nông dân nghèo qua hai tác phẩm Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) và Vợ
nhặt (Kim Lân).
3.2.4. Phân phối chương trình
- Giai đoạn khởi động:
+ Học kiến thức cơ bản về Lý luận văn học : Văn học là gì ? Chức năng văn học;
Đặc trưng văn học; Ngôn ngữ văn học; Sáng tạo văn học; Tiếp nhận văn học
Trong quá trình giảng bài, giáo viên minh họa bằng các tác phẩm học sinh đã học
và chú ý phân tích đặc biệt làm nổi bật cái hay cái đẹp trong các tác phẩm ấy nhằm
kích thích sự hứng thú cho học sinh
+ Thực hành các dạng bài Làm văn quen thuộc về Nghị luận văn học và nghị luận
xã hôi. Chú ý tập cách trình bày bài Luận sáng đẹp, kết cấu rõ. Tập làm phần mở
bài và kết luận hấp dẫn và sáng tạo.
24
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
- Giai đoạn tăng tốc :
+ Học kiến thức về các tác phẩm trong chương trình lớp 11 và những tuần đầu của
lớp 12. Số lượng các tác phẩm tương đối nhiều nên cần sự làm việc tích cực của
học sinh như đọc tác phẩm, đọc tài liệu (tự tìm hiểu hoặc do Giáo viên cung cấp),
soạn bài và làm bài tập Cố gắng hoàn thành chương trình
+ Thực hành các dạng bài phân tích tác phẩm thơ và văn xuôi. Chú ý rèn luyện các
thao tác liên hệ, mở rộng đến các tác phẩm văn học khác, đặc biệt là văn học dân
gian và văn học nước ngoài
- Giai đoạn về đích :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status