SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. “Văn học là nhân học”, “Học văn là học làm người”, “Nghề dạy học là nghề
cao quý nhất”, “Thầy cô là kỹ sư tâm hồn”… Những ý kiến trên đem lại cho người
dạy văn, học văn bao nhiêu tự hào thì cũng đặt lên vai chúng ta bấy nhiêu đòi hỏi
về trách nhiệm. Dạy văn, học văn vốn đã không đơn giản, giờ đây trước cơn bùng
phát của công nghệ thông tin, trước cơn bão táp của văn hoá nghe nhìn thì vấn đề
càng trở nên khó khăn hơn.
Ngày nay, học sinh học văn (theo nghĩa là được gia đình định hướng học các
khối có môn Ngữ văn, hoặc bản thân chịu học, muốn học môn học này) đã hiếm,
học sinh yêu thích và học giỏi văn càng hiếm, hiếm hơn nữa là ở một số huyện
miền núi nghèo như Thường Xuân! Ấy vậy mà không phải khi nào có “của hiếm”
trong tay, người thầy, người cô dạy văn chúng ta cũng có thể phát huy tận độ tài
năng và tâm huyết để hỗ trợ, giúp các em thành những viên ngọc sáng!
1.2. Là giáo viên văn nhiều năm giảng dạy, được trực tiếp tham gia bồi dưỡng học
sinh giỏi (HSG) qua một số năm học, chúng tôi hiểu sự tự hào, niềm hạnh phúc
cũng như những khó khăn, vất vả, nhọc nhằn của công việc này. Tìm được học sinh
có tố chất rồi, người thầy phải nỗ lực tìm tòi, sáng tạo để nhân lên tình cảm của các
em với bộ môn, bồi dưỡng các em thành HSG thực thụ và được ghi nhận- Một áp
lực không hề nhỏ.
1.3. Phương pháp dạy học văn trong những năm gần đây đã trở thành vấn đề được
giới chuyên môn và xã hội quan tâm, vấn đề dạy thế nào để học sinh có hứng thú
và được phát huy trong những giờ văn, làm thế nào để nâng cao chất lượng đài trà,
làm thế nào để học sinh đạt kết quả tốt nghiệp cao…Công tác bồi dưỡng HSG cũng
đã được quan tâm, nhưng vẫn còn quá it, vấn đề bồi dưỡng HSG ở miền núi, vùng
đặc biệt khó khăn dường như vẫn còn rất nhiều khoảng trống.
1.4. Bồi dưỡng HSG là nhiệm vụ vinh quang và là trách nhiệm nặng nề. Đảm
nhiệm nhiệm vụ ấy chúng tôi có nhiều băn khoăn: từ chọn đồi tuyển, lên chương
trình, nội dung và phương pháp thực hiện… Bằng sự nỗ lực tìm tòi, học hỏi, trao
đổi với các thầy cô trong trường ĐH và các đồng nghiệp ở các trường THPT, từ
thuyết phục học sinh ,làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN- TÌNH HÌNH BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG THPT CẦM BÁ THƯỚC
1.2.1 Thuận lợi:
- Các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng tích cực tới đề tài:
+ Bản thân là giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu, tôi có
nhiều thời gian tìm tòi, đọc các tác phẩm văn học, tham khảo nhiều tài liệu, các
sách báo khác qua nhiều chương trình phổ thông khác nhau, từ cải cách qua phân
ban, từ chương trình chuẩn đến chương trình nâng cao suy ngẫm và chắt lọc về
chuyên môn, giúp ích cho việc dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.
+ Đam mê tích lũy được nhiều đề thi học sinh giỏi trong tỉnh, các đề học sinh giỏi
ở các tỉnh khác và đề thi học sinh giỏi olimpic khu vực và học sinh giỏi quốc
gia,.v.v có ghi chép và cập nhật thường xuyên.
+ Bản thân được tham gia các lớp tập huấn, các hội nghị về bồi dưỡng học sinh giỏi
ở nhiều cấp khác nhau; có năm được Sở Giáo dục và Đào tạo cử tham gia ra đề thi
học sinh giỏi vòng tỉnh. Nhiều năm tham gia bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi từ
đó rút ra được những kinh nghiệm cần thiết về kiến thức, phương pháp làm bài
áp dụng vào quá trình bồi dưỡng.
Yếu tố khách quan ảnh hưởng tích cực đến vấn đề liên quan đến đề tài:
2
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
+ Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) các môn văn hóa là một công tác mũi
nhọn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, tạo nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài
cho nhà trường nói riêng, cho ngành giáo dục tỉnh nhà nói chung. Các trường
THPT đã xác định rõ vai trò của công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi các
khối lớp nên đã đề ra kế hoạch và phân công cụ thể ngay từ đầu năm học.
+ Bản thân bộ môn Văn là một bộ môn quan trọng, có một vị trí đặc biệt trong
trường phổ thông, ảnh hưởng đến việc xếp loại học lực của học sinh. Môn Văn còn
là một bộ môn nghệ thuật, có sức hấp dẫn riêng nếu chúng ta biết khai thác để tạo
hứng thú cho học sinh.
trung bồi dưỡng cũng không nhiều- thường được tính là 10 buổi)
Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm
của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu.
3
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
Một số khó khăn khác đôi khi gặp phải là có giáo viên giỏi nhưng chưa thực sự
gắn bó với công tác bồi dưỡng HSG vì nhiều lý do khác nhau. Điều đó ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng BDHSG cũng như kết quả của công tác này.
+ Thời gian bồi dưỡng tập trung ngắn, kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng HSG
không nhiều
1.2.3. Sơ lược tình hình:
Trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm thì kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi
qua một số năm học như sau:
Từ 2000-2008 mỗi năm có đội tuyển là 10 em nhưng số lượng đạt giải không
nhiều, thường là giải khuyến khích cấp tỉnh.
Từ 2009- nay, ở những khoá học được áp dụng thực hiện đề tài mỗi năm đội
tuyển cũng có 10 em nhưng số lượng đạt giải và chất lượng giải có tăng lên đáng
kể. Kết quả có sự phát triển rõ rệt, học sinh chủ động và lạc quan khi tham gia vào
đội tuyển, học tập sôi nổi có hứng thú và tin tưởng vào kết quả khi làm bài. Chủ
động tích cực trong việc học tập, nghiên cứu trong sự giúp đỡ hướng dẫn của giáo
viên bồi dưỡng. Hàng năm, 10 em tham gia vào đội tuyển của trường đều đạt kết
quả rất khả quan. Đáng khích lệ hơn là số lượng học sinh giỏi cấp tỉnh tăng rất
nhiều so với trước đây và đặc biệt ở một ngôi trường vùng núi và chất lượng đầu
vào lớp 10 còn rất thấp lại có học sinh đạt giải nhì, giải ba.
CHƯƠNG 2
YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN THPT
2.1. YÊU CẦU
2.1.1 Yêu cầu đối với giáo viên dạy bồi dưỡng môn Ngữ văn
- Muốn có HSG phải có Thầy giỏi vì thế người thầy phải luôn luôn có ý thức tự
học sinh phát huy được trí tưởng tượng, sự liên tưởng để sống sâu sắc hơn với
những cái mình đã đọc, đã học.
HSG văn là những học sinh có những tư chất bẩm sinh, như tiếp thu nhanh,
có trí nhớ bền vững, có khả năng phát hiện vấn đề và có khả năng sáng tạo (có ý
tưởng mới trong bài làm).
HSG văn phải có vốn tri thức phong phú và hệ thống, thuộc nhiều thơ văn trong và
ngoài chương trình qua sự tìm đọc, tích luỹ; phải có sự hiểu biết càng nhiều càng
tốt về con người và xã hội.
Một trong những biểu hiện không thể thiếu và thường dễ phát hiện ở HSG văn là
rất giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề, trước cuộc sống. Biểu
hiện thường thấy ở những học sinh này là dễ vui nhưng cũng rất dễ buồn trước
những vấn đề đặt ra trong tác phẩm và nhất là do sự tác động qua lời giảng của giáo
viên. Thường thì đây là những học sinh sống rất tình cảm, thích gần gũi với thầy
cô, bạn bè và với mọi người, hay bộc lộ quan điểm tình cảm và chiều sâu nội tâm
của mình thông qua cách phát biểu trực tiếp hoặc gián tiếp qua các bài viết. Sự
nhạy cảm ở các em luôn gắn liền sự thông minh và đó là sự thông minh của cả khối
óc lẫn con tim.
HSG văn là những học sinh có vốn từ tiếng Việt khá dồi dào, biết sử dụng chính
xác chúng trong những trường hợp khác nhau. Thường những em HSG văn đều có
khả năng diễn đạt mượt mà, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, diễn đạt hàm súc và có
bản sắc riêng. Năng khiếu ở HSG văn thường đi kèm với các biểu hiện bên ngoài
như ánh mắt sáng, cách nói lưu loát, gãy gọn bởi ngôn ngữ diễn đạt là cái vỏ của
tư duy. Một học sinh hay nói lay, nói lặp, nói dài dòng mà lượng thông tin ít, khả
năng lựa chọn ngôn ngữ trong diễn đạt hạn chế quyết không thể là một học sinh
có tư duy trong sáng và có năng khiếu học văn. HSG văn thường là những học sinh
nắm chắc các kỹ năng làm bài nghị luận.
Tuy nhiên ở địa bàn miền núi, đặc biệt như trường THPT Cầm Bá Thước, với chất
lượng học sinh vào lớp 10 rất thấp, chúng tôi không thể đòi hỏi quá cao ở chất
5
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
+ Trao đổi với các em được chọn về việc thành lập đội tuyển học sinh giỏi Văn để
các em biết, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tham gia đội tuyển để các
em có cái nhìn trước. Chỉ những em tự nguyện tham gia mới được đưa vào danh
sách đội tuyển chính thức của trường.
- Chốt danh sách đội tuyển của trường : Các tiêu chuẩn trên chú trọng đến chất
lượng của đội tuyển, không chú trọng số lượng, tuy nhiên để khích lệ cũng là tạo
điều kiện cho các em đội dự tuyển có thể chọn nhiều hơn. Danh sách đội tuyển
được lọc dần qua các kỳ thi HSG cấp trường. Danh sách đội tuyển chính thức sẽ
được chốt trước kì thi 1 tháng.
Như vậy, có thể nói kinh nghiệm trong việc tuyển chọn và thành lập đội tuyển
học sinh giỏi Văn của Trường là :
6
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
. Công việc không của riêng ai, mà là công việc chung của cả Tổ. Tất nhiên trong
đó Giáo viên bồi dưỡng đóng vai trò chủ yếu.
. Chỉ chọn những học sinh có đủ các tiêu chuẩn sau : viết chữ đẹp, văn viết khá, học
lực chung được xếp loại khá trở lên, có niềm đam mê với Văn học, có hướng đi thi
Đại học ở 2 khối C-D, tự nguyện tham gia đội tuyển.
2.2.2. Thời gian bồi dưỡng :
Sau khi có được đội tuyển, Giáo viên bồi dưỡng bắt tay ngay vào việc bồi
dưỡng học sinh giỏi. Thời gian bồi dưỡng được chia làm các giai đoạn :
- Giai đoạn khởi động - Giai đoạn khởi động sẽ chia hai chặng nhỏ:
+ Học kì II lớp 10, thời gian linh hoạt tùy theo thời khóa biểu học trên lớp của học
sinh. Số lượng buổi học và giờ học được Giáo viên và học sinh thỏa thuận sau mỗi
buổi học. Cố gắng ổn định được 1 buổi/ tuần (3 tiết x 15 tuần, 45 tiết)
+ Hè lớp 10, đây là thời gian tương đối rộng rãi đối với học sinh. Ngay từ cuối năm
học, Giáo viên tranh thủ sắp xếp giờ học cố định (tối thiểu mỗi tuần 1 buổi, 3 tiết x
8 buổi, 24 tiết) và giờ học linh hoạt cho học sinh- phù hợp với thời gian biểu hè của
các em- nhưng vẫn phải ưu tiên cho việc học bồi dưỡng, cố gắng được 1 buổi/ tuần
( tổng khoảng 20-30 tiết). Tổng thời gian ôn tập hè khoảng 50 tiết
mái cho học sinh.
2.2.4. Nội dung, chương trình và cách thức bồi dưỡng :
Biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi tiết cho từng
khối, lớp, về từng mảng kiến thức theo số tiết quy định nhất định và nhất thiết phải
bồi dưỡng theo quy trình từ thấp đến cao, từ dễ đến khó để các em HS bắt nhịp dần.
Xác định rõ trọng tâm kiến thức giảng dạy cho từng khối lớp để tránh trùng lặp.
Chương trình bồi dưỡng cần có sự liên thông trong suốt 3 năm liền (từ lớp 10 đến
lớp 12 )
Mỗi giáo viên bồi dưỡng và người tìm hiểu văn học đều có góc nhìn và cảm
nhận riêng. Vì lẽ đó, bên cạnh những cách thức bồi dưỡng đã trở thành truyền
thống, SKKN cũng đề xuất một số cách thức mới, hiệu quả cho công tác bồi dưỡng
HSG Văn.
Về nội dung, chương trình và cách thức bồi dưỡng, chúng tôi xin trình bày ở
chương III
CHƯƠNG 3
NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH VÀ CÁCH THỨC BỒI DƯỠNG
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN THPT
3.1 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ
Chúng tôi cho rằng việc dạy HSG phải luôn thực hiện được mục tiêu giáo dục-
đó là mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, về tư tưởng tình cảm. Quá trình bồi dưỡng
học sinh chúng ta đang chú trọng việc nâng cao kiến thức và kỹ năng, nghĩa là
hướng tới giúp học sinh phát huy năng lực văn học (tiếp nhận và tạo lập) cụ thể học
sinh cần có được:
- Khả năng nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, sâu sắc các vấn đề xã hội
- Khả năng nhận biết và lí giải được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học một
cách tinh tế, chính xác và có sức thuyết phục trong sự gắn bó giữa nội dung và hình
thức nghệ thuật.
- Chỉ ra được cái độc đáo, không lặp lại của tác phẩm được cảm nhận.
- Có những nhận xét, đánh giá mang màu sắc cá nhân, độc đáo, mới mẻ của người
nên tham vọng sẽ cung cấp cho học sinh đủ kiến thức xã hội- dù chỉ là cơ bản.
Vậy chương trình nên giúp các em biết cấu trúc chung dàn ý của các dạng bài
nghị luận về một tưởng đạo lí, một hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề
xã hội trong tác phẩm văn học ( chưa học, đã học), biết cách triển khai ý, cách lập
luận và tìm các phương thức biểu đạt cho bài văn nghị luận xã hội.
Giáo viên có thể cung cấp các dẫn chứng trong thực tế, trong lịch sử để phục vụ tốt
cho bài viết của học sinh trong quá trình làm bài.
b. Kiến thức văn học
Bao gồm:
- Kiến thức tác phẩm
- Kiến thức văn học sử
- Kiến thức lí luận văn học
- Kiến thức văn hoá tổng hợp
* Kiến thức tác phẩm: Rất nhiều, trong đó bắt buộc HS cần nắm kiến thức sách
giáo khoa, ngoài ra cần phải mở rộng kiến thức ngoài SGK.
- Yêu cầu:
+ Chọn lọc : Tác phẩm đạt trình độ cổ điển
+ Hệ thống:
Theo văn học sử
9
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
Theo đề tài
+ Chính xác : Câu chữ và chi tiết
Cách đọc mở rộng:
(Ảnh chụp màn hình slide10, slide11 bài giảng PowePoint Bồi dưỡng và đánh giá
học sinh giỏi môn Ngữ Văn theo chương trình mới của Gs.Ts Đỗ Ngọc Thống)
* Kiến thức văn học sử
+ Cấu trúc: Nội dung và hình thức ( loại, thể…)
- Tiếp nhận và phân tích TPVH
+ Tiếp nhận và đọc-hiểu
+ Cảm nhận và phân tích
+ Những xu hướng cần tránh
- Các mối quan hệ trong văn học
+ Nội dung và hình thức, nhà văn- hiện thực cuộc sống và tác phẩm, dân tộc- cổ
điển và hiện đại, tâm và tài…
- Vai trò và tác dụng của văn học
- Phong cách văn học: tác phẩm, tác giả…
* Kiến thức văn hoá tổng hợp
- Nắm được vai trò của kiến thức văn hoá
+ Hiểu sâu hơn tác phẩm văn học ( tiếp nhận)
+ Viết bài văn tốt hơn ( tạo lập)
- Nắm được các nội dung cơ bản
+ Một số khái niệm cơ bản của các ngành nghệ thuật
+ Một số kiến thức cơ bản về lịch sử, địa lí, phong tục
+ Những hiểu biết về chính trị và đời sống xã hội
- Nắm được yêu cầu
+ Nội dung cơ bản của khái niệm/ kiến thức văn hoá
+ Vai trò và ý nghĩa của khái niệm/ kiến thức ấy đối với người học/ người đọc
+ Vận dụng được trong tiếp nhận và tạo lập văn bản
3.2.2. Về kĩ năng làm văn
- Tìm hiểu, phân tích đề
- Tìm ý, lập dàn ý
11
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
- Viết văn: +Diễn đạt
+Trình bày
a. Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu, phân tích đề
theo yêu cầu:
+ Đề xuất được hệ thống luận điểm sẽ triển khai trong bài viết;
+ Xác định mối quan hệ giữa các luận điểm, tầm quan trọng của mỗi luận điểm
trong việc thể hiện các yêu cầu của bài
+ Sắp xếp các luận điểm theo trình tự chặt chẽ, khoa học.
- Để giúp học sinh thực hiện được yêu cầu trên, Gv cần hướng dẫn các em đặt
hệ thống câu hỏi và tự trả lời:
+ Câu hỏi tìm luận điểm: Yêu cầu trọng tâm của đề là gì? Vấn đề cần giải quyết có
thể triển khai ở những khía cạnh, phương diện nào?
12
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
+ Câu hỏi xác định quan hệ và vai trò của luận điểm: Những khía cạnh, phương
diện ấy quan hệ với nhau như thế nào? Phương diện nào thể hiện tập trung và rõ
nét các yêu cầu trọng tâm của đề?
+ Câu hỏi sắp xếp luận điểm: Các khía cạnh, nội dung cần nghị luận được trình
bày như thế nào là tối ưu nhất?
Những nội dung này học sinh được suy nghĩ trong vòng 25-30 phút, sau đó
học sinh sẽ trình bày ngắn gọn bằng hình thức nói (yêu cầu phải nói rõ căn cứ để
nhận thức đề, đề xuất luận điểm và sắp xếp ý). Cuối cùng giáo viên mới chữa hoàn
chỉnh.
Chẳng hạn, với đề văn: Trong kiệt tác TKiều, Nguyễn Du viết:
"Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng".
Anh (chị) hiểu như thế nào về câu thơ trên? Bằng sự hiểu biết về Truyện Kiều và
bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của ND, hãy làm sáng tỏ ý thơ trên.
Ở đề trên, học sinh cần đề xuất được các luận điểm chính sau:
- Giải thích ý nghĩa câu thơ của ND ("những điều trông thấy""? "Đau đớn
lòng"? )
- "Nỗi đau đớn lòng" trước "những điều trông thấy" của ND được thể hiện như thế
nào trong Truyện Kiều và ĐTTK?
- Viết thành văn một đoạn ý:
+Đoạn văn giải thích
+Đoạn văn chứng minh một luận điểm trong bài (thường là luận điểm chính); -
Đoạn văn bình luận nâng cao.
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh ở nhà trên cơ sở dàn ý đã được giáo viên chữa
(khoảng 2 bài /1 tuần).
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh trên lớp trong thời gian quy định (180 phút). Yêu
cầu trước hết đối với học sinh là phải diễn dạt lưu loát rõ ý; chữ viết sạch sẽ, dễ
đọc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu. Từ đó nâng dần yêu cầu học sinh
phải viết được những đoạn văn hay, có cách dùng từ chính xác, sáng tạo, mới lạ, có
giọng văn riêng, thể hiện được dấu ấn, phong cách của người viết.Để đạt được những yêu cầu đó, học sinh phải tham khảo những bài văn mẫu do
giáo viên lựa chọn, định hướng; Có thể học tập cách viết của các bạn của mình
(những đoạn, những ý mà giáo viên cho là đúng và hay). Hình thức này rất có hiệu
quả bởi đó là những đoạn văn, bài văn hay do chính các em viết; Các em rất tự hào
khi có được bài văn, đoạn văn hay mà được thầy cô và bạn mình trân trọng.Kỹ năng viết thành văn phải được tiến hành thường xuyên bằng hình thức ra đề cho
các em làm thêm ở nhà, giáo viên tranh thủ chấm và chữa kỹ cho các em.
* Các bước rèn kĩ năng có tác dụng giúp HS: Đúng hướng, tránh lạc, lệch đề, đúng,
đủ và có ý mới, có bài văn hay, đẹp…
3.2.3. Các dạng đề văn và lựa chọn hướng ra đề
Thực tế giảng dạy giúp chúng tôi ý thức một cách sâu sắc rằng, việc ra đề là
khâu quan trọng đầu tiên của quá trình phát hiện, kiểm tra, đánh giá và lựa chọn
HSG. Đề đúng và hay sẽ phân hoá được trình độ học sinh, giúp người thầy nắm
trúng điểm mạnh, điểm yếu của mỗi học sinh từ đó có thể đánh giá khách quan,
chính xác, công bằng năng lực, sự cố gắng vươn lên của học sinh; đồng thời tạo
đường”
b. Đề kiểm tra khả năng cảm thụ tác phẩm văn học
Dạng đề này phải gắn với những tác phẩm hay có trong chương trình. Chẳng hạn:
Đề 1: Kết thúc tác phẩm "Đời thừa", nhân vật Hộ tự xỉ vả mình:
-Anh anh chỉ là một thằng khốn nạn!
Còn nhân vật Từ nói:
-Không! Anh chỉ là một người khổ sở chính vì em mà anh khổ!
Từ kết thúc trên, anh (chị) phân tích và bình luận về tình cảm nhân đạo sâu
sắc của nhà văn Nam Cao được thể hiện trong tác phẩm.
Đề 2: Phân tích vẻ đẹp nữ tính của dòng sông Hương trong bút kí Ai đã đặt
tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Qua dạng đề này có thể kiểm tra được kiến thức cơ bản của học sinh về tác phẩm:
nắm hệ thống chi tiết, hình ảnh; hiểu khái quát giá trị nội dung - nghệ thuật của tác
phẩm; năng lực chọn lựa và cảm thụ tác phẩm nghệ thuật ở nhiều cấp độ khác
nhau: chỉnh thể tác phẩm - hình tượng - chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ
c. Đề kiểm tra kiến thức về lý luận văn học và cảm thụ tác phẩm
Dạng đề này yêu cầu học sinh phải bao quát được những vấn đề cơ bản của lí luận
văn học và soi sáng nó vào những tác phẩm văn học cụ thể.
Ví dụ:
Đề 1: Bàn về thơ, R.Tagore viết:
" Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn
thiện từ bên trong ". Anh (chị) hãy:
1. Bình luận ý kiến trên.
2. Qua bài thơ "Đàn ghita của Lor-ca" của Thanh Thảo, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Đề 2: Nhà văn Nguyễn Đình Thi viết: "Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người
15
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
ta bởi cách nhìn mới, tình cảm mới, về những việc, những điều mà ai cũng biết cả
rồi" (Trích: Nhà văn nói về tác phẩm - NXBVH, 1998, Tr 260) . Anh (chị) hãy bình
luận câu nói trên và phân tích sức hấp dẫn của một tác phẩm văn học mà anh (chị)
kích thích sự hứng thú cho học sinh
+ Thực hành các dạng bài Làm văn quen thuộc về Nghị luận văn học và nghị luận
xã hôi. Chú ý tập cách trình bày bài Luận sáng đẹp, kết cấu rõ. Tập làm phần mở
bài và kết luận hấp dẫn và sáng tạo.
- Giai đoạn tăng tốc :
+ Học kiến thức về các tác phẩm trong chương trình lớp 11 và những tuần đầu của
lớp 12. Số lượng các tác phẩm tương đối nhiều nên cần sự làm việc tích cực của
học sinh như đọc tác phẩm, đọc tài liệu (tự tìm hiểu hoặc do Giáo viên cung cấp),
soạn bài và làm bài tập Cố gắng hoàn thành chương trình
16
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
+ Thực hành các dạng bài phân tích tác phẩm thơ và văn xuôi. Chú ý rèn luyện các
thao tác liên hệ, mở rộng đến các tác phẩm văn học khác, đặc biệt là văn học dân
gian và văn học nước ngoài
- Giai đoạn về đích :
+ Thực hành các bài làm văn tổng hợp, so sánh. Chú ý rèn luyện cách vận dụng
kiến thức lý luận văn học vào bài, tạo chiều sâu cho bài văn. Một số kĩ năng tạo nên
sự độc đáo cho bài văn.
+ Trong 2 tuần cuối trước khi thi, Giáo viên cho học sinh làm bài thi thử đúng với
cấu trúc đề thi học sinh giỏi và thời gian làm bài để học sinh làm quen với áp lực
của phòng thi.
. Tùy theo giai đoạn để có nội dung bồi dưỡng thích hợp. Chú ý đến việc rèn luyện
các thao tác trọng tâm.
* Ghi chú : Mỗi giai đoạn trên đều có phân bố thời gian thích hợp cho việc thực
hành các bài Nghị luận xã hội (Câu 2 trong đề thi)
Bảng phân phối chương trình dạy bồi dưỡng
* Giai đoạn khởi động
- Học kì II, lớp 10
Tuần Buổi Số tiết Tên bài dạy Bài thực hành
20 1 3 Phương pháp làm bài văn NLXH Đề NLXH về TTĐL
* Giai đoạn tăng tốc:
- Lớp 11
Tuần Buổi Số tiết Tên bài dạy Bài thực hành
1 1 3 VHVN đầu XX-1945
2 3 Tản Đà
2 1 3 Phong trào thơ mới
2 3 Xuân Diệu
3 1 3 Xuân Diệu
2 3 Hàn Mặc Tử
4 1 3 Huy Cận
2 3 Nguyễn Bính
5 1 3 Thâm Tâm
2 3 Những bài thơ mới khác
6 1 3 Văn xuôi lãng mạn : Tự lực vđ
2 3 Thạch Lam
7 1 3 Nguyễn Tuân
2 3 Văn học hiện thực phê phán
8 1 3 Vũ Trọng Phụng
2 3 Nam Cao
9 1 3 Nam Cao
2 3 Văn học cách mạng
10 1 3 Hồ Chí Minh
2 3 Nhật kí trong tù
11 1 3 Thơ HCM
2 3 Truyện HCM
12 1 3 Thơ Tố Hữu : Từ ấy
2 3 Chuyên đề Xuân Diệu
13 1 3 Chuyên đề thơ ca lãng mạn
2 3 Chuyên đề thơ ca lãng mạn
14 1 3 Chuyên đề văn xuôi lãng mạn
2 3 Nguyễn Thi
29 1 3 Chuyên đề thơ ca kháng chiến
2 3 Chuyên đề thơ ca kháng chiến
30 1 3 Chuyên đề thơ ca chống Mỹ
2 3 Chuyên đề thơ ca chống Mỹ
31 1 3 Chuyên đề thơ ca sau 1975
2 3 Chuyên đề thơ ca sau 1975
32 1 3 Ôn tập, rèn kĩ năng
2 3 Ôn tập, rèn kĩ năng
33 1 3 Ôn tập, rèn kĩ năng
2 3 Bài thực hành thi thử
34 1 3 Bài thực hành thi thử
2 3 Trả bài, chữa bài
Hè lớp 11
19
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
Tuần Buổi Số tiết Tên bài dạy Bài thực hành
1 1 3 Chuyên đề Đất nước
2 1 3 Hình tượng người lính
3 1 3 Chuyên đề Việt Bắc
4 1 3 Chuyên đề Sóng
5 1 3 Chuyên đề Đàn ghita của Lor-ca
6 1 3 Truyện 1945-1975
7 1 3 Bài thực hành thi thử
8 1 3 Trả bài, chữa bài
* Giai đoạn về đích
- Học kì I, lớp 12
Tuần Buổi Số tiết Tên bài dạy Bài thực hành
1 1 3 Chuyên đề kịch Hồn Trương Ba,
da hàng thịt
4 1 3 Bài thực hành thi thử
2 3 Trả bài, chữa bài
5 1 3 Bài thực hành thi thử
2 3 Trả bài, chữa bài
6 1 3 Bài thực hành thi thử
2 3 Trả bài, chữa bài
3.3. CÁCH THỨC BỒI DƯỠNG
Mỗi giáo viên bồi dưỡng và người tìm hiểu văn học đều có góc nhìn và cảm
nhận riêng. SKKN chỉ đưa ra một số cách thức bồi dưỡng rút gọn nhưng rất hiệu
quả trong thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi .
3.3.1. Tăng cường cơ hội giao lưu:
Mời các đồng nghiệp có uy tín cùng tham gia bồi dưỡng hoặc gặp gỡ, trao đổi
chia sẻ kinh nghiệm với các em ở một số chuyên đề. Bên cạnh đó, những buổi gặp
gỡ, giao lưu với các nhà văn, nhà thơ, nhà lí luận phê bình nổi tiếng hoặc các nhà
văn, nhà thơ của địa phương chính là một cơ hội để thắp lên ngọn lửa yêu văn ở
học sinh, tiếp thêm cho các em cả kiến thức cũng như nhiệt tình. Nếu có thể, GV
chủ động tìm hiểu, tạo điều kiện cho các em trong đội tuyển được tham dự các lớp
bồi dưỡng viết văn trẻ do Hội nhà văn tổ chức vào một số dịp hè.
3.3.2. Tài liệu
a. Tài liệu photocopy
Giáo viên cung cấp tài liệu photocopy cho học sinh, đây không phải việc làm
mới mẻ mà đã thành truyền thống, công việc tưởng đơn giản song rất cần thiết và
vô cùng hiệu quả. Bên cạnh đó, Gv cung cấp những tên sách, danh mục sách, loại
sách Yêu cầu học sinh tìm đọc ở thư viện và các nguồn khác.
b. Internet- “bãi rác có kim cương”
Khai thác kho tài liệu vô tận trên internet với tinh thần tự học, tự vận động của
học sinh là chính trong thời gian bồi dưỡng, tuy nhiên do internet ở thời điểm hiện
tại vẫn còn là một “bãi rác khổng lồ có chứa kim cương”, giáo viên cần là người
tìm hiểu, định hướng cho học sinh tránh phản tác dụng, để giúp các em thực sự tìm
được những tài liệu quý.
chỉ là người khơi gợi- hướng dẫn-sửa chữa.
3.4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Phát hiện và xây dựng nguồn bắt đầu từ lớp 10, giáo tích cực dạy bồi dưỡng,
tổ chức học 2-3 buổi/tuần (trái buổi học chính khóa.
Lên kế hoạch Bồi dưỡng ngay từ trong hè, qua đó lọc dần qua các cuộc thi
cấp trường
Người thầy phải luôn luôn có ý thức tự rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh
nghiệm, trau dồi chuyên môn, luôn xứng đáng là “người dẫn đường tin cậy” cho
học sinh noi theo. Phải thường xuyên tìm tòi các tư liệu, có kiến thức nâng cao trên
các phương tiện, đặc biệt là trên mạng internet. Lựa chọn trang Web nào hữu ích
nhất, tiện dụng nhất, tác giả nào hay có các chuyên đề hay, khả quan nhất để sưu
tầm tài liệu…
Trong công tác bồi dưỡng HSG, khâu đầu tiên là khâu tuyển chọn học sinh
khâu này rất quan trọng . Chúng ta lựa chọn đội tuyển ngay sau khi kết thúc năm
học thông qua việc trao đổi với GV giảng dạy trước đó để lựa chọn những em có
khả năng, tư chất, trí tuệ, lòng đam mê vào đội tuyển, làm nguồn cho năm học kế
tiếp.
Cách thức tiến hành linh hoạt tạo hứng thú cho học sinh tích cực học tập.
Về thực tiễn áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này trong nhà trường đã mang
lại một kết quả khả quan rõ rệt. Phía giáo viên tham gia bồi dưỡng có được sự chủ
động mạnh dạn , ít gặp những lúng túng và vướng mắc như trước đây khi chưa áp
dụng chuyên đề. Chuyên đề đã cố gắng tranh thủ thời gian trong điều kiện cho phép
22
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
nhằm đảm bảo được những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho các em tham gia kỳ
thi học sinh giỏi.
Riêng phần các em học sinh thì có hứng thú, tích cực học tập trong những
giờ lên lớp với thầy và cũng như việc chủ động, tìm tòi học tập, làm việc theo
hướng dẫn của giáo viên với niềm lạc quan say mê. Và kết quả chứng minh cuối
cùng đều khá mỹ mãn qua nhiều năm học liên tiếp.
SKKN năm học 2012- 2013 Gv Lê Thị Hồng Vân, THPT Cầm Bá Thước
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Tiến Quỳnh (Tuyển chọn và biên soạn), Những bài làm làm văn chọn học
sinh giỏi quốc gia, NXB Giáo dục
2. Hà Bình Trị (Tuyển chọn và biên soạn), Những bài văn đoạt giải Quốc gia, NXB
Giáo dục
3. Tuyển tập 10 năm đề thi Ôlimpic 30- 4 môn văn. NXB Đại học Sư phạm
4. Nguyễn Đăng Mạnh, Muốn viết được bài văn hay, NXB Giáo dục
5. Đỗ Ngọc Thống, Bài giảng Power Point: Bồi dưỡng và đánh giá học sinh giỏi
môn Ngữ văn theo chương trình mới
- Một số đề thi học sinh giỏi quốc gia, các đề thi học sinh giỏi ở trong tỉnh cũng
như ở các tỉnh khác được tuyển chọn.
- Một số tư liệu khác từ Google, Internet.
24