SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN KHỐI THPT THUỘC ĐỊA BÀN
MIỀN NÚI"
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. “Văn học là nhân học”, “Học văn là học làm người”, “Nghề dạy học là nghề cao
quý nhất”, “Thầy cô là kỹ sư tâm hồn”… Những ý kiến trên đem lại cho người dạy văn,
học văn bao nhiêu tự hào thì cũng đặt lên vai chúng ta bấy nhiêu đòi hỏi về trách nhiệm.
Dạy văn, học văn vốn đã không đơn giản, giờ đây trước cơn bùng phát của công nghệ
thông tin, trước cơn bão táp của văn hoá nghe nhìn thì vấn đề càng trở nên khó khăn hơn.
Ngày nay, học sinh học văn (theo nghĩa là được gia đình định hướng học các khối có
môn Ngữ văn, hoặc bản thân chịu học, muốn học môn học này) đã hiếm, học sinh yêu
thích và học giỏi văn càng hiếm, hiếm hơn nữa là ở một số huyện miền núi nghèo như
Thường Xuân! Ấy vậy mà không phải khi nào có “của hiếm” trong tay, người thầy, người
cô dạy văn chúng ta cũng có thể phát huy tận độ tài năng và tâm huyết để hỗ trợ, giúp các
em thành những viên ngọc sáng!
1.2. Là giáo viên văn nhiều năm giảng dạy, được trực tiếp tham gia bồi dưỡng học sinh
giỏi (HSG) qua một số năm học, chúng tôi hiểu sự tự hào, niềm hạnh phúc cũng như
những khó khăn, vất vả, nhọc nhằn của công việc này. Tìm được học sinh có tố chất rồi,
người thầy phải nỗ lực tìm tòi, sáng tạo để nhân lên tình cảm của các em với bộ môn, bồi
dưỡng các em thành HSG thực thụ và được ghi nhận- Một áp lực không hề nhỏ.
1.3. Phương pháp dạy học văn trong những năm gần đây đã trở thành vấn đề được giới
chuyên môn và xã hội quan tâm, vấn đề dạy thế nào để học sinh có hứng thú và được
phát huy trong những giờ văn, làm thế nào để nâng cao chất lượng đài trà, làm thế nào để
2
học sinh đạt kết quả tốt nghiệp cao…Công tác bồi dưỡng HSG cũng đã được quan tâm,
nhưng vẫn còn quá it, vấn đề bồi dưỡng HSG ở miền núi, vùng đặc biệt khó khăn dường
như vẫn còn rất nhiều khoảng trống.
năng tư duy và nhất là khả năng viết. Người giáo viên phải có quá trình tích lũy kinh
nghiệm, sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn để có thể đạt hiệu quả và thuyết phục học sinh
,làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN- TÌNH HÌNH BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ
VĂN Ở TRƯỜNG THPT CẦM BÁ THƯỚC
1.2.1 Thuận lợi:
- Các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng tích cực tới đề tài:
+ Bản thân là giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu, tôi có nhiều
thời gian tìm tòi, đọc các tác phẩm văn học, tham khảo nhiều tài liệu, các sách báo khác
4
qua nhiều chương trình phổ thông khác nhau, từ cải cách qua phân ban, từ chương trình
chuẩn đến chương trình nâng cao suy ngẫm và chắt lọc về chuyên môn, giúp ích cho
việc dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.
+ Đam mê tích lũy được nhiều đề thi học sinh giỏi trong tỉnh, các đề học sinh giỏi ở các
tỉnh khác và đề thi học sinh giỏi olimpic khu vực và học sinh giỏi quốc gia,.v.v có ghi
chép và cập nhật thường xuyên.
+ Bản thân được tham gia các lớp tập huấn, các hội nghị về bồi dưỡng học sinh giỏi ở
nhiều cấp khác nhau; có năm được Sở Giáo dục và Đào tạo cử tham gia ra đề thi học
sinh giỏi vòng tỉnh. Nhiều năm tham gia bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi từ đó rút ra
được những kinh nghiệm cần thiết về kiến thức, phương pháp làm bài áp dụng vào quá
trình bồi dưỡng.
Yếu tố khách quan ảnh hưởng tích cực đến vấn đề liên quan đến đề tài:
+ Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) các môn văn hóa là một công tác mũi nhọn
trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, tạo nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài cho nhà
trường nói riêng, cho ngành giáo dục tỉnh nhà nói chung. Các trường THPT đã xác định
rõ vai trò của công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi các khối lớp nên đã đề ra kế
hoạch và phân công cụ thể ngay từ đầu năm học.
+ Bản thân bộ môn Văn là một bộ môn quan trọng, có một vị trí đặc biệt trong trường
phổ thông, ảnh hưởng đến việc xếp loại học lực của học sinh. Môn Văn còn là một bộ
môn nghệ thuật, có sức hấp dẫn riêng nếu chúng ta biết khai thác để tạo hứng thú cho học
đầu tư cho công tác bồi dưỡng HSG cũng có phần bị hạn chế (người thầy không có điều
kiện đầu tư về chiều sâu trong giờ giảng, thời gian tập trung bồi dưỡng cũng không
nhiều- thường được tính là 10 buổi)
Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm của bản
thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu.
Một số khó khăn khác đôi khi gặp phải là có giáo viên giỏi nhưng chưa thực sự
gắn bó với công tác bồi dưỡng HSG vì nhiều lý do khác nhau. Điều đó ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng BDHSG cũng như kết quả của công tác này.
+ Thời gian bồi dưỡng tập trung ngắn, kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng HSG không
nhiều
1.2.3. Sơ lược tình hình:
Trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm thì kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi qua
một số năm học như sau:
Từ 2000-2008 mỗi năm có đội tuyển là 10 em nhưng số lượng đạt giải không nhiều,
thường là giải khuyến khích cấp tỉnh.
Từ 2009- nay, ở những khoá học được áp dụng thực hiện đề tài mỗi năm đội tuyển
cũng có 10 em nhưng số lượng đạt giải và chất lượng giải có tăng lên đáng kể. Kết quả có
sự phát triển rõ rệt, học sinh chủ động và lạc quan khi tham gia vào đội tuyển, học tập sôi
nổi có hứng thú và tin tưởng vào kết quả khi làm bài. Chủ động tích cực trong việc học
tập, nghiên cứu trong sự giúp đỡ hướng dẫn của giáo viên bồi dưỡng. Hàng năm, 10 em
7
tham gia vào đội tuyển của trường đều đạt kết quả rất khả quan. Đáng khích lệ hơn là số
lượng học sinh giỏi cấp tỉnh tăng rất nhiều so với trước đây và đặc biệt ở một ngôi trường
vùng núi và chất lượng đầu vào lớp 10 còn rất thấp lại có học sinh đạt giải nhì, giải ba.
CHƯƠNG 2
YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN THPT
2.1. YÊU CẦU
2.1.1 Yêu cầu đối với giáo viên dạy bồi dưỡng môn Ngữ văn
- Muốn có HSG phải có Thầy giỏi vì thế người thầy phải luôn luôn có ý thức tự rèn
HSG văn là những học sinh có những tư chất bẩm sinh, như tiếp thu nhanh, có trí
nhớ bền vững, có khả năng phát hiện vấn đề và có khả năng sáng tạo (có ý tưởng mới
trong bài làm).
HSG văn phải có vốn tri thức phong phú và hệ thống, thuộc nhiều thơ văn trong và ngoài
chương trình qua sự tìm đọc, tích luỹ; phải có sự hiểu biết càng nhiều càng tốt về con
người và xã hội.
9
Một trong những biểu hiện không thể thiếu và thường dễ phát hiện ở HSG văn là rất
giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề, trước cuộc sống. Biểu hiện thường
thấy ở những học sinh này là dễ vui nhưng cũng rất dễ buồn trước những vấn đề đặt ra
trong tác phẩm và nhất là do sự tác động qua lời giảng của giáo viên. Thường thì đây là
những học sinh sống rất tình cảm, thích gần gũi với thầy cô, bạn bè và với mọi người,
hay bộc lộ quan điểm tình cảm và chiều sâu nội tâm của mình thông qua cách phát biểu
trực tiếp hoặc gián tiếp qua các bài viết. Sự nhạy cảm ở các em luôn gắn liền sự thông
minh và đó là sự thông minh của cả khối óc lẫn con tim.
HSG văn là những học sinh có vốn từ tiếng Việt khá dồi dào, biết sử dụng chính xác
chúng trong những trường hợp khác nhau. Thường những em HSG văn đều có khả năng
diễn đạt mượt mà, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, diễn đạt hàm súc và có bản sắc riêng.
Năng khiếu ở HSG văn thường đi kèm với các biểu hiện bên ngoài như ánh mắt sáng,
cách nói lưu loát, gãy gọn bởi ngôn ngữ diễn đạt là cái vỏ của tư duy. Một học sinh hay
nói lay, nói lặp, nói dài dòng mà lượng thông tin ít, khả năng lựa chọn ngôn ngữ trong
diễn đạt hạn chế quyết không thể là một học sinh có tư duy trong sáng và có năng
khiếu học văn. HSG văn thường là những học sinh nắm chắc các kỹ năng làm bài nghị
luận.
Tuy nhiên ở địa bàn miền núi, đặc biệt như trường THPT Cầm Bá Thước, với chất lượng
học sinh vào lớp 10 rất thấp, chúng tôi không thể đòi hỏi quá cao ở chất lượng học sinh
tham gia đội tuyển, yêu cầu đối với học sinh được chọn bồi dưỡng là có niềm say mê, yêu
thích văn chương, giàu cảm xúc, có khả năng sáng tạo.
10
2.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
của đội tuyển, không chú trọng số lượng, tuy nhiên để khích lệ cũng là tạo điều kiện cho
các em đội dự tuyển có thể chọn nhiều hơn. Danh sách đội tuyển được lọc dần qua các kỳ
thi HSG cấp trường. Danh sách đội tuyển chính thức sẽ được chốt trước kì thi 1 tháng.
Như vậy, có thể nói kinh nghiệm trong việc tuyển chọn và thành lập đội tuyển học sinh
giỏi Văn của Trường là :
. Công việc không của riêng ai, mà là công việc chung của cả Tổ. Tất nhiên trong đó Giáo
viên bồi dưỡng đóng vai trò chủ yếu.
. Chỉ chọn những học sinh có đủ các tiêu chuẩn sau : viết chữ đẹp, văn viết khá, học lực
chung được xếp loại khá trở lên, có niềm đam mê với Văn học, có hướng đi thi Đại học ở
2 khối C-D, tự nguyện tham gia đội tuyển.
2.2.2. Thời gian bồi dưỡng :
Sau khi có được đội tuyển, Giáo viên bồi dưỡng bắt tay ngay vào việc bồi dưỡng học
sinh giỏi. Thời gian bồi dưỡng được chia làm các giai đoạn :
- Giai đoạn khởi động - Giai đoạn khởi động sẽ chia hai chặng nhỏ:
12
+ Học kì II lớp 10, thời gian linh hoạt tùy theo thời khóa biểu học trên lớp của học sinh.
Số lượng buổi học và giờ học được Giáo viên và học sinh thỏa thuận sau mỗi buổi học.
Cố gắng ổn định được 1 buổi/ tuần (3 tiết x 15 tuần, 45 tiết)
+ Hè lớp 10, đây là thời gian tương đối rộng rãi đối với học sinh. Ngay từ cuối năm học,
Giáo viên tranh thủ sắp xếp giờ học cố định (tối thiểu mỗi tuần 1 buổi, 3 tiết x 8 buổi, 24
tiết) và giờ học linh hoạt cho học sinh- phù hợp với thời gian biểu hè của các em- nhưng
vẫn phải ưu tiên cho việc học bồi dưỡng, cố gắng được 1 buổi/ tuần ( tổng khoảng 20-30
tiết). Tổng thời gian ôn tập hè khoảng 50 tiết
- Giai đoạn tăng tốc- Giai đoạn tăng tốc cũng sẽ chia hai chặng nhỏ:
+ Năm học lớp 11:
~ Học kì I, đây là thời gian chạy nước rút, học sinh cần ưu tiên tối đa về thời gian cho
việc bồi dưỡng. (17 tuần x 2 buổi x 3 tiết = 102 tiết), qua giai đoạn này một số học sinh
có kết quả ôn luyện vượt trội đã có thể tham dự kì thi HSG cấp tỉnh.
~Khoảng thời gian còn lại của năm học, áp lực thi Đại học chưa lớn, các em vẫn có thể
ưu tiên cho việc bồi dưỡng (khoảng 15 tuần x2 buổi x3 tiết = 90 tiết)
Mỗi giáo viên bồi dưỡng và người tìm hiểu văn học đều có góc nhìn và cảm nhận
riêng. Vì lẽ đó, bên cạnh những cách thức bồi dưỡng đã trở thành truyền thống, SKKN
cũng đề xuất một số cách thức mới, hiệu quả cho công tác bồi dưỡng HSG Văn.
Về nội dung, chương trình và cách thức bồi dưỡng, chúng tôi xin trình bày ở chương
III
CHƯƠNG 3
NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH VÀ CÁCH THỨC BỒI DƯỠNG
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN THPT
3.1 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ
Chúng tôi cho rằng việc dạy HSG phải luôn thực hiện được mục tiêu giáo dục- đó là
mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, về tư tưởng tình cảm. Quá trình bồi dưỡng học sinh
chúng ta đang chú trọng việc nâng cao kiến thức và kỹ năng, nghĩa là hướng tới giúp học
sinh phát huy năng lực văn học (tiếp nhận và tạo lập) cụ thể học sinh cần có được:
- Khả năng nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, sâu sắc các vấn đề xã hội
- Khả năng nhận biết và lí giải được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học một cách tinh
tế, chính xác và có sức thuyết phục trong sự gắn bó giữa nội dung và hình thức nghệ
thuật.
- Chỉ ra được cái độc đáo, không lặp lại của tác phẩm được cảm nhận.
- Có những nhận xét, đánh giá mang màu sắc cá nhân, độc đáo, mới mẻ của người viết.
15
- Có kĩ năng viết bài văn hay
Như vậy có thể thấy rằng quá trình bồi dưỡng HSG sẽ là quá trình tổng hoà các
yếu tố nội dung, chương trình và cách thức bồi dưỡng gồm cung cấp kiến thức, hướng
dẫn tự học và rèn luyện kỹ năng
3.2. XÂY DỰNG NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG
Để thực hiện mục tiêu bồi dưỡng HSG nói chung và bồi dưỡng HSG Ngữ văn
nói riêng, chúng ta gặp một số khó khăn lớn- đó là Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa thể xây
dựng một chương trình giáo dục đặc biệt dành cho HSG, tài năng ở tất cả các môn học
trong đó có môn Ngữ văn. Vụ THPT có chăng mới chỉ ban hành Tài liệu trong Hội nghị
* Kiến thức tác phẩm: Rất nhiều, trong đó bắt buộc HS cần nắm kiến thức sách giáo
khoa, ngoài ra cần phải mở rộng kiến thức ngoài SGK.
- Yêu cầu:
+ Chọn lọc : Tác phẩm đạt trình độ cổ điển
+ Hệ thống:
17
Theo văn học sử
Theo đề tài
+ Chính xác : Câu chữ và chi tiết
Cách đọc mở rộng:
(Ảnh chụp màn hình slide10, slide11 bài giảng PowePoint Bồi dưỡng và đánh giá học
sinh giỏi môn Ngữ Văn theo chương trình mới của Gs.Ts Đỗ Ngọc Thống)
18
* Kiến thức văn học sử
- Nắm được vai trò và ý nghĩa của văn học sử
+ Hiểu sâu hơn tác phẩm ( tiếp nhận)
+ Viết dạng đề văn học sử tốt hơn ( tạo lập)
- Nắm được các dạng bài văn học sử
+ Tác phẩm lớn
+ Tác gia
+ Xu hướng / Giai đoạn ( thời kỳ)
+ Nền văn học
- Nắm được yêu cầu
+ Đặc điểm lịch sử và những tác động của chúng
+ Những tác giả và tác phẩm tiêu biểu
+ Đặc sắc nội dung và nghệ thuật lớn
+ Vai trò và tác dụng
+ Viết bài văn tốt hơn ( tạo lập)
- Nắm được các nội dung cơ bản
+ Một số khái niệm cơ bản của các ngành nghệ thuật
+ Một số kiến thức cơ bản về lịch sử, địa lí, phong tục
+ Những hiểu biết về chính trị và đời sống xã hội
- Nắm được yêu cầu
+ Nội dung cơ bản của khái niệm/ kiến thức văn hoá
+ Vai trò và ý nghĩa của khái niệm/ kiến thức ấy đối với người học/ người đọc
+ Vận dụng được trong tiếp nhận và tạo lập văn bản
3.2.2. Về kĩ năng làm văn
- Tìm hiểu, phân tích đề
- Tìm ý, lập dàn ý
- Viết văn: +Diễn đạt
+Trình bày
a. Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu, phân tích đề
Xét đến cùng, việc dạy HS làm bài, rèn luyện kỹ năng nghị luận văn học là một
trong những khâu quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến kết quả thi HSG. Đây là khâu
yếu nhất của HS (kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý, dựng đoạn, liên kết đoạn, đưa dẫn
chứng, phân tích dẫn chứng ).
21
Trước hết, trong thời gian bồi dưỡng, giáo viên cần cho học sinh làm quen với nhiều
dạng đề thi HSG, đặc biệt là những dạng đề có cách diễn đạt có thể gây ngộ nhận hoặc có
thể hiểu yêu cầu đề không thấu đáo. Chẳng hạn ở đề bài "Nét mới lạ về hình tượng
người lính qua bài Tây Tiến của Quang Dũng"
Học sinh khi phân tích đề đã nhận diện bản chất của đề rất khác nhau. Một số em cho
rằng yêu cầu của đề là chỉ ra nét độc đáo (lạ) của hình tượng người lính trong bài "Tây
tiến" trong toàn bộ thơ ca Việt Nam viết về người lính. Chỉ có một số ít là hiểu đúng và
hiểu trúng yêu cầu đề là phải chỉ ra những nét độc đáo nhưng phải "mới" (chứ không phải
là " khác lạ") trong cách cảm nhận và lối thể hiện hình tượng người lính của của QD.
Muốn đạt được yêu cầu đó, bài làm phải bám sát bài thơ Tây Tiến và những bài thơ viết
Những nội dung này học sinh được suy nghĩ trong vòng 25-30 phút, sau đó học
sinh sẽ trình bày ngắn gọn bằng hình thức nói (yêu cầu phải nói rõ căn cứ để nhận thức
đề, đề xuất luận điểm và sắp xếp ý). Cuối cùng giáo viên mới chữa hoàn chỉnh.
Chẳng hạn, với đề văn: Trong kiệt tác TKiều, Nguyễn Du viết:
"Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng".
23
Anh (chị) hiểu như thế nào về câu thơ trên? Bằng sự hiểu biết về Truyện Kiều và bài thơ
Độc Tiểu Thanh kí của ND, hãy làm sáng tỏ ý thơ trên.
Ở đề trên, học sinh cần đề xuất được các luận điểm chính sau:
- Giải thích ý nghĩa câu thơ của ND ("những điều trông thấy""? "Đau đớn lòng"? )
- "Nỗi đau đớn lòng" trước "những điều trông thấy" của ND được thể hiện như thế nào
trong Truyện Kiều và ĐTTK?
- Đánh giá về giá trị của Truyện Kiều, về nỗi niềm Nguyễn Du được thể hiện qua tác
phẩm của mình về sức sống của tác phẩm Nguyễn Du
Ở bước này, phần làm việc của học sinh ở nhà là tiếp tục viết thành văn phần mở,
kết bài và các câu, đoạn chuyển ý.
Kĩ năng này nếu được làm một cách ráo riết và nghiêm túc sẽ hình thành được ở
học sinh khả năng chủ động và độc lập tư duy trong học tập, khắc phục dần tình trạng học
sinh làm bài theo kiểu ngẫu hứng, nghĩ đến đâu viết đến đó, thậm chí làm bài xong
không biết mình viết gì. Tác dụng của khâu này là giúp các em khi đọc đề thi có thể
nhanh chóng hình thành hệ thống luận điểm, định hướng kiến thức cho bài trong một
khoảng thời gian ngắn (15-30 phút) đầu giờ; bài viết của các em sẽ đủ ý và mạch lạc. Đây
cũng là một trong những biểu hiện của tính khoa học ở một bài văn HSG .
Qua thực tế thấy rất rõ, các em trong đội tuyển HSG có khả năng nhận diện đề và
lập dàn ý khá nhanh và tự tin, có ý thức rõ rệt cần phải thiết lập hệ thống luận điểm trước
khi bắt tay vào viết bài.
c. Kĩ năng viết văn
- Diễn đạt:
+ Giọng văn biểu cảm