Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
MỤC LỤC
Trang
I.1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………..
2
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài……………………………………..
3
I.3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………...
3
I.4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………..
3
I.5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………..
3
I. PHẦN MỞ ĐẦU
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận……………………………………………………...
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp………………………………......
8
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp……………..
8
c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp………………………...
19
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp…………………………
19
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu……..
19
II.4. Kết quả.…………………………………………………………...
20
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III.1. Kết luận……………………………………….………………….
21
III.2. Kiến nghị, đề xuất……………………………………….……….
cho học sinh. Đọc được coi là một trong những kĩ năng quan trọng hàng đầu của
cấp học.
Trên địa bàn xã Ea Bông dân tộc Ê-đê chiếm phần lớn dân số của xã. Đặc
biệt, trường Tiểu học Võ Thị Sáu là trường đặc thù có học sinh dân tộc Ê-đê
chiếm 97,7%. Hầu hết các em còn rất hạn chế về ngôn ngữ nói, viết bằng Tiếng
Việt. Các em nói chưa chuẩn, chưa đúng về một số hoặc nhiều tiếng, từ Tiếng
Việt. Kĩ năng giao tiếp, diễn đạt bằng ngôn ngữ Tiếng Việt còn rất yếu. Các em
chỉ giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ còn tiếng phổ thông các em chỉ sử dụng
trong các tiết học hoặc khi tiếp xúc với thầy, cô giáo. Các em học sinh ở khu vực
Buôn Sah, do bản tính rụt rè, ít nói chuyện, ít giao tiếp với người khác nên vốn
từ Tiếng Việt tiếp thu được rất hạn chế. Do vậy, việc học tập, tiếp thu và rèn cho
học sinh biết nghe, nói, đọc, viết là một vấn đề nan giải, nhất là đối với học sinh
dân tộc thiểu số. Do khả năng tiếp thu Tiếng Việt của các em còn ít nên việc dạy
cho các em đọc được rõ ràng, rành mạch, diễn cảm là một việc hết sức khó khăn
và mất nhiều thời gian. Từ năm học 2013 – 2014 đến năm học 2015 – 2016, tôi
được phân công dạy lớp 3 với tổng số học sinh dân tộc thiểu số chiếm 100%.
Khi mới nhận lớp, chất lượng đọc Tiếng Việt đạt tỉ lệ rất thấp, đa số các em đọc
chưa đúng tiếng từ, đọc sai dấu thanh, đọc sai vần, ngắt nghỉ câu chưa đúng,…
Theo bảng thống kê khảo sát chất lượng đầu năm học cho thấy tỉ lệ học sinh đọc
Tiếng Việt của lớp tôi chủ nhiệm như sau:
ĐẦU NĂM
HỌC
LỚP
TSHS
2013 – 2014
2014 – 2015
2015 – 2016
27,6
5
29,4
5
27,8
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Phát âm
sai
SL Tỉ lệ
%
8
27,6
6
35,3
6
33,3
2
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
Để góp phần nâng cao chất lượng đọc Tiếng Việt cho học sinh dân tộc
thiểu số lớp 3, trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh với ý thức lương
tâm, trách nhiệm nghề nghiệp, bản thân tôi luôn suy nghĩ và trăn trở, không
ngừng tích lũy kinh nghiệm về rèn kĩ năng đọc để giúp các em dân tộc thiểu số
đọc đúng, rõ ràng, lưu loát, diễn cảm. Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số
biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3”. Với hi vọng
một số kinh nghiệm tôi vận dụng đã giúp cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3 có
chủ được công cụ ngôn ngữ để học tập trong nhà trường và giao tiếp một cách
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
3
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
đúng đắn, mạch lạc tự nhiên, tự tin trong môi trường xã hội, thuộc phạm vi hoạt
động của lứa tuổi. Môn Tiếng Việt góp phần cùng với môn học khác rèn luyện
các thao tác tư duy cơ bản cho học sinh. Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã
hội, tự nhiên và con người Việt Nam hiện đại, có ý thức thấm nhuần truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, ưa chuộng lối sống lành mạnh, ham thích làm việc và
khả năng rèn luyện thích ứng với cuộc sống xã hội sau này.
Trường Tiểu học Võ Thị Sáu chiếm đa số là học sinh dân tộc thiểu số.
Những khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt, học tập của các em là: Thiếu điều
kiện học tập, quá trình học không liên tục, kiến thức nắm không vững chắc,
thiếu động cơ học tập. Biết đọc, biết viết là mục tiêu số một ở học sinh Tiểu học.
Vốn Tiếng Việt là rất cần thiết trước khi học chữ. Không biết hoặc biết ít Tiếng
Việt là trở ngại lớn nhất cho học sinh dân tộc thiểu số. Tập nói Tiếng Việt là
nhiệm vụ đầu tiên với các em. Học sinh dân tộc thiểu số cần có vốn Tiếng Việt
trước để học chữ. Bộ Giáo dục đã có nhiều văn bản chỉ đạo như công văn số
8114/ BGDDT-GDTH về việc nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân
tộc thiểu số ban hành ngày 15 tháng 9 năm 2009. Nghe – nói – đọc – viết là bốn
kĩ năng của Tiếng Việt, để đạt các yêu cầu so với chuẩn kiến thức – kĩ năng theo
quyết định số 16/2006/ QĐ-BGDĐT ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2006. Dạy
học tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3. Bài tập bổ trợ
Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2, 3 tại Đăk Lăk của Sở Giáo dục
và Đào tạo Đăk Lăk nhằm bổ trợ cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
Tiếng Việt để giúp các em học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác.
quan tâm, chăm lo đến việc học hành cho con em mình. Cá biệt còn có trường
hợp học sinh theo cha mẹ đi làm lò gạch, đi nhặt điều, đi mót cà phê,…. làm
gián đoạn việc học tập của các em gây ảnh hưởng đến độ liên tục của bài học
trong chương trình, các em không tiếp thu được bài, hổng kiến thức. Đã khiến
cho nhiều học sinh không tích cực trong các hoạt động học tập. Nhiều cha mẹ
học sinh không hoặc chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em
mình, chưa tạo điều kiện tốt để các em đến lớp cũng như nhắc nhở các em học
bài, đọc bài ở nhà.
- Học sinh dân tộc thiểu số khó nhớ, mau quên, nhiều em đọc, viết chưa
thành thạo, đọc sai tiếng từ và dấu thanh còn nhiều.
- Đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt còn hạn chế. Giáo viên mất nhiều thời
gian đầu tư vào đồ dùng dạy học tự làm.
- Do điều kiện kinh tế của gia đình các em còn gặp nhiều khó khăn, lớp tôi
chủ nhiệm có nhiều em thuộc diện hộ nghèo, ngoài giờ lên lớp các em còn phải
làm việc phụ giúp gia đình. Khả năng giao tiếp và sử dung Tiếng Việt của các
em còn nhiều hạn chế, kĩ năng giao tiếp chưa nhuần nhuyễn, một vài phụ huynh
nói tiếng phổ thông gặp nhiều khó khăn, thậm chí có phụ huynh không biết chữ,
… nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc đọc, viết và học tập của các em.
b. Thành công, hạn chế
* Thành công: Sau khi thực hiện các biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học
sinh dân tộc thiểu số lớp 3 đã có dấu hiệu khả thi rõ rệt: Khả năng giao tiếp bằng
tiếng phổ thông của các em được tốt hơn, các em có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
đúng dấu thanh hơn. Các em phát huy được tính tích cực, có ý thức học tập tốt,
hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài.
* Hạn chế: Bên cạnh những thành công còn có những hạn chế nhất định:
Tình trạng một số học sinh dân tộc thiểu số tại chỗ lười học hay vắng học vẫn
còn phát âm chưa chuẩn Tiếng Việt đang diễn ra. Tiếp thu chậm, hổng hóc kiến
thức ở những ngày nghỉ học. Lớp học ở điểm phụ, thuộc vùng khó khăn, vẫn
còn nhiều cha mẹ học sinh không biết chữ nên không kèm cặp, dạy thêm ở nhà
cho các em.
năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
Nguyên nhân của một số thực trạng kể trên là do những năm gần đây giáo
viên đã luôn ý thức quan tâm, chăm chút cho học sinh trong từng tiết học, với
mỗi bài học giáo viên đã nghiên cứu kĩ để lựa chọn và tổ chức hình thức rèn kĩ
năng đọc sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Đồng thời giáo viên luôn
luôn động viên khuyến khích, khêu gợi cho học sinh lòng ham mê học tập, có
thái độ tích cực, tự giác luyện đọc. Mạnh dạn phát biểu trước lớp, trước nhóm,
trước liên đội,… để từng bước trau dồi cho các em về kĩ năng đọc và kĩ năng
giao tiếp từ đó các em vui chơi, hòa đồng với các bạn của lớp, của trường.
Trong quá trình truyền thụ kiến thức cho học sinh, giáo viên đã phân hóa
được đối tượng học sinh. Tìm hiểu hoàn cảnh của từng học sinh để có biện pháp
hướng dẫn cho các em khả năng học tập tốt nhất. Đầu tư vào việc soạn giảng,
gây hứng thú học tập cho học sinh.
Việc tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa cho học sinh: Tập tổ chức các
trò chơi, thi Giao lưu tiếng Việt, các hoạt động văn nghệ,… Tham gia các hoạt
động của Đội như Trò chơi dân gian, Thi đố vui để học,… nhằm phát triển khả
năng giao tiếp, khả năng biểu cảm, khả năng nói lưu loát cho học sinh ít được
chú trọng nên cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng giáo dục của học sinh.
Nội dung môn Tiếng Việt nói chung và môn Tập đọc nói riêng rất phong
phú, kênh hình ở sách giáo khoa được trình bày đẹp, phù hợp tâm sinh lí lứa tuổi
các em. Học sinh lớp 3 đã được học về kĩ năng đọc, kĩ năng nói, kĩ năng kể
chuyện. Đây là điều kiện để giúp các em học sinh nói chung và nhất là các em
học sinh dân tộc thiểu số phát âm chuẩn Tiếng Việt.
Tuy nhiên một số học sinh chưa xác định động cơ học tập đúng đắn nên
chưa chăm học. Chưa thực sự nắm được phương pháp học tập.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
6
loại.
Thông qua dạy đọc, tôi đã giúp các em đọc đúng, đọc hay và dạy cho các
em cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Dạy đọc “ngôn ngữ” với dạy đọc “văn
học”. Đó chính là cơ sở dạy học cho học sinh trưởng thành và phát triển cả về trí
tuệ và tâm hồn, nhân cách và tri thức.
Từ đó tôi thấy rõ, xác định được việc rèn đọc cho học sinh Tiểu học nói
chung và học sinh dân tộc thiểu số nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết.
Chúng ta phải làm thế nào để thông qua môn Tập đọc giúp học sinh không
những đạt được năng lực đọc mà phải hiểu nội dung của bài. Hay nói một cách
khác, tôi tìm phương pháp tiếp cận làm cho học sinh có cảm tình với bài học đó,
thúc đẩy học sinh biểu lộ tình cảm, thái độ tự nhiên thông qua giọng đọc.
Trong thực tế hiện nay, để thực hiện được vấn đề này, tôi đã thay đổi cách
truyền thụ giúp các em có thể nắm bắt được tri thức, thực hiện việc dạy theo
hướng đổi mới. Mặt khác, việc dạy đọc cho học sinh đã có từ lâu và cũng có
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
7
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
nhiều tài liệu đề cập đến. Tất cả đều khẳng định vai trò của việc dạy đọc, đọc
hiểu, đọc diễn cảm cho học sinh.
Trong quá trình rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số tôi luôn
luôn đổi mới phương pháp dạy học, dạy lồng ghép các hoạt động, các trò chơi
bổ ích để gây hứng thú cho các em không chán nản trong học tập, tạo cho các
em cảm giác “Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”. Từ đó các em sẽ gây hứng
thú trong học tập và thích đến trường, đến lớp để học tập.
Trong quá trình giảng dạy hoặc tiếp xúc nói chuyện với học sinh, với
đồng nghiệp, với tất cả mọi người cũng phải nói chuẩn tiếng Việt không được
Từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học và cơ sở thực tiễn. Tôi nhận
thấy: Thực tế dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu cần dạy Tập đọc ở Tiểu học.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
8
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
Vì thế, để khắc phục những hạn chế phát huy ưu điểm thường có ở địa phương
tôi đã đưa ra một số biện pháp để rèn đọc cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số
như sau:
Biện pháp 1: Chuẩn bị giờ dạy của giáo viên
Để có một giờ Tập đọc đạt hiệu quả cao điều không thể thiếu được đó là
khâu chuẩn bị bài, chuẩn bị đồ dùng dạy học, tôi soạn kĩ bài ở nhà chọn cách
đọc, giọng đọc hay nhất để phù hợp với nội dung bài đọc.
Tham khảo tài liệu sách giáo viên Tiếng Việt 3, phương pháp dạy học
Tiếng Việt,... để có phương pháp dạy phù hợp nhất với từng đối tượng học sinh
của lớp tôi.
Tùy từng bài Tập đọc khác nhau mà tôi chọn ra những tiếng, từ có vần
khó,... và chọn ra những câu văn luyện đọc cho phù hợp.
Ví dụ: Để dạy bài “Hai Bà Trưng” tôi đã chuẩn bị: Giáo án cho bài dạy,
giọng đọc cho câu chuyện, tranh minh họa bài tập đọc và kể chuyện trong Tiếng
Việt 3, tập 2. Bảng phụ viết sẵn câu, đoạn văn cần hướng dẫn luyện đọc ngắt
nghỉ. Bản đồ hành chính Việt Nam (hoặc vùng Bắc Bộ).
Biện pháp 2: Chuẩn bị đồ dùng trực quan
Tranh, ảnh, vật thật không chỉ đóng vai trò trong quá trình hình thành kiến
thức mới mà nó còn có vai trò rất lớn trong phần luyện nói ở các tiết Tập đọc.
Như chúng ta biết ở lứa tuổi học sinh Tiểu học nói chung, học sinh dân
tộc thiểu số lớp 3 nói riêng khả năng tư duy trừu tượng kém. Đa số các em tiếp
- Đọc bài thơ, bài văn cho cha mẹ nghe và nhờ cha mẹ nhận xét để lên lớp
đọc bài tốt hơn.
Khi ở trên lớp học sinh cần:
- Chú ý lắng nghe cô giáo hướng dẫn đọc phát âm tiếng dễ lẫn, tiếng có
vần khó, cách đọc câu văn dài, đọc theo vai, đọc diễn cảm.
- Học hỏi một số bạn có giọng đọc lưu loát, diễn cảm.
- Tham gia tất cả các trò chơi, cuộc thi đọc được tổ chức trong giờ tập đọc
một cách tích cực.
Nếu các em có ý thức đọc bài nghiêm túc, tích cực học hỏi và tìm tòi thì
bản thân các em sẽ có kĩ năng đọc tốt môn Tiếng Việt. Kĩ năng đọc của các em
ngày càng tiến bộ không những đọc đúng, đọc lưu loát, đọc hay mà còn đọc
được diễn cảm bài văn, bài thơ.
Biện pháp 4: Đọc mẫu của giáo viên
Đây là một hình thức trực quan sinh động có hiệu quả, có tác dụng làm
mẫu cho học sinh luyện đọc. Đã là công tác làm mẫu thì phải đủ điều kiện chuẩn
xác, kĩ năng cao hơn đặc biệt là học sinh lớp 1, 2, 3 thường hay bắt chước và
làm theo thầy, cô giáo. Do vậy, thầy cô có phong cách như thế nào thì học sinh
mang ảnh hưởng như thế đó. Chính vì vậy, tôi luôn nhắc nhở mình phải là tấm
gương sáng cho học sinh noi theo. Trong giờ Tập đọc, tôi luôn đảm bảo việc đọc
mẫu của mình thật chu đáo, thật diễn cảm, nét mặt, nụ cười, điệu bộ,... Nếu đọc
mẫu đảm bảo được 80% của bài đọc đó là sự thành công của giờ dạy. Nó tạo
được không khí sôi động, gây hứng thú cho học sinh. Nó lôi cuốn học sinh vào
áng thơ giúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp của bài văn, bài thơ tùy theo
từng bài giáo viên đọc mẫu.
Ví dụ: Bài “Cuộc chạy đua trong rừng” (Tuần 28 – Sách giáo khoa Tiếng
Việt lớp 3, tập 2). Đọc toàn bài chú ý giọng đọc của mỗi đoạn, cụ thể:
- Đoạn 1: Giọng đọc hào hứng, nhấn giọng ở những chi tiết miêu tả hình
ảnh vui thích của ngựa con khi soi bóng mình dưới nước: “sửa soạn”, “mải mê”,
“chải chuốt”,…
- Đoạn 2: Giọng đọc âu yếm, ân cần đối với ngựa cha, ngựa con tự tin,
và đọc diễn cảm, cần phải có những biện pháp thực hiện đạt hiệu quả cao nhất.
Mọi sự thành công trong tiết học phụ thuộc rất nhiều vào việc thiết kế một bài
dạy tùy từng nội dung của từng bài, từng tiết học. Do đó, cần thiết kế giáo án
cho phù hợp thì tiết học mới đạt hiệu quả cao. Chính vì vậy tôi đã vận dụng các
biện pháp sau xen lẫn vào các tiết dạy.
* Luyện đọc đúng
- Khi học sinh luyện đọc nối tiếp câu chọn ra những tiếng từ khó mà học
sinh hay phát âm sai cho học sinh luyện đọc. Việc làm này là hết sức cần thiết,
vì có đọc được đúng mới tiến tới đọc được hay song đòi hỏi phải hướng dẫn tỉ
mỉ, cụ thể rõ ràng, có thể sử dụng trực quan để học sinh thấy được hệ thống môi,
răng, lưỡi, bộ máy phát âm khi phát âm nó như thế nào.
Ví dụ: Dạy bài “Hội Vật” các em học sinh dân tộc thiểu số thường đọc sai
các tiếng, từ như là: “Hội vật” thì lại đọc là “hội vất”, “chống đỡ” lại đọc “chông
đơ”, “mất đà” đọc “mật đa”, “Cản Ngũ” lại đọc “Cản Ngu”, “Quắm Đen” đọc
“Quoắn Đen”, “loay hoay” lại đọc “loáy hoáy”,… Để hướng dẫn các em đọc
đúng các tiếng, từ đó tôi gọi học sinh đọc đúng đọc mẫu tiếng, từ khó cho những
học sinh đọc chưa đúng nghe, quan sát và luyện phát âm lại. Tôi gọi những học
sinh đọc còn sai phát âm lại nhiều lần. Như vậy mỗi một từ khó học sinh trực
tiếp nhìn bằng mắt (nhìn lỗi mình đọc sai), được tập phát âm bằng miệng, được
nghe bằng tai. Từ đó các em nhớ lâu và đọc đúng.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
11
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
- Khi luyện đọc từ tôi đưa ra các từ khó mà các em hay phát âm sai. Tôi
ghi lên bảng bằng phấn trắng, dùng phấn màu gạch chân dưới phụ âm đầu hoặc
tôi gọi một em đọc tốt đọc mẫu để cả lớp cùng được nghe sau đó yêu cầu các em
phát hiện những tiếng, từ mà các em hay đọc và nói sai sau đó hướng dẫn phát
âm đúng các từ đó. Ví dụ như từ: ngày xưa, công đường, bồi thường,… bằng
cách cho các em phân tích lại cấu tạo các tiếng, từ rồi gọi nhiều em đọc, em nào
đọc chưa chuẩn tôi cho các em đọc lại từ đó nhiều lần, rồi tôi cùng sửa cho các
em. Đối với em yếu, tôi hướng dẫn các em đánh vần sau đó đọc trơn lại và nhiều
em được luyện đọc từ khó. Khi đọc đoạn, tôi lắng nghe phát hiện và sửa sai
ngay những tiếng, từ các em còn đọc sai nhất là cách ngắt nghỉ. Bên cạnh đó, tôi
còn giúp các hiểu nghĩa của các từ ngữ trong phần chú giải và cung cấp thêm từ
mới sau đó giải nghĩa để học sinh hiểu được nghĩa của từ “đa tình” và cho các
em nhắc lại nghĩa của từ đó.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
12
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
Thường xuyên tích hợp việc cung cấp, giảng từ, xác định từ loại, nhận xét
cấu trúc ngữ pháp của câu khi dạy các phân môn khác của Tiếng Việt cũng như
các môn học khác. Từ đó khắc phục được một phần hạn chế của học sinh là khó
nhớ nhưng dễ quên.
Với cách dạy như trên số học sinh đọc sai giảm xuống rõ rệt và tôi đã thu
được kết quả nhất định khi hướng dẫn đọc đúng tiếng, từ cho học sinh dân tộc
thiểu số.
* Luyện đọc nhanh
Đọc nhanh còn gọi là đọc lưu loát, đọc trôi chảy, biện pháp đọc nhanh tôi
hướng dẫn cho học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị đọc nhanh là cụm, từ,
câu, đoạn bài. Tôi điều chỉnh tốc độ đọc, đo tốc độ đọc bằng cách soạn sẵn bài
có số tiếng cho trước và dự tính trong bao nhiêu phút, định tốc độ như thế nào
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
13
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
thì tôi theo dõi quan sát, nhắc nhở, giúp đỡ khi các em gặp khó khăn mà đặc biệt
là các em đọc yếu.
* Luyện đọc thầm – đọc hiểu
Đây là kĩ năng đọc chuyển từ ngoài vào trong, từ đọc to đến đọc nhỏ, đọc
mấp máy môi đến đọc bằng mắt. Tôi kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh
bằng cách xác định đọc thầm cho học sinh từng đoạn, khi các em đọc thầm tôi
cũng phải đọc thầm theo để phát hiện những học sinh không đọc thầm mà đã giơ
tay (nếu thấy học sinh đọc quá nhanh, nhanh hơn cả cô), tôi đưa ra câu hỏi từ
đoạn đó. Nếu thấy học sinh lúng túng thì có nghĩa là em đó không đọc bài.
Ví dụ: Bài “Đôi bạn”, tôi đọc thầm một đoạn, thấy học sinh đọc quá
nhanh thì tôi đưa ra câu hỏi ở đoạn đó (Thành và Mến kết bạn vào dịp nào?).
Với những biện pháp như trên, bắt buộc học sinh phải đọc thầm để tìm
hiểu nội dung bài. Từ đó giúp các em tích cực tự giác học tập. Đối với học sinh
tiếp thu chậm, tôi luôn động viên, khuyến khích các em đó gây được phong trào
đọc thầm cho học sinh.
Kết hợp chặt chẽ giữa việc tìm hiểu bài với việc luyện đọc. Tôi hướng dẫn
học sinh tìm hiểu bài đến đâu rèn đọc ngay đến đó. Không tách rời hai khâu tìm
hiểu bài và rèn đọc. Một giờ Tập đọc tôi cho học sinh đọc thầm nhiều lần. Đồng
thời giao nhiệm vụ cho các em trong khi đọc thầm để kiểm tra kĩ năng đọc hiểu.
Ví dụ: Dạy bài “Giọng quê hương” (Tiếng Việt 3, tập 1).
- Đọc thầm lần 1: Cả lớp đọc thầm đoạn 1. Tôi giao nhiệm vụ: Tìm hiểu
xem Thuyên và Đồng cùng ăn trong quán với những ai?
- Đọc thầm lần 2: Cả lớp đọc thầm đoạn 2 để trả lời câu hỏi: Chuyện gì
sinh tích cực chủ động để chiếm lĩnh tri thức mới.
Bên cạnh đó trong khi rèn kĩ năng đọc cũng nên chú trọng quan điểm
“tích hợp”, rèn đọc cho các em không chỉ giờ Tập đọc mà tất cả các môn khác.
Tập cho học sinh lướt qua văn bản để phân loại được thể loại văn bản, từ đó có
phong cách, giọng đọc phù hợp với nội dung.
* Luyện đọc diễn cảm
- Đọc diễn cảm tức là biết làm chủ ngữ điệu để bộc lộ cảm xúc của bài
đọc, đọc diễn cảm không những đạt được yêu cầu đọc đúng mà còn kèm theo cử
chỉ, lời nói để góp phần diễn tả nội dung bài.
- Qua thực tế giảng dạy trên lớp, tôi thấy để đọc được diễn cảm cần chuẩn
bị các bước sau:
+ Soạn bài chu đáo, nắm được nội dung bài, đọc kĩ bài để thể hiện được
ngữ điệu đọc, cường độ đọc bài đó ra sao, đọc cao giọng, nhấn giọng ở những từ
nào, nét mặt vui, buồn thể hiện ở những từ ngữ nào trong bài.
+ Yêu cầu học sinh đọc bài nhiều lần ở nhà, tập đọc theo ngữ điệu sao cho
phù hợp với nội dung bài đọc đó. Khi đến lớp tôi hướng dẫn học sinh có thể tiếp
thu nhanh cách đọc đúng và đọc diễn cảm.
Ví dụ: Vui tươi, hồn nhiên như khi dạy đọc bài “Cùng vui chơi”.
Ngày đẹp lắm / bạn ơi /
Quả cầu giấy / xanh xanh /
Nắng vàng trải khắp nơi /
Qua chân tôi, / chân anh /
Chim ca trong bóng lá /
Bay lên / rồi lộn xuống /
có vẻ ngại ngần, giọng của Thanh quả quyết, dứt khoát, hào hứng; giọng của
Tùng vẻ thách thức, dí dỏm và rất tự tin…
Sau đó tôi gọi từng nhóm học sinh lần lượt lên bảng nhập vai đọc bài, như
vậy tất cả học sinh đều làm việc, được luyện nói và thể hiện nét mặt thông qua
các nhân vật mà mình nhập vai. Qua các giờ học như vậy, học sinh sẽ tiến bộ
dần, các em sẽ tự tin hơn ở bản thân mình, tạo ra tiết học đạt kết quả cao.
* Luyện đọc thuộc lòng
Ở những bài dạy có yêu cầu luyện đọc thuộc lòng, tôi chú ý kết hợp luyện
đọc thành tiếng bằng cách tổ chức đọc cá nhân riêng lẻ hoặc nối tiếp đọc đồng
thanh theo nhóm, tổ, cả lớp, đọc theo vai phối hợp nhiều học sinh.
Ở những bài dạy có yêu cầu học thuộc lòng, tôi cho học sinh luyện đọc kĩ
hơn. Có thể ghi bảng một số từ làm “điểm tựa” cho học sinh dễ nhớ và đọc
thuộc, sau đó xóa dần hết từ làm “điểm tựa” để học sinh tự nhớ và đọc thuộc
toàn bài. Tổ chức thi luyện học thuộc lòng một cách nhẹ nhàng gây hứng thú
cho học sinh. Khi học sinh đọc, tôi thường chú ý theo dõi để có cách rèn luyện
thích hợp với từng em, gợi ý, khuyến khích trong lớp, trao đổi, nhận xét về chỗ
được, chỗ chưa được của bạn giúp học sinh biết rút kinh nghiệm để tự tin và đọc
tốt hơn.
Ví dụ: Học thuộc lòng bài “Về quê ngoại” tôi hướng dẫn học sinh thực
hiện theo các bước sau: Tôi đọc diễn cảm 1 lần. Gọi 1 học sinh đọc lại. Tổ chức
cho lớp đọc đồng thanh, luyện đọc xóa dần bảng, xóa từng cụm từ đến khi chỉ
còn những từ đầu câu làm điểm tựa. Luyện đọc theo bàn, tổ, dãy bàn. Học sinh
thi đọc thuộc lòng khổ thơ, cả bài thơ. Nhận xét, tuyên dương.
Phần ghi bảng: Nội dung ghi bảng nói chung cần ngắn gọn, xúc tích đảm
bảo tính khoa học và tính sư phạm, hình thức trình bày mang tính thẩm mỹ có
tác dụng giáo dục học sinh, Việc ghi bảng cần kết hợp nhịp nhàng với tiến trình
của tiết dạy nhằm đem lại hiệu quả trực quan cao nhất.
Biện pháp 6: Tổ chức giờ học thân thiện - học sinh tích cực
Theo tôi, đây là một biện pháp rất có ý nghĩa trong các giờ học đối với
học sinh dân tộc thiểu số. Ở đây học sinh thường đi học theo cảm tính, thích đi
Việt làm giàu vốn từ cho học sinh dân tộc thiểu số, tăng cường thực hành giao
tiếp bằng Tiếng Việt cho các em. Tích hợp dạy tăng cường Tiếng Việt trong các
môn học, các hoạt động giáo dục cũng như dạy tăng cường vào các tiết Tập đọc.
Vận dụng các phương pháp dạy tăng cường Tiếng Việt với tư cách dạy học ngôn
ngữ thứ hai, tăng thời gian rèn luyện kĩ năng nghe, nói cho học sinh giúp các em
có nhiều cơ hội, thời gian giao tiếp bằng tiếng phổ thông với cô giáo và bạn bè.
Ví dụ: Khi dạy các bài Tập đọc tôi tăng cường Tiếng Việt cho học sinh
bằng cách đọc lại các từ khó các em còn phát âm sai luyện đọc nhiều lần hoặc
tăng cường Tiếng Việt trong phần luyện đọc, tăng cường luyện đọc đúng dấu
thanh cho học sinh dân tộc thiểu số. Hoặc như môn Tập Viết thì tôi cho học sinh
tăng cường luyện đọc từ và câu ứng dụng. Hay như môn Toán thì tôi tăng cường
Tiếng Việt bằng cách cho học sinh nhắc lại nhiều lần lời giải của bài toán;...
Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc
thiểu số nhằm bổ trợ cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt để
giúp các em học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác. Cung cấp những kiến
thức bổ trợ về ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp Tiếng Việt, phục vụ yêu cầu
rèn luyện kĩ năng và thực hành giao tiếp bằng Tiếng Việt. Mở rộng hiểu biết về
con người, cuộc sống, văn hóa, văn học của đất nước Việt Nam. Trong quá trình
giảng dạy thì bài tập bổ trợ môn Tiếng Việt được tôi thực hiện dạy lồng ghép
vào tiết ôn luyện Tiếng Việt, tôi chọn trong bài bổ trợ những bài tập nhỏ phù
hợp với những khó khăn của học sinh trong lớp để dạy. Học sinh sử dụng sách
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
17
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
bài tập bổ trợ môn Tiếng Việt theo hướng dẫn và tự học. Bên cạnh đó, tôi linh
động vận dụng nhiều phương pháp giảng dạy hiệu quả và phù hợp với điều kiện
gia đình và tâm sự với phụ huynh học sinh về sự cần thiết của việc học tập và
nhất là môn Tập đọc. Tôi đã đề nghị gia đình tạo điều kiện, kèm cặp thêm những
lúc các em học ở nhà. Tổ chức các cuộc họp phụ huynh giữa nhà trường và gia
đình để thông báo và đề ra những biện pháp học tập cụ thể cho từng em, từng
đối tượng học sinh.
Các giờ học trên lớp, tôi thường xuyên gọi các em đọc còn chậm, nhút
nhát để đọc bài rồi uốn nắn, sửa chữa những câu, từ do học sinh đọc sai, sửa
ngay tại lớp. Mặt khác tôi giao bài tập về nhà, đến lớp phải thường xuyên kiểm
tra, nhận xét, đánh giá. Ngoài ra tôi còn kết hơp một số biện pháp khác như: liên
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
18
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
lạc đều đặn, kịp thời đến gia đình các em theo quy định hoặc đột xuất những
hôm các em đọc yếu, nghỉ học không lí do hoặc học giảm xút đi.
c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
Để thực hiện các giải pháp, biện pháp trên đòi hỏi giáo viên phải chủ
động, sáng tạo, lập kế hoạch dạy học phù hợp cho các tiết học, đặc biệt là đối
tượng học sinh trong lớp. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phải đầy đủ.
Giáo viên phải chuẩn bị bài và sử dụng đồ dùng dạy học hiệu quả. Bên cạnh đó,
giáo viên phải thật sự kiên trì, chịu khó, tôn trọng học sinh, động viên, tuyên
dương kịp thời những tiến bộ của các em, từ đó các em sẽ không mặc cảm, tự ti
và cố gắng hơn trong học tập.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp, biện pháp tôi đã thực hiện trong đề tài có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, chúng là cầu nối tạo nên thành công trong giảng dạy Tiếng Việt
cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3. Mỗi giải pháp, biện pháp trong đề tài tác
nhát ngừng
SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ %
%
20 69,0 9
31,0
12
8
70,6
44,4
5
5
29,4
27,8
Đọc ngọng,
giật cục
SL Tỉ lệ
%
0
0
0
0
5
27,8
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
học sinh dân tộc thiểu số lớp 3A trong năm học 2013 – 2014, theo kết quả thống
kê so với đầu năm học chất lượng đọc đúng – lưu loát đã tăng lên 13 em đạt
69,0% số lượng học sinh đọc nhỏ – đọc nhát ngừng giảm còn 31,0% và không
còn học sinh đọc ngọng – đọc yếu, phát âm sai. Tất cả các em đều tiến bộ, đọc
bài với lòng say mê, nhiều em đọc bài diễn cảm. Kết quả việc rèn đọc của phân
môn Tập đọc có ảnh hưởng tích cực đến kết quả chung của môn Tiếng Việt lớp
3. Thể hiện rõ qua bảng thống kê số liệu so sánh chất lượng đầu năm học. Trước
sự tiến bộ về kĩ năng đọc của các em học sinh lớp 3A (2013 – 2014) tôi rất vui
mừng và tiếp tục áp dụng các biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3D
năm học 2014 – 2015 và ở học kì I trong năm học 2015 – 2016, tôi cũng thu
được kết quả khả quan. Chính kết quả đó đã động viên, kích lệ cả cô và trò tiếp
tục rèn luyện kĩ năng đọc trong học kì II này để kết quả môn Tiếng Việt của các
em cao hơn nữa.
- Giá trị khoa học: Với mục tiêu phát hiện những yếu kém trong việc học
Tiếng Việt nói chung và rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3 nói
riêng, khắc phục những khó khăn trong giảng dạy, từng bước nâng cao chất
lượng dạy Tiếng Việt cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số. Sau khi nghiên cứu và
thực hiện các giải pháp trên cho thấy chất lượng dạy Tiếng Việt cho học sinh
dân tộc thiểu số lớp 3 đã được nâng cao dần.
II. 4. Kết quả
- Kết quả thu được sau khi khảo nghiệm:
Sau một thời gian kiên trì tìm ra những giải pháp trong quá trình rèn kĩ
năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số đã nâng cao chất lượng Tiếng Việt cho
từng đối tượng học sinh lớp tôi giảng dạy. Kết quả của việc rèn đọc tốt không
chỉ góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt, nó còn tác động đến các môn
học khác. Ảnh hưởng tích cực cho các phân môn Tiếng Việt như học Chính tả,
trên cơ sở có đọc đúng mới viết đúng các phụ âm, dấu thanh viết bài đúng. Hay
riêng và học sinh bậc Tiểu học nói chung. Bên cạnh đó nâng cao khả năng giao
tiếp bằng Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III. 1. Kết luận
Phương pháp giảng dạy của giáo viên có tính chất quyết định đến chất
lượng giờ dạy, kết quả giáo dục. Hiện nay đối với môn Tiếng Việt nói chung
môn Tập đọc nói riêng bao gồm sách giáo khoa, tranh ảnh, vật thật,... à phương
tiện dạy học môn Tiếng Việt theo hướng thực hành giao tiếp, chú ý đến kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết mà ở những giờ Tập đọc thì kĩ năng đọc lại là hiệu quả. Vận
dụng phương hướng vừa nêu kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào sự nhiệt tình và
mạnh dạn cải tiến phương pháp dạy và học. Muốn cải tiến được phương pháp
học Tập đọc sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao hơn, phải nghiên cứu, tìm tòi,
sáng tạo. Như vậy công tác nghiên cứu rất quan trọng, nó giúp cho phương
pháp, nội dung giáo dục luôn được phát huy những tích cực để phù hợp với hoàn
cảnh thực tiễn. Việc rèn đọc cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh dân
tộc thiểu số nói riêng cũng cần có sự tìm ra phương pháp, hình thức kĩ năng tốt
nhất và đạt hiệu quả cao nhất. Trong quá trình giảng dạy tôi đã nghiên cứu đầy đủ
các phương pháp hình thức kĩ năng đọc cho học sinh qua phân môn Tập đọc nói
riêng và học sinh Tiểu học nói chung. Từ đó đề ra những biện pháp tối ưu nhằm
phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, tồn tại. Tôi đã áp dụng và thực hiện
thành công các biện pháp sau:
- Chuẩn bị giờ dạy của giáo viên.
- Chuẩn bị đồ dùng trực quan.
- Chuẩn bị của học sinh.
- Đọc mẫu của giáo viên.
- Hướng dẫn học sinh kĩ năng đọc.
+ Luyện đọc đúng.
+ Luyện đọc nhanh.
+ Luyện đọc thầm – đọc hiểu.
+ Luyện đọc diễn cảm.
công việc, tận tụy với học sinh.
Trên đây là “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc
thiểu số lớp 3” của bản thân tôi trong quá trình trực tiếp giảng dạy và rèn kĩ
năng đọc cho học sinh. Tuy bước đầu đã thu được những kết quả nhất định song
không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Tôi kính mong nhận được sự đóng
góp, bổ sung của chuyên môn nhà trường, của các đồng nghiệp để nâng cao hiệu
quả trong công tác rèn kĩ năng đọc cho học sinh./.
Krông Ana, ngày 06 tháng 02 năm 2016.
Người viết
Phạm Thị Phượng
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
22
Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CẤP TRƯỜNG
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
5. Quyết định số 16/2006/QĐ- BGD&ĐT về việc ban hành chương trình
giáo dục phổ thông của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành ngày 05
tháng 5 năm 2006.
6. Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 ban hành Điều lệ
trường tiểu học.
7. Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo Quy định đánh giá học sinh tiểu học.
8. Sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 3.
9. Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
10. Dự án PEDC dạy học cho HS có hoàn cảnh khó khăn (Dự án GDTH
cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn).
11. Chuẩn kiến thức - kĩ năng lớp 3.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
24