UỶ BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỊ XÃ CHÍ LINH
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2
TRONG GIỜ DẠY TẬP ĐỌC
MÔN: TIẾNG VIỆT
Năm học 2014 – 2015
NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1
- Tên sáng kiến: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG
GIỜ DẠY TẬP ĐỌC
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực giáo dục. Cụ thể: khối lớp 2 trường
Tiểu học.
- Tác giả: + Họ và tên: Hoàng Thị Nhung – Nữ
+ Ngày/ tháng/năm sinh : 23/ 05/ 1976
+ Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm
+ Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Tiểu học Hoa Thám,
thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
+ Số điện thoại: 0976 432 368
- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Hoa Thám, thị xã Chí Linh,
tỉnh Hải Dương. Số điện thoại: 03203 930 227
- Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Hoa Thám, thị xã Chí
Linh, tỉnh Hải Dương. Số điện thoại: 03203 930 227
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Cơ sở vật chất và thiết bị - đồ
dùng dạy học đầy đủ. Giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, luôn lấy học
cao được chất lượng giờ dạy, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu, vận dụng một số biện
pháp rèn đọc cho học sinh lớp 2 trong giờ dạy Tập đọc.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng:
-Điều kiện áp dụng sáng kiến: Cơ sở vật chất và thiết bị - đồ dùng dạy học
đầy đủ. Giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới kiểm tra đánh giá
học sinh. Học sinh tích cực chủ động, tự học và sáng tạo trong việc học Tập đọc.
-Thời gian áp dụng sáng kiến: sáng kiến được áp dụng năm học 2014- 2015
-Đối tượng áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 2 do tôi trực tiếp giảng dạy
3. Nội dung của sáng kiến:
Nội dung cơ bản của sáng kiến là: Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ
sở thực tiễn của việc dạy- học phân môn Tập đọc, tôi đã tập trung tìm hiểu kỹ
năng đọc của học sinh lớp 2, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm rèn kỹ năng
đọc cho học sinh lớp 2 trong các giờ Tập đọc. Các biện pháp tôi đưa ra, chủ yếu
đi sâu vào việc hướng dẫn học sinh luyện đọc đúng – đọc hiểu – đọc diễn cảm
đối với từng dạng bài. Mỗi một dạng bài, tôi đưa ra hình thức luyện đọc phù hợp
nhằm tạo hứng thú luyện đọc cho học sinh. Ngoài ra, tôi kết hợp rèn kỹ năng
đọc ở các tiết buổi 2. Và quan trọng hơn cả là người giáo viên phải biết phối kết
3
hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với phân
môn, với đối tượng học sinh của mình; linh hoạt trong đánh giá học sinh; biết
kiên trì, nhẫn nại khi dạy - học, giúp các em đạt Chuẩn kiến thức - kĩ năng của
môn học, góp phần nâng cao chất lượng dạy- học môn Tiếng Việt.
Các biện pháp về rèn đọc cho học sinh lớp 2 của tôi, có thể áp dụng trong
việc rèn đọc cho học sinh không những của khối lớp 2 mà có thể áp dụng rèn
đọc cho học sinh khối lớp 3 các trường Tiểu học.
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
Về chất lượng học tập của học sinh: vận dụng các giải pháp này, học sinh
được phát triển tư duy, phát huy tính tích cực, chủ đạo của các em, chất lượng
còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Khi học sinh đọc tốt, viết tốt thì các em
mới có thể tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn. Từ đó học sinh mới
hoàn thành được năng lực giao tiếp của mình. Những kỹ năng này không phải tự
nhiên mà có. Nhà trường phải từng bước hình thành và trường Tiểu học nhận nhiệm
vụ đặt viên gạch đầu tiên nên việc dạy học phải có định hướng, có kế hoạch từ lớp 1
đến lớp 5.
Đặc biệt đối với học sinh lớp 2, các em mới được chuyển giao từ lớp 1
lên, việc đọc thông thạo một văn bản đối với các em là rất khó khăn. Trong khi
đó, mục tiêu của giờ dạy Tập đọc không những giúp học sinh đọc đúng mà còn
phải hướng đến giáo dục học sinh yêu tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh
biểu đạt của tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu
trong việc biểu đạt nội dung.
Hiện nay, các cấp quản lý đã đưa ra rất nhiều các văn bản chỉ đạo các nhà
trường Tiểu học tiếp tục đổi mới công tác quản lý, đổi mới phương pháp dạy
học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo Thông tư 30/BGD&ĐT, nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục trong mỗi nhà trường. Trường Tiểu học nơi tôi công tác đã
thực hiện sự chỉ đạo một cách nghiêm túc và bước đầu có hiệu quả. Tuy nhiên,
việc vận dụng sự đổi mới phương pháp – hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra
đánh giá chưa thực sự linh hoạt, chất lượng dạy – học Tập đọc chưa cao, kỹ
năng đọc của học sinh còn nhiều hạn chế. Đặc biệt qua thực tế giảng dạy ở lớp
2, tôi thấy một số học sinh lớp 2 đọc còn rất yếu, còn nhiều em đọc phát âm
chưa đúng, ngắt nghỉ hơi chưa hợp lý. Một số em cường độ đọc chưa được (có
5
em đọc to quá, có em đọc lại quá lí nhí), tốc độ đọc chưa đảm bảo (đọc còn ê a,
ngắc ngứ, có em đọc lại liến thoắng).
Trăn trở trước thực trạng trên, tôi luôn suy nghĩ: cần phải làm gì đó
Quá trình tìm hiểu thực tế, nhìn chung mỗi giờ Tập đọc đều có 2 phần lớn
tìm hiểu nội dung bài và luyện đọc, hai phần này có thể tiến hành cùng một lúc,
đan xen vào nhau, cũng có thể tách rời nhau tuỳ từng bài và từng giáo viên.
Song dù dạy theo cách nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ tương hỗ,
khăng khít. Phần tìm hiểu bài giúp học sinh tìm hiểu kỹ nội dung nghệ thuật của
từng bài, từ đó học sinh đọc đúng, diễn cảm tốt. Ngược lại đọc diễn cảm để thể
hiện nội dung bài, thể hiện những hiểu biết của mình xung quanh bài học.
Như vậy phần luyện đọc có vai trò quan trọng, học sinh đọc tốt sẽ giúp
các em hoàn thành được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của chính bản thân
mình. Đọc tốt giúp các em hiểu biết tiếp thu được văn minh của loài người, bồi
dưỡng tâm hồn tình cảm, phát triển tư duy.
Trong giảng dạy phân môn Tập đọc, giáo viên phải chú ý đến một số
nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc thực hành). Chúng ta ai cũng
biết trẻ em không thể lĩnh hội được lời nói nếu chúng không nắm được lời
miệng. Do vậy khi giảng dạy cần phải bảo đảm nguyên tắc này. Điều này được
thể hiện rõ hơn ở phần luyện đọc, ở phần này học sinh được rèn luyện về cách
phát âm, cách nghỉ hơi đúng chỗ, cách đọc đúng ngữ điệu.
+ Để giờ Tập đọc đạt kết quả cao thì phải bảo đảm nguyên tắc phát triển
tư duy, phát huy tính tích cực, chủ đạo của học sinh. Do vậy phần luyện đọc giáo
viên cần gợi mở, hướng dẫn học sinh tự phát hiện những chỗ cần ngắt giọng, hạ
giọng ở những câu thơ, những câu văn trong bài từ đó tìm ra cách đọc hay hơn.
Như vậy để học sinh học tốt phân môn Tập đọc đặc biệt là vấn đề rèn đọc
cho học sinh lớp 2, chúng ta cần đảm bảo tốt các nguyên tắc trên.
3.THỰC TRẠNG VIỆC RÈN KỸ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG GIỜ
DẠY TẬP ĐỌC:
3.1.Thực trạng về việc tổ chức dạy học của giáo viên.
Bên cạnh đó, trong giờ Tập đọc vẫn còn một số học sinh ít suy nghĩ để
tìm nội dung bài, ít chú ý đến lỗi phát âm dễ lẫn. Khi trả lời câu hỏi còn ấp úng,
rườm rà, câu văn diễn đạt chưa đầy đủ.
Năm học 2014 – 2015, tôi được nhà trường phân công dạy lớp 2A gồm 23
học sinh. Sau khi học phân môn Tập đọc được 4 tuần, tôi đã tiến hành điều tra
8
kỹ năng đọc của học sinh trong lớp 2A (lớp thực nghiệm), lớp 2B - lớp đối
chứng.
*Đề khảo sát (Học sinh bốc thăm chọn 1 trong 2 đề sau)
Đề 1: Đọc bài thơ: Gọi bạn (SGK - TV2 - tập 1 – trang 28); trả lời câu hỏi 2 và
câu hỏi 4 của bài.
Đề 2: Đọc bài: Làm việc thật là vui (SGK - TV2 - Tập 1 - 16) ; trả lời câu hỏi 1
và câu hỏi 2 của bài.
*Tiến hành khảo sát:
Bước 1: Tôi tổ chức kiểm tra đọc 2 lớp và phân loại kết quả như sau:
+Kết quả đọc đúng:
Đọc đúng
Lớp
Sĩ số
Đọc diễn cảm
tốt
SL
2A
2B
Đọc sai
Đọc chưa diễn
cảm
SL
%
10
9
43.5
45.0
SL
%
6
5
26.1
20.0
Trả lời sai
SL
5
4
%
21.7
thanh
SL
%
SL
%
của lớp
6
4
17.4
5
21.7
3
13.0
Qua thực tế cho thấy ở một số học sinh đọc sai có thể các em vừa lẫn lộn phụ âm
dễ lẫn, vừa đọc ngắc ngứ hoặc ngắt nghỉ không đúng chỗ...
*Xử lý kết quả khảo sát:
- Xác định kết quả học sinh đọc chưa diễn cảm và đọc sai.
- Qua việc giảng dạy tiếp xúc với học sinh, trao đổi với các đồng nghiệp
tôi đã tìm ra một số nguyên nhân của việc học sinh đọc chưa tốt như sau:
+ Do các em còn mải chơi, gia đình ít có sự quan tâm sâu sát tới việc học
tập của các em dẫn đễn kết quả học tập ở môn này chưa cao, thậm chí còn có em
quá yếu. Do đặc điểm dân cư phần lớn các em là con em làm ruộng phong trào
văn hoá - văn nghệ ít có. Đồng thời các em ít có điều kiện đọc sách báo. Ngoài
thời gian học tập trên lớp các em không có thời gian học ở nhà.
+ Phân môn Tập đọc từ lâu tới nay chưa thực sự cuốn hút học sinh. Trong
giờ Tập đọc giáo viên chưa thực sự đánh giá đúng vai trò của người đọc.
Trên đây là một số nguyên nhân mà do quá trình giảng dạy và tìm hiểu tôi
đã rút ra được.
4.2. Giáo viên cần chuẩn bị tốt “khâu” đọc mẫu:
Giáo viên đọc mẫu toàn bài là rất cần thiết, vì muốn học sinh đọc đúng thì
phải giới thiệu cho các em đúng mẫu. Lời đọc đúng và hay của giáo viên có tác
dụng định hướng cách đọc cho học sinh, đồng thời giúp các em nhận thức đúng
hướng nội dung bài học. Nếu bài đọc là một văn bản nghệ thuật thì lời đọc mẫu
của giáo viên còn có ý nghĩa khơi gợi hứng thú và tưởng tượng của các em, làm
cho các em dễ đi vào thế giới của tác phẩm và thấy tác phẩm dưới một ánh sáng
hấp dẫn hơn.
Bài đọc mẫu của giáo viên chính là cái đích mẫu hình thành kỹ năng đọc
cho học sinh nên giáo viên phải đảm bảo đọc chuẩn, đọc đúng, rõ ràng, trôi chảy
và diễn cảm. Trước khi đọc mẫu, giáo viên yêu cầu lớp ổn định trật tự tạo cho
học sinh tâm lý nghe đọc, hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh đọc thầm theo.
11
Khi đọc giáo viên đứng ở vị trí bao quát lớp, không đi lại, giáo viên cầm sách
mở rộng, thỉnh thoảng mắt phải dừng sách nhìn lên học sinh nhưng không để bài
đọc bị gián đoạn.
Ví dụ: Khi dạy bài “Người mẹ hiền” tôi cần chú ý thể hiện giọng đọc
đúng cho từng nhân vật: Đọc lời rủ rê của Minh ở đoạn đầu: háo hức; lời của hai
bạn ở đoạn cuối: rụt rè, hối lỗi; lời bác bảo vệ: nghiêm nhưng nhẹ nhàng; lời cô
giáo: khi ân cần trìu mến, khi nghiêm khắc.
Việc đọc mẫu sẽ không phải là áp đặt học sinh, nếu giáo viên biết khích lệ
những cách đọc hợp lí của từng học sinh, không đòi hỏi các em nhất thiết phải
lặp nguyên xi cách đọc của thầy cô giáo. Tuy nhiên vì học sinh hay bắt chước
thầy cô nên giáo viên cần phải chuẩn bị thật tốt để có cách đọc chuẩn mực.
4.3.Hướng dẫn học sinh luyện đọc với các hình thức phong phú, phát huy
năng lực đọc của học sinh:
Đối với học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, đọc để
đúng, để diễn cảm, để hiểu nội dung của bài Tập đọc thì giáo viên phải chú ý
….í….ẽ
,
….áo…ức
+ Bài tập 2: Điền r, d, gi
… ộn….ã
,
…..ập ….ờn
,
tháng…..iêng
+ Bài tập 3: Điền s, x
…ản …uất
,
…anh….anh
…ung phong
,
,
Dê Trắng thương bạn quá/
Chạy khắp nẻo tìm Bê/
Đến bây giờ Dê Trắng/
Vẫn gọi hoài: / “Bê!// Bê!” //
Khi hướng dẫn ngắt nhịp thơ, tôi gọi học sinh nêu cách ngắt giọng của các
em ở từng dòng thơ. Nếu học sinh nói đúng, giáo viên công nhận ngay và cho
các em dùng ký hiệu đánh dấu vào sách để khi đọc không bị quên. Nếu học sinh
nói sai giáo viên sửa lại cho học sinh. Ngoài ra, tôi còn hướng dẫn học sinh biết
nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm.
Ví dụ: Bài “Mẹ”
Khi đọc bài thơ, học sinh thường ngắt giọng theo nhịp thơ lục bát : 2/4 và
4/4. Tôi đã sửa cho các em khi đọc dòng thơ 7 và 8 cần ngắt theo nhịp 3/3 và 3/5
để làm rõ nghĩa của từng dòng thơ.
Lặng rồi/ cả tiếng con ve
Con ve cũng mệt/ vì hè ắng oi
.................................................................................
Những ngôi sao/ thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ/ đã thức vì chúng con.
Sau khi học sinh luyện đọc ngắt nhịp dòng thơ đúng thì giáo viên giúp
học sinh hiểu nghĩa một số từ ngữ khó trong bài. Việc giải nghĩa từ giáo viên
nên phát huy tính tích cực của học sinh bằng các cách khác nhau như : giáo viên
đưa từ - học sinh nêu nghĩa ; giáo viên đưa nghĩa của từ - học sinh phát hiện từ
14
ứng với nghĩa đó hoặc giáo viên có thể yêu cầu học sinh đặt câu trong đó có
chứa từ cần giải nghĩa. Ngoài ra, giáo viên có thể dùng đồ dùng trực quan hoặc
hình ảnh minh hoạ để giải nghĩa từ, giúp cho bài học được sinh động hơn. Khi
học sinh hiểu nghĩa của một số từ ngữ khó sẽ giúp các em luyện đọc tốt hơn.
hơn. Sau khi xác định ngắt giọng ở mỗi câu văn dài, bao giờ giáo viên cũng phải
nhấn mạnh cho các em thấy tầm quan trọng trong việc ngắt, nghỉ đúng ở các câu
văn, đoạn văn. Muốn xác định cách ngắt giọng đúng thì phải dựa vào nghĩa các
tiếng, từ, dấu câu.
Ví dụ: Bài “Ngôi trường mới”
Câu dài trong bài cần hướng dẫn cách ngắt nghỉ hơi là:
“Cả đến chiếc thước kẻ,/ chiếc bút chì/ sao cũng đáng yêu đến thế !//
Tôi đã chép câu này lên bảng và hướng dẫn cách ngắt hơi như trên
Ví dụ : Bài “Bàn tay dịu dàng”
Học sinh đã phát hiện ra câu dài trong bài là ngắt giọng như sau:
“Thế là chẳng bao giờ An còn được nghe bà kể chuyện cổ tích,/ chẳng
bao giờ An còn được bà âu yếm,/ vuốt ve,…//”
Tôi đã bổ sung thêm cách nghỉ hơi cho các em như sau:
“Thế là / chẳng bao giờ An còn được nghe bà kể chuyện cổ tích,/ chẳng
bao giờ An còn được bà âu yếm,/ vuốt ve,…//”
Tôi giải thích ta ngắt ở sau từ “Thế là” để nhấn mạnh thêm nỗi buồn của
An khi bà mất.
Đối với những bài có lời thoại, giáo viên phải hướng dẫn kỹ học sinh cách
lên giọng cuối câu hỏi và xuống giọng cuối câu kể (câu trả lời) sao cho phù hợp
với giọng của từng nhân vật trong bài.
Ví dụ : Bài “Chiếc bút mực”
Tôi đã hướng dẫn học sinh đọc từng câu thoại của cô giáo và của Lan.
Câu hỏi của cô giáo:
16
-Em làm sao thế? (đọc lên giọng ở cuối câu và thể hiện được thái độ dịu
dàng, thân mật của cô giáo)
Câu trả lời của Lan:
đọc thầm của học sinh bằng cách giáo viên thường ra các câu hỏi giúp học sinh
đọc hiểu (đọc để hiểu – biết – nhớ điều gì?). Ngoài ra cần đa dạng hình thức
đọc thầm với mục đích tạo được những hiệu quả linh hoạt.
Ví dụ: Với bài “Thư Trung thu”, khi tìm hiểu bài GV có thể yêu cầu HS
đọc thầm đoạn 2 để trả lời câu hỏi: Bác Hồ khuyên các cháu làm những việc gì?
với yêu cầu đó HS sẽ tập trung vào đọc bài và sẽ hiểu được nội dung vừa đọc.
Để giúp học sinh đọc hiểu tốt nội dung các bài đọc thì trước hết đòi hỏi
giáo viên phải xây dựng hệ thống câu hỏi để tìm hiểu nội dung bài tập đọc đó.
Khi xây dựng hệ thống câu hỏi, giáo viên phải xác định được mục đích
yêu cầu chính của từng câu hỏi và việc sử dụng câu hỏi đó trong bài. Hệ thống
câu hỏi thật ngắn gọn, cô đọng, hàm súc, giúp học sinh hiểu bài tập đọc nói về
vấn đề gì? đem lại những hiểu biết gì? để mở rộng kiến thức và tích hợp các nội
dung giáo dục học sinh.
Câu hỏi đưa ra không chỉ giới hạn trong kiến thức bài học mà cần phải có
những câu hỏi phát triển kích thích sự tìm tòi cái mới. Hệ thống câu hỏi phải dựa
vào đặc điểm tâm sinh lý học sinh, phù hợp với trình độ học sinh và phải có sự
linh hoạt, không nhất thiết phải đi theo một trình tự nhất định.
Ví dụ: Bài “Bông hoa Niềm Vui”. Tôi đã xây dựng hệ thống câu hỏi như
sau:
-Câu hỏi tìm hiểu đoạn 1 và đoạn 2:
+Mới sáng tinh mơ, Chi đã vào vườn hoa để làm gì?
+Chi tìm bông hoa Niềm Vui để làm gì?
+Bạn Chi đáng khen ở chỗ nào?
+Vì sao Chi không dám tự ý hái bông hoa Niềm Vui?
+Bạn Chi đáng khen ở điểm nào nữa?
-Câu hỏi tìm hiểu đoạn 3 và đoạn 4:
+Khi nhìn thấy cô giáo, Chi đã nói gì?
+Khi biết lí do vì sao Chi rất cần bông hoa cô giáo đã làm gì?
18
19
Tiếp theo, tôi tổ chức cho các em thi đọc với nhau. Ở các tiết chính khoá,
tôi thường cho các em đọc tốt thi đọc trước để các em học sinh khác nhận xét và
học tập. Còn những em đọc chưa tốt, đọc chậm ngoài việc các em được thi đọc ở
tiết chính khoá thì tôi còn dành nhiều thời gian cho các em thi đọc ở tiết Tiếng
Việt tăng để các em có thời gian luyện đọc và tự tin hơn trong khi đọc.
Với các bài học thuộc lòng, giáo viên nên tổ chức cho học sinh thi đọc
thuộc để không khí lớp sối nổi, sinh động và hiệu quả giờ dạy cao hơn
Đối với các bài đọc có lời đối thoại của các nhân vật thì tôi tổ chức cho
học sinh đọc dưới hình thức phân vai. Đây là một hình thức đọc có hiệu quả đối
với các tác phẩm có đối thoại, khi đọc giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhập
vai, giúp cho học sinh có thể đọc và hình dung được sâu sắc thế giới nghệ thuật
phong phú trong tác phẩm. Hơn nữa đây cũng là dịp giúp học sinh có điều kiện
phân biệt giữa giọng kể, giọng trần thuật, miêu tả, đối thoại trong văn bản, đọc
đoạn văn em thích, đọc giọng nhân vật, đọc nối tiếp, đọc theo nhóm, đồng thanh,
cá nhân, từng đoạn, cả bài ...
Ví dụ: Bài “Chuyện bốn mùa”
Sau khi tìm hiểu bài xong, tôi cho HS luyện đọc lại dưới hình thức đọc phân vai
Tôi cho học sinh nêu giọng đọc của từng nhân vật:
.Giọng người dẫn chuyện: chậm dãi, khoan thai
.Giọng Đông nói với Xuân: hơi cao giọng và có vẻ mong muốn được như Xuân
.Giọng Xuân: nhẹ nhàng.
.Giọng Hạ: vui tươi nhí nhảnh.
.Giọng Đông: tự nói về mình buồn tủi.
.Giọng bà Đất: ôn tồn, hiền hậu
Khi tổ chức đọc thì lượt đầu giáo viên và 5 em đọc tốt đọc; sau đó giáo viên cho
các đối tượng học sinh ở trong lớp được luyện đọc. Sau mỗi lần đọc, giáo viên
tổ chức cho HS nhận xét, góp ý, đánh giá lẫn nhau. Như vậy, nhiều em sẽ được
nhỏ này ở mọi lúc mọi nơi, mọi môn học, không nên hời hợt, cho qua khi các
em đọc sai lỗi, với học sinh lớp 2 cần tập cho các em thói quen tốt: đọc đúng,
nhìn kỹ, cố gắng, nhẫn nại, chịu khó vv… để tập cho các em nền nếp tốt trong
học tập ở hôm nay và mai sau.
5. DẠY THỰC NGHIỆM:
21
(Giáo án thực nghiệm lưu ở phụ lục 2 của sáng kiến)
6. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Qua quá trình giảng dạy, tìm hiểu, nghiên cứu và thực nghiệm một số biện
pháp nói trên vào trực tiếp lớp mình chủ nhiệm (lớp 2A) và khảo sát chất lượng
lớp đối chứng (lớp 2B), tôi thu được kết quả qua khảo sát như sau:
Đề khảo sát (Học sinh bốc thăm chọn 1 trong 2 đề sau)
+ Đề 1: Đọc bài thơ: Mùa xuân đến (SGK TV2, tập 2, trang 17) và trả lời câu
hỏi 1, 2 của bài.
+ Đề 2: Đọc bài: Vè chim (SGK TV2, tập 2, trang 28) và trả lời câu hỏi 1 và câu
hỏi 3 của bài.
Kết quả khảo sát:
+Kết quả đọc đúng
Lớp
Sĩ số
Đọc diễn cảm
Đọc đúng
35.0
+Kết quả đọc hiểu:
Lớp
Trả lời đúng
SL
%
2A
22
95.7
2B
18
90.0
Đọc sai
SL
%
SL
%
4
4
17.5
20.0
3
các giờ dạy Tập đọc đã đem lại lợi ích thiết thực trên các phương diện sau:
- Về chất lượng học tập của học sinh: So với việc không vận dụng các
biện pháp kể trên thì chất lượng đọc của học sinh lớp 2 còn ở mức độ, học sinh
học tập còn thụ động, chưa phát triển hết khả năng học tập của các em. Còn việc
vận dụng các biện pháp trên vào thực tiễn giảng dạy thì chất lượng học tập của
học sinh được nâng cao, các em đạt chuẩn kiến thức - kỹ năng môn học. Đặc
biệt, vận dụng các giải pháp này, học sinh được phát triển tư duy, phát huy tính
tích cực, chủ đạo của các em. Từ đó giúp các em phát triển được năng lực giao
tiếp bằng chính ngôn ngữ của các em
- Về chất lượng dạy của giáo viên: Việc vận dụng các biện pháp trên vào
giảng dạy giúp cho tiết học diễn ra nhẹ nhàng, giáo viên gần gũi với học sinh,
tạo được mối tình cảm thân thiết giữa thầy và trò, tạo được môi trường học tập
thân thiện. Ngoài ra, việc các em tự giác, tích cực học tập, có kỹ năng đọc tốt
trong giờ Tập đọc đã góp phần vào thành công của tiết dạy, giúp giáo viên đạt
được mục tiêu môn học đề ra.
7. BÀI HỌC KINH NGHIỆM :
Qua nghiên cứu về đặc thù phân môn Tập đọc, tôi thấy đây là một phân
môn rất quan trọng vì nó không chỉ hình thành kỹ năng nghe – nói – đọc cho học
sinh mà nó còn góp phần hình thành nhân cách cho học sinh Tiểu học, thông qua
việc cảm thụ nội dung của bài văn, bài thơ. Vậy qua nghiên cứu, giảng dạy, tôi
rút ra được một số kinh nghiệm để nâng cao chất lượng đọc như sau:
- Giáo viên phải nghiên cứu và nắm chắc chương trình, nội dung (các loại
bài cụ thể).
23
- Xác định rõ mục tiêu của từng bài đọc, lập kế hoạch giảng dạy thật chu
đáo.
- Giáo viên phải có sự chuẩn bị bài trước khi lên lớp, phải dự đoán được
dùng để giới thiệu, khai thác nội dung bài; bảng phụ để chép các đoạn văn, đoạn
thơ hướng dẫn luyện đọc; sách tham khảo Tiếng Việt 2 để giúp giáo viên nghiên
cứu, bổ trợ bài dạy; sách tham khảo dùng cho dạy các tiết ở buổi 2 ; các tài liệu
liên quan đến dạy và đánh giá học sinh môn Tiếng Việt lớp 2,…
- Về giáo viên: phải vận dụng linh hoạt đổi mới phương pháp dạy học, đổi
mới kiểm tra đánh giá; biết đáp ứng nhu cầu và mục đích của học sinh. Đồng
thời, giáo viên phải kiên trì, hiểu tâm lý của học sinh để điều chỉnh nhịp độ
giảng dạy theo nhịp độ phát triển của học sinh; biết cập nhật những thông tin
mới liên quan đến việc dạy và học; biết vận dụng ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học đạt hiệu quả
- Về phụ huynh học sinh: Phụ huynh biết ủng hộ các hoạt động dạy học
của giáo viên như: động viên con em mình học tập, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học
tập cho các em,… Phụ huynh cũng phải biết được những thông tin về một số
vấn đề đổi mới của giáo dục Tiểu học hiện nay như việc đánh giá học sinh theo
Thông tư 30 để có sự hỗ trợ giáo viên trong việc kèm cặp con em mình.
- Về học sinh: Học sinh tích cực chủ động, tự học và sáng tạo trong việc
học Tập đọc.
Đặc biệt, một điều kiện quan trọng để giúp cho sáng kiến được nhân rộng
đó là cần sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện của các cấp quản lý trong việc tổ
chức các buổi hội thảo, chuyên đề không những ở cấp trường mà mở rộng sự
giao lưu học hỏi với các trường bạn. Qua đó tôi có thể truyền đạt tới đồng
nghiệp những kinh nghiệm của bản thân, đồng thời được góp ý, được học hỏi từ
những kinh nghiệm quý giá khác.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN:
1.1. Đánh giá thực trạng
(như đã trình bày ở mục 3 – phần mô tả sáng kiến)
1.2. Các giải pháp đã thực hiện: