MỤC LỤC
I.
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………… . 2
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………. 2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài………………………………… 2
3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………. 3
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu………………………………… 3
5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………3
II.
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………..3
1. Cơ sở lí luận……………………………………………………3
2. Thực trạng……………………………………………………...4
2.1.
Thuận lợi, khó khăn……………………………………...6
2.2.
Thành công, hạn chế……………………………………. 7
2.3.
Mặt mạnh, mặt yếu………………………………………8
2.4.
Các nguyên nhân các yếu tố tác động………………….. .8
PHẦN KẾT LUẬN………………………………………………....
…..25
1
I.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Học sinh tiểu học là lứa tuổi đang hình thành giá trị nhân cách, giàu mơ
ước, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về
xã hội , còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động ....Đặc biệt là trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ
thường xuyên chịu đan xen giữa những yếu tố tích cực và tiêu cực : một là các
em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh vì sống trong
gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; hai là những em sống trong gia đình
với nhiều lo toan cho cuộc mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái. Môi trường
hoàn cảnh khác nhau ấy lại thường cùng mang đến cho các em một thiếu sót lớn
trong từng bước trưởng thành, đó là kĩ năng sống. Vì vậy, việc rèn kĩ năng sống
cho học sinh (thế hệ trẻ) là rất cấn thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách
nhiệm với bản thân, gia đình ,cộng đồng và Tổ quốc ; giúp các em có khả năng
ứng phó trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với
gia đình ,bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành
mạnh . Với những lí do đó mà tôi quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp rèn
kĩ năng sống (KNS) cho học sinh lớp 2 thôngqua các môn học” để nghiên cứu
và trải nghiệm xin được chia sẻ.
2.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Kỹ năng sống lớp 2 ở trường tiểu học Lê Hồng Phong, huyện Krông Ana.
Từ đầu năm học 2014 – 2015 đến hết học kỳ 1 năm 2016
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm giáo dục
II.PHẦN NỘI DUNG
Cơ sở lí luận
* Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân
tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc
sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại… Kĩ năng
sống đơn giản là tất cả điều cần thiết mà chúng ta phải biết để có được khả năng
thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống.
3
Nghiên cứu gần đây về sự phát triển của não trẻ cho thấy rằng khả năng
giao tiếp với mọi người, khả năng biết tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của
mình, biết cách ứng xử phù hợp với các yêu cầu, biết giải quyết các vấn đề cơ
bản một cách tự lập có những ảnh hưởng rất quan trọng đối với kết quả học tập
của trẻ tại trường.
* Vì sao phải rèn luyện KNS cho học sinh?
Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây
dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực
trên cơ sở giúp HS có thái độ, kiến thức, kĩ năng, giá trị cá nhân thích hợp với
thực tế xã hội. Mục tiêu cơ bản của giáo dục KNS là làm thay đổi hành vi của
HS, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực
thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao
Qua thực tế giảng dạy ở lớp 2, trường tiểu học Lê Hồng Phong, bản thân
thấy kĩ năng sống của học sinh chưa cao. Chỉ một số học sinh có hành vi, thói
quen, kĩ năng tốt. Còn phần lớn các em có nhận xét, đánh giá về sự việc nhưng
chưa có thái độ và cách ứng xử, cách xưng hô chuẩn mực. Học sinh thể hiện kĩ
năng còn đại khái, chưa mạnh dạn thể hiện kĩ năng của bản thân. Các em còn
ngại nói, ngại viết, khả năng tự học, tự tìm tòi còn hạn chế.
Qua tiến hành khảo sát ( lần 1) ở lớp 2A đầu năm học với chủ đề “ Kĩ
năng của em”; kết quả như sau:
Môn Tự nhiên & Xã hội
Thực hành thảo luận nhóm
TSHS
30
Biết lắng nghe, hợp tác
Chưa biết lắng nghe, hay tách ra khỏi
nhóm
SL
TL%
SL
TL%
13
14.4
63.3
Kết quả trên cho thấy, số học sinh có kĩ năng tốt còn ít và số học sinh có
5
kĩ năng chưa tốt còn nhiều. Chính vì vậy mà việc rèn kĩ năng sống cho học sinh
là vấn đề cần quan tâm. Muốn làm tốt công tác này chúng ta cần phải làm gì?
Nhất là những người làm công tác giáo dục vì nhà trường là nơi tốt nhất để hình
thành nhân cách cho học sinh. Đây cũng chính là câu hỏi mà bản thân cần phải
tìm tòi nghiên cứu. Từ những thực trạng trên thôi thúc bản thân tìm ra nguyên
nhân dẫn đến tình trạng “ Học sinh có kĩ năng sống chưa tốt ” là do đâu? để từ
đó tìm ra biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả.
Trong quá trình rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 bản thân đã gặp
những thuận lợi và khó khăn sau:
2.1.
Thuận lợi - Khó khăn
* Thuận lợi
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động phong trào “ Xây dựng trường học
thân thiện - học sinh tích cực ” Phòng Giáo dục và Đào tạo cũng đã có kế hoạch
từng năm học với những biện pháp cụ thể để rèn kĩ năng sống cho học sinh, đây
chính là những định hướng giúp giáo viên thực hiện như: Rèn luyện kĩ năng ứng
xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kĩ năng làm việc,
sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kĩ năng
phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn
luyện kĩ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các
tệ nạn xã hội.
Trường học nơi bản thân công tác là ngôi trường đã đạt chuẩn quốc gia
2.2. Thành công – Hạn chế
* Thành công
Sau những giờ học, giờ sinh hoạt tập thể,tôi nhận thấy các em có tiến bộ
hơn rõ rệt. Các kĩ năng sống cần thiết được hình thành: Cơ bản các em rất
ngoan, luôn tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên lớp mà các nhóm trưởng
giao, hoàn thành bài vở ở nhà, nề nếp tốt, lao động vệ sinh trường lớp sạch sẽ,
chấp hành tốt mọi nội quy của trường của lớp đề ra, không còn đối tượng học
sinh cá biệt. Các em nhiệt tình giúp nhau trong học tập để cùng tiến bộ, chia sẻ
và hợp tác trong mọi công việc chung của lớp một cách tự giác.
Luôn tận tâm với lớp nên bản thân tôi nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình
giúp đỡ của Ban Giám hiệu nhà trường, ban đại diện cha mẹ học sinh, các phong
7
trào ngày càng có hiệu quả hơn.
* Hạn chế
Hạn chế biểu hiện rõ nhất là: Các em thường rụt rè, nhút nhát trước lớp.
Khi phát biểu xây dựng bài còn không dám giơ tay, nói còn nhỏ với tinh thần
trách nhiệm chưa cao.
Một số tiết dạy phần rèn luyện kĩ năng sống còn ít. Cộng đồng khi được
mời cùng tham gia chia sẻ học tập còn e ngại...
Thời gian đầu các nhóm trưởng chưa biết cách điều khiển nên chưa phát
huy hết năng lực sáng tạo và tính tích cực của các bạn.
Mặt mạnh - Mặt yếu
* Mặt mạnh
Bản thân được tham gia tập huấn và thực hành trải nghiệm lớp giáo dục
Kĩ năng sống của Sở GD&ĐT tổ chức tại Ko Tam, thành phố Ban Mê Thuột đã
cung cấp cho giáo viên chủ nhiệm kĩ năng cần thiết về phương pháp tổ chức các
hoạt động giáo dục kĩ năng sống dưới sân cờ. Giáo viên chủ nhiệm có thể dựa
vào những tài liệu này để xây dựng nội dung riêng phù hợp với tình hình thực tế
hướng sai các giá trị là nguyên nhân gây ra những hiện tượng đáng tiếc trong
ứng xử của trẻ. Phương pháp giáo dục nhồi nhét, lí thuyết suông, không tạo
được cho trẻ khả năng tư duy, óc phân tích, suy xét, phán đoán, không tạo cơ hội
cho trẻ trải nghiệm những vấn đề thực tế trong cuộc sống hiện đại…Qua nhiều
năm thực tế giảng dạy ở trường, bản thân nhận thấy kĩ năng sống học sinh chưa
tốt là do những nguyên nhân sau:
- Giáo viên và người lớn chưa thật gần gũi, thân thiện với học sinh.
- Việc rèn kĩ năng sống qua việc tích hợp vào các môn học còn hạn chế.
- Rèn kĩ năng sống qua các tiết sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục, vui
chơi còn chưa sâu sát.
- Giáo viên khuyến khích động viên khen thưởng học sinh còn ít.
- Công tác tuyên truyền các bậc cha mẹ thực hiện dạy các em các kĩ năng
sống cơ bản chưa nhiều.
- Chính việc thiếu hụt nghiêm trọng các kĩ năng sống do sự hạn chế của
giáo dục gia đình và nhà trường, sự phức tạp của xã hội hiện đại là nguyên nhân
trực tiếp khiến học sinh gặp khó khăn trong xử lí với tình huống thực tế của
cuộc sống.
2.4.
Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Đây là một đề tài đơn giản, dễ áp dụng, mục đích rèn cho học sinh những
9
kĩ năng sống thực chất nhằm phát huy tính tự giác, tính tích cực. Đặc biệt phát
huy được năng lực sở trường của mỗi cá nhân học sinh. Góp phần thúc đẩy
phong trào thi đua “Trường học thân thiện học sinh tích cực” của trường, của
lớp, tạo cho học sinh thói quen sinh hoạt tập thể vui tươi, lành mạnh, thông qua
các môn học giúp tình thầy trò xích lại gần nhau hơn, tạo cho các em sự tự tin,
nào đó. Và ngược lại nếu được tham gia tốt các phong trào thì các em sẽ xử lí
vấn đề nhanh nhẹn hơn, mạnh dạn hơn, tự tin hơn. Thông qua các hoạt động đó,
tinh thần đoàn kết, ý thức tập thể cũng được hình thành và vun đắp. Như vậy, có
thể khẳng định rằng: môn học giúp cho các em xóa bỏ tính rụt rè, nhút nhát; rèn
luyện tính mạnh dạn, sự tự tin đó chính là môn đạo đức, tự nhiên và hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên. Người giáo viên chủ nhiệm chính là người cố vấn giúp
cho các em tham gia vào các hoạt động để rèn luyện các kĩ năng cơ bản, cần
thiết cho mình.
Như vậy, việc rèn kĩ năng sống thông qua các môn học và hoạt động
ngoài giờ lên lớp là một trong những nội dung quan trọng góp phần tích cực vào
việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Và cần được tổ chức
một cách thường xuyên, hiệu quả.
Từ cơ sở và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu tôi đã tìm ra một số biện
pháp giúp giáo viên rèn kĩ năng sống cho học sinh tiểu học có tính khả thi sau:
3. Giải pháp, biện pháp
3.1.
Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Tất cả vì học sinh thân yêu, vì mục tiêu giáo dục nhằm nâng cao chất
lượng giảng dạy. Hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
để học sinh tiếp tục học lên những lớp trên. Học sinh tìm được niềm vui ở đó,
tìm được sự tin tưởng, tìm được tình bạn trong sáng, tình thầy trò cảm động. Nơi
các em được ươm mầm, được chăm sóc và yêu thương.
Trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình
thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp
giữa thầy - trò, giữa trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên
con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong
tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người
Nơi sinh:…………………………………………………………..
Quê quán: …………………………………………………………
Điều tôi thích nhất (sở thích):……………………………………..
Muốn được kết bạn với ( bạn):……………………………
12
Với học sinh lớp 2 các em chỉ biết tên, lớp và sở thích của mình, còn
ngày sinh, nơi sinh, quê quán …thì chắc chắn không thể biết được. Vì vậy tôi tổ
chức cho các em chơi trò chơi “kết bạn”
* Cách chơi: Mỗi em đến góc học tập lấy một phiếu rồi tự điền những
điều nói về mình vào phiếu. Dán phiếu của mình xung quanh lớp để mọi người
có thể đọc được. Sau đó cho các em đọc phiếu của các bạn xem ai có sở thích
giống mình thì đến gặp bạn đó và nói:” Chúng ta cùng kết bạn”.
* Qua hoạt động giúp cho các em hiểu biết thêm về ngày sinh, nơi sinh,
quê quán, … của mình giới thiệu với bạn. Chú trọng rèn luyện cho học sinh các
kĩ năng như:
- Kĩ năng nhận thức về bản thân.
- Kĩ năng giao tiếp hòa nhập cuộc sống.
- Kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ.
- Kĩ năng thuyết trình và nói trước bạn, trước tập thể lớp.
* Đây là hoạt động giúp cô trò và các bạn học sinh hiểu nhau, đồng thời
tạo một môi trường học tập thân thiện “Trường học thật sự trở thành ngôi nhà
thứ hai của các em, các thầy cô giáo là những người thân trong gia đình". Đây
cũng chính là một điều kiện rất quan trọng để phát triển khả năng giao tiếp của
học sinh. Bởi học sinh không thể mạnh dạn, tự tin trong một môi trường mà giáo
viên luôn gò bó và áp đặt.
Tuần tiếp theo, bản thân cho học sinh tự do lựa chọn vị trí ngồi của mình
để qua đó phần nào nắm được đặc điểm tính cách của các em: mạnh dạn hay
nhút nhát, thụ động hay tích cực, thích thể hiện hay không thích...Và tiếp tục qua
………………………..
Chiều
………………………
16 giờ 30 – 17 giờ
…………………….
Tối
19 giờ 30 -20 giờ 30
20 giờ 30 – 21 giờ
21 giờ
Công việc
Em ngủ dậy, tập thể dục, vệ sinh cá nhân
……………………………………………….
Em rửa mặt, rửa chân tay.
………………………………………………
……………………………………………..
Em cho gà ăn, quét nhà giúp mẹ
Em học bài.
………………………………………….
………………………………………….
Với dạng bài tập này các em cần tự điền vào phiếu đúng thời gian và
công việc của mình sao cho phù hợp với bản thân. Giáo viên chỉ là người theo
giỏi hỗ trợ. Sau đó các em tự trao đổi và tự đành giá hoàn thành nhiệm vụ.
Hoạt động này giúp các em quản lý thời gian, là khả năng các em biết
tập trung sắp xếp công việc và giải quyết công việc trọng tâm trong một thời
14
Bài: "Ăn uống thế nào để cơ thể khỏe mạnh?”
Với bài học này tôi cho học khởi động để làm nóng bầu khí lớp học qua
trò chơi “Mẹ đi chợ”
• Cách chơi: Lớp đứng thành vòng tròn dưới sự điều khiển của quản trò.
• Quản trò hô trước - Cả lớp đáp lại theo các cụm từ sau.
Quản trò hô:
Mẹ đi chợ mua rau
Lớp đáp:
Rau xanh
Quản trò:
Mẹ đi chợ mua cá
Lớp đáp:
Nấu canh chua
Quản trò hô:
Mẹ đi chợ mua cua
Lớp đáp:
Cua kẹp
16
nước uống đầy đủ.
17
* Trong hoạt động này tôi tập trung rèn các kĩ năng:
- Kĩ năng vận động và gây hứng thú
- Kĩ năng hợp tác.
- Kĩ năng làm việc nhóm.
Qua đó giúp các em hiểu rằng ăn uống đủ chất và hợp lí giúp cho chúng ta
khoẻ mạnh, biết phòng tránh một số bệnh lây qua đường tiêu hóa, biết những
việc nên làm, có ý thức tự giác làm vệ sinh cá nhân hằng ngày, tự giác thực hiện
nếp sống vệ sinh, khắc phục những hành vi có hại cho sức khoẻ. Biết tham gia
các hoạt động và nghỉ ngơi một cách hợp lí để có sức khoẻ tốt phát triển thể chất
và trí tuệ. Từ đó rèn cho các em KNS tự chăm sóc bản thân.
Ví dụ 4: Chủ đề An toàn giao thông
Bài: Kỹ năng đi bộ và qua đường an toàn
Ở hoạt động này tôi gợi mở bằng một hệ thống câu hỏi:
Em thường đi cùng với ai khi đi trên đường? Khi đi bộ qua đường em phải
đi ở đâu? ; Nếu đường không có vỉa hè thì đi thế nào?; Em có nên chơi đùa trên
đưòng phố không? Có leo trèo qua dải phân cách và chơi gần dải phân cách
không? Vì sao? ; Khi ngồi trên xe máy em phải như thế nào? Em hãy nêu cách
đội mũ bảo hiểm? Nêu sự cần thiết phải đội mũ bảo hiểm?; Các em đã nhìn thấy
tai nạn trên đường chưa? Theo các em vì sao tai nạn xảy ra? ;...
Giáo dục và rèn cho các em các KNS phòng tránh các tai nạn trên đường
như: Không được chạy lao ra đường, không được bám bên ngoài ô tô, không
được thò tay, chân, đầu ra ngoài khi đi trên tàu, xe, ghe, đò,...vv.
Mời các em tham dự các hội thi: An toàn giao thông, thực hành đi xe đạp…
18
thông mang lại hiệu quả rất cao trong việc chuyền tải các thông điệp giáo dục tới
học sinh, nhằm xây dựng nếp sống văn minh trong nhà trường, tạo cuộc sống
vui tươi, lành mạnh, lôi cuốn học sinh vào các hoạt động thẩm mĩ, hấp dẫn học
mà chơi, chơi mà học. Thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ đã giáo dục
cho học sinh nếp sống có kỉ luật, trật tự, vệ sinh.....
Trong hoạt động rèn cho các em kĩ năng mạnh dạn, tự tin, kĩ năng diễn
xuất trên sân khấu, kĩ năng diễn đạt cảm xúc, kĩ năng làm chủ cảm xúc.
20
tốt hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự tin hơn trong cuộc sống.
Ngoài ra tôi còn dùng đèn chiếu phục vụ và giới thiệu cho học sinh về
Biển đảo của quê hương” . Qua các hình ảnh chân thật giáo dục HS lòng yêu
quê hương đất nước và các em biết giữ gìn và bảo vệ vùng biển thiêng liêng của
Tổ Quốc không để kẻ thù xâm phạm.
Biển đảo quê hương Việt Nam
21
Một điều không thể thiếu được để tạo sự hưng phấn, vui vẻ, phấn khởi,
giúp các em có ý thức cao trong việc rèn luyện các kĩ năng bản thân luôn chú ý
đến công tác động viên, khen thưởng học sinh qua biện pháp sau:
e. Động viên - Khen thưởng
Để động viên, khuyến khích học sinh thực hiện tốt việc rèn luyện các kĩ
năng, ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm học, bản thân đưa ra kế hoạch thông
báo cho phụ huynh biết. Trao đổi với Ban chấp hành hội phụ huynh cùng phối
hợp và dành một khoản riêng để khen thưởng kịp thời, động viên các em để tạo
cho các em có một động cơ tốt trong việc duy trì thực hiện. Bản thân theo dõi
thuộc rất lớn vào tư cách, đạo đức và năng lực của thầy giáo, cô giáo. Muốn giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh tốt, trước hết, mỗi thầy giáo, cô giáo phải giáo
dục cho học sinh bằng sự nêu gương. Thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu trong
ứng xử, trong giáo dục nhân cách.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính độc lập, sáng tạo
của học sinh gắn với thực tiễn, có tài liệu bổ trợ phong phú, sử dụng thiết bị dạy
học và ứng dụng trong dạy học, luôn tạo cho các em tính chủ động, tích cực,
hứng thú trong học tập; phát huy tính sáng tạo, tạo được bầu không khí cởi mở
thân thiện của lớp của trường. Trong giờ học, giáo viên cần tạo cơ hội cho các
em được nói, được trình bày trước nhóm bạn, trước tập thể, nhất là các em còn
hay rụt rè, khả năng giao tiếp kém qua đó góp phần tích lũy kỹ năng sống cho
các em.
Giáo viên chủ nhiệm: Quan tâm gần gũi đối với các em học sinh là người
cha, người mẹ thứ hai của các em để hiểu được tâm tư nguyện vọng của các em,
phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, làm cho họ nhận thức được tầm quan
trọng và cùng với nhà trường giáo dục và rèn luyện cho con em về kỹ năng
sống.
Như vậy kĩ năng sống được giáo dục ở nhà và ở trường thông qua các
môn học chính khóa và ngoại khóa. Giáo dục kĩ năng sống cần bắt đầu từ nhỏ,
từ từng hành vi cá nhân đơn giản nhất, theo đó hình thành tính cách và nhân
cách cho học sinh tiểu học.
Chính nhờ việc chú trọng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của nhà
trường đã tạo tinh thần đoàn kết, gắn bó, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong học
tập, học sinh nỗ lực tiếp thu bài giảng và tìm tòi những kiến thức liên quan đến
bài học để liên hệ áp dụng vào thực tiễn, qua đó phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh. Các em cảm thấy rất vui và biết thêm nhiều kiến
thức. Nhờ đó các em biết tự chăm sóc bản thân như là tự sắp xếp góc học tập
23
* Kết quả
Khảo sát lần 2 ở lớp 2A ( cuối học kì 1) với chủ đề “ Kĩ năng của em” kết
quả cụ thể như sau:
Môn Tự nhiên & Xã hội
Thực hành thảo luận nhóm
TSHS
30
Biết lắng nghe, hợp tác
Chưa biết lắng nghe, hay tách ra khỏi
nhóm
SL
TL%
SL
TL%
24
80
06
20
trong nhiều nghi thức lời nói, các em biết vận dụng những lời nói thân thiện vào
thực tế, những lời chào, cảm ơn hay xin lỗi, những yêu cầu, đề nghị lịch sự,... đã
trở thành thói quen được các em vận dụng hằng ngày. Các em rất hăng hái phát
biểu trong tiết học và luôn được nhận cờ chiến thắng trong tuần. Phụ huynh học
sinh rất vui mừng phấn khởi với kết quả này của lớp.
Kinh nghiệm trên đã áp dụng rộng rãi ở tất cả các lớp trong khối 2 được
các đồng nghiệp đồng tình ủng hộ. Học sinh trong khối ngoan hơn, tự giác chủ
động, mạnh dạn hơn, đã thể hiện được cách xử lí tình huống phù hợp.
25