PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP. PLEIKU
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP
4 THÔNG QUA MÔN TIẾNG VIỆT.
NĂM HỌC: 2012 – 2013
1
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP
4 THÔNG QUA MÔN TIẾNG VIỆT.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá
nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng
trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội trong thực
tại… Kĩ năng sống đơn giản là tất cả đều cần thiết, chúng ta phải biết để có
được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc
sống. Chính vì vậy việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải bảo đảm
các yếu tố như:
+ Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội.
+ Giúp học sinh hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành
vi, thói quen ứng xử có văn hoá, hiểu biết và chấp hành pháp luật…
Tuy nhiên, giáo dục kĩ năng sống để đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu
tố chứ không phải chỉ từ các bài giảng.
Kĩ năng sống là cái có sau những trải nghiệm thực tế nên việc lồng
ghép này sẽ không dừng lại ở mức giảng dạy lý thuyết mà sẽ cụ thể hóa
thành từng trường hợp, hoàn cảnh và yêu cầu học sinh xử lý.
Trong chương trình dạy kĩ năng sống, không có khái niệm “vâng
lời”, chỉ có khái niệm “lắng nghe”, “đồng cảm”, “chia sẻ”. Mục tiêu của
giáo dục kĩ năng sống là rèn luyện cách tư duy tích cực, hình thành thói
quen tốt thông qua các hoạt động và bài tập trải nghiệm, chứ không đặt
mục đích “rèn nếp” hay “nghe lời”. Công dân toàn cầu là người biết suy
nghĩ bằng cái đầu của mình, biết phân tích đúng sai, quyết định có làm điều
này hay điều khác và chịu trách nhiệm về điều đó, chứ không tạo ra lớp
thiết cho các em học sinh, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của người học, phù hợp với từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc
theo nhóm, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
3
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh phổ thông nói chung, học sinh
tiểu học nói riêng
Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học nhằm đạt mục
tiêu trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù
hợp; tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh sử dụng quyền và bổn phận của mình
và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học được tập trung
chủ yếu ở 4 môn học: Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học và Tự nhiên xã hội.
Bộ Giáo dục & Đào tạo đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống lồng
ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và
đúng đắn. Tuy nhiên, để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả
đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không chỉ từ các bài giảng. Học để tự tin, tự lập.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một nội dung được đông đảo
phụ huynh và dư luận quan tâm, bởi đây là một chương trình giáo dục hết
sức cần thiết đối với học sinh.
Nhiều ý kiến cho rằng, các trường học hiện nay đã quá nặng về dạy
kiến thức, ít quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh dẫn đến
có một bộ phận học sinh trong các trường thiếu hụt hiểu biết về môi trường
xung quanh, ứng xử cần thiết trong cuộc sống. Điều này cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong hành vi, lối sống đạo đức
của nhiều học sinh. Kĩ năng sống thúc đẩy phát triển cá nhân và xã hội, có
thể nói kĩ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành
thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Giáo dục kĩ năng sống là
yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ, nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo
dục phổ thông.
Chính sự cần thiết ấy, bản thân tôi đã cố gắng thử nghiệm nhiều
sát được và có thể có khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và
với xã hội, có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc
5
sống. Vì thế, để thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành tìm hiểu nội dung giáo
dục kĩ năng sống và sách giáo khoa môn Tiếng Việt cụ thể như sau:
TUẦN
MÔN
HỌC
TÊN BÀI DẠY CÁC KĨ NĂNG SỐNG CẦN ĐẠT
1
Tập đọc
Dế Mèn bênh vực kẻ
yếu
- Thể hiện sự thông cảm.
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
Tập đọc Mẹ ốm
- Thể hiện sự thông cảm.
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
2
Tập đọc
Dế Mèn bênh vực kẻ
yếu
( TT)
- Thể hiện sự thông cảm.
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
Tập làm
văn
5 Tập đọc
Những hạt thóc
giống
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Tư duy phê phán.
6
Tập đọc
Nỗi dằn vặt của An-
đrây-ca
- Ứng xử lịch sự trong giao tiếp.
- Thể hiện sự cảm thông.
- Xác định giá trị.
Tập đọc Chị em tôi
- Tự nhận thức về bản thân.
- Thể hiện sự cảm thông.
- Xác định giá trị.
- Lắng nghe tích cực.
7 Tập đọc Trung thu độc lập - Xác định giá trị.
-Đảm nhận trách nhiệm (xác định
nhiệm vụ của bản thân).
6
Tập làm
văn
Luyện tập phát triển
câu chuyện
- Tư duy sáng tạo, phân tích, phán
đoán.
- Thể hiện sự tự tin.
- Hợp tác.
11
Tập đọc Có chí thì nên
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Lắng nghe tích cực.
Tập làm
văn
Luyện tập trao đổi ý
kiến với người thân
- Thể hiện sự tự tin.
- Lắng nghe tích cực.
- Giao tiếp.
- Thể hiện sự cảm thông.
12 Tập đọc
Vua tàu thủy Bạch
Thái Bưởi
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Đặt mục tiêu.
13 Tập đọc Văn hay chữ tốt
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Đặt mục tiêu.
- Kiên định.
14
Tập đọc Chú Đất Nung
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Thể hiện sự tự tin.
Tập đọc Chú Đất Nung (tt)
- Hợp tác.
- Đảm nhận trách nhiệm.
20
Tập đọc Bốn anh tài (tt)
- Tự nhận thức, xác định giá trị cá
nhân.
- Hợp tác -Đảm nhận trách nhiệm.
Tập làm
văn
Luyện tập giới thiệu
địa phương
- Thu thập, xử lí thông tin (về địa
phương cần giới thiệu).
- Thể hiện sự tự tin.
- Lắng nghe tích cực, cảm nhận, chia
sẻ, bình luận (về bài giới thiệu).
21
Tập đọc
Anh hùng lao động
Trần Đại Nghĩa
- Tự nhận thức, xác định giá trị cá
nhân.
- Tư duy sáng tạo.
Kể chuyện
Kể chuyện được
chứng kiến hoặc
tham gia
- Giao tiếp.
- Thể hiện sự tự tin.
- Ra quyết định.
- Ứng phó, thương lượng.
- Tư duy sáng tạo: bình luận, phân
tích.
26 Tập đọc Thắng biển
- Giao tiếp: thể hiện sự cảm thông.
- Ra quyết định, ứng phó.
- Đảm nhận trách nhiệm.
29
Tập đọc
Ga-vrốt ngoài chiến
lũy
- Tự nhận thức: xác định giá trị bản
thân.
- Đảm nhận trách nhiệm.
- Ra quyết định.
Luyện từ
& câu
Giữ phép lịch sự khi
yêu cầu đề nghị
- Giao tiếp: ứng xử, thể hiện sự cảm
thông.
- Thương lượng.
- Đặt mục tiêu.
8
30
Tập đọc
Hơn một nghìn ngày
vòng quanh trái đất
- Tự nhận thức,xác định giá trị bản
thân.
Thế nhưng Giáo dục kĩ năng sống trong trường học là một việc làm
cần thiết, không thể thiếu, bên cạnh đó việc khắc sâu và tạo thành kĩ năng
thuần thục cho học sinh là việc làm thường xuyên không ai hết chính là
những người gần gũi học sinh nhất đó là giáo viên và phụ huynh học sinh.
Bên cạnh việc học tập là một nhu cầu thường trực của con người
trong mọi thời đại. Học tập không chỉ dừng lại ở các tri thức khoa học
thuần túy mà còn được hiểu là mọi tri thức về thế giới trong đó có cả những
mối quan hệ, cách thức ứng xử với môi trường sống xung quanh. Kĩ năng
sống là một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong quá
trình tồn tại và phát triển. Chương trình học hiện nay đang gặp phải nhiều
9
chỉ trích do quá nặng về kiến thức hàn lâm trong khi những tri thức vận
dụng cho đời sống hàng ngày bị thiếu vắng. Hơn nữa, người học đang chịu
nhiều áp lực về học tập khiến cho không còn nhiều thời gian cho các hoạt
động ngoại khóa, hoạt động xã hội. Điều này đã dẫn đến sự “xung đột”
giữa nhận thức, thái độ và hành vi với những vấn đề xảy ra trong cuộc
sống.
3. Nguyên nhân:
Những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế - xã hội đã và đang tác động
mạnh mẽ đến đời sống của con người. Nếu như trong xã hội truyền thống,
các giá trị xã hội vốn được coi trọng và được các cá nhân tuân thủ một cách
nghiêm túc thì nay đang dần bị mờ nhạt và thay vào đó là những giá trị mới
được hình thành trên cơ sở giao thoa giữa các nền văn hóa, văn minh khác
nhau. Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó, đặc biệt là các địa phương
có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng.
Những thay đổi nói trên còn ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục con
cái của gia đình cũng có những biến đổi nhất định. Cha mẹ ít có thời gian
quan tâm đến con cái hơn là một thực tế không thể phủ nhận, thay vào đó là
các hoạt động kinh tế, tìm kiếm thu nhập. Trong nhà trường, hiện tượng
quá tải với các môn học cũng đang gây nhiều áp lực đối với người học.
Nhóm kĩ năng xã hội:
Kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Kĩ năng giao tiếp không lời.
Kĩ năng thuyết trình và nói được trước đám đông.
Kĩ năng diễn đạt cảm xúc và phản hồi.
Kĩ năng từ chối.
Kĩ năng hợp tác.
Kĩ năng làm việc nhóm.
Kĩ năng vận động và gây ảnh hưởng.
Kĩ năng ra quyết định.
Nhóm kĩ năng quản lý bản thân:
11
Kĩ năng làm chủ cảm xúc.
Phòng chống stress.
Vượt qua lo lắng, sợ hãi.
Khắc phục sự tức giận.
Quản lý thời gian.
Nghỉ ngơi tích cực.
Giải trí lành mạnh.
Thực tế học sinh đã học, đã thực hành và thu được kết quả gì
qua giờ học:
- Học sinh thể hiện kĩ năng còn đại khái, chưa mạnh dạn thể hiện kĩ
năng bản thân.
- Học sinh ngại nói, ngại viết, khả năng tự học, tự tìm tòi của học
sinh còn hạn chế.
4. Biện pháp thực hiện:
Từ những thực trạng và nguyên nhân trên để giúp cho học sinh có
hứng thú học tập, phát hiện ra kĩ năng cần có, bản tôi mạnh dạn đề ra một
số giải pháp sau đây:
a. Người giáo viên phải xác định rõ nhiệm vụ của môn học và
+ Em cần có kĩ năng gì để thực hiện các vấn đề đó?
+ Sau khi học xong bài này em rút ra điều gì?
+ Em sẽ ứng dụng như thế nào, làm gì trong cuộc sống hàng
ngày khi gặp trường hợp như trong bài?
Giáo viên cần chuẩn bị một giáo án lồng ghép thật cẩn thận (có nêu
ra cụ thể các kĩ năng học sinh cần đạt sau khi học bài này; các kĩ thuật dạy
học sử dụng trong bài dạy; các phương tiện cần thiết phục vụ cho tiết
dạy…)
c. Tổ chức cho học sinh thực hành kĩ năng sống vừa được học:
Tuỳ theo bài, giáo viên tổ chức cho các em hoạt động ngay tại lớp
với tình huống tương tự bài học để học sinh tự tìm ra hướng giải quyết vấn
13
đề, sau đó học sinh tự nêu các kĩ năng mà em đã ứng dụng để giải quyết
vấn đề đó.
Nếu không thể tổ chức thực hành được thì giáo viên hướng dẫn học
sinh tự tìm hiểu các tình huống tương tự mà các em đã gặp ở cuộc sống
thường ngày, ghi chép lại và nêu cách giải quyết của bản thân để hôm sau
trình bày trước lớp cho các bạn nghe và bổ sung chọn cách giải quyết tốt
nhất.
d. Quy trình lên lớp với các tiết có nội dung lồng ghép Giáo dục
kỹ năng sống:
I/ Ổn định tổ chức
II/ Kiểm tra (Giáo viên kiểm tra phần chuẩn bị của học sinh.)
III/ Bài mới
1. Giới thiệu bài, viết đề tài lên bảng (Khám phá)
2. Phát triển bài:
3. Áp dụng
4. Củng cố, dặn dò
* Ví dụ cụ thể:
Trong phạm vi đề tài tôi xin chọn Bài dạy:
thân chưa? Nguyện vọng mong muốn của em là gì?
+ Người thân có ý kiến gì khi nghe em truyền đạt?
+ Kết quả việc trao đổi giữa em và người thân như thế nào?
+ Nếu thực hiện lại cuộc trao đổi đó, em có thay đổi gì trong cách
thuyết phục người thân của em không?
2/ Phát triển bài:
a. Phân tích đề:
Học sinh đọc đề (không đọc phần gợi ý), lớp đọc thầm, giáo viên
gạch chân những từ ngữ quan trọng trong đề bài (đã chép ở bảng phụ)
15
Đề bài: Em có nguyện vọng học thêm một môn năng khiếu( nhạc,
hoạ, võ thuật…). Trước khi nói với bố mẹ, em muốn trao đổi với anh (chị)
để anh (chị) hiểu và ủng hộ nguyện vọng của em.
Hãy cùng bạn đóng vai em và anh chị thực hiện cuộc trao đổi.
Giáo viên nêu câu hỏi để học sinh trọng tâm đề:
+ Nội dung trao đổi là gì? (nguyện vọng muốn học môn năng
khiếu)
+ Đối tượng trao đổi? (Anh hoặc chị của em)
+ Mục đích trao đổi là gì? (Làm cho anh hoặc chị hiểu rõ nguyện
vọng của em để anh chị ủng hộ nguyện vọng của em)
+ Hình thức thực hiện cuộc trao đổi là gì? (em và bạn trao đổi, bạn
đóng vai anh hoặc chị của em)
Giáo viên dành thời gian cho học sinh suy nghĩ chọn môn năng
khiếu mình yêu thích nhất và nêu trước lớp.
b. Lập dàn ý để trao đổi:
Học sinh đọc phần gợi ý, cả lớp đọc thầm.
Học sinh làm việc theo cặp. Cùng trao đổi để viết nháp ra giấy dàn
ý cuộc trao đổi (cần hình dung ra những thắc mắc, khó khăn mà anh chị
nêu ra để tìm cách giải đáp).
Giáo viên hướng dẫn, hỗ trợ các em yếu.
5. Kết quả đạt được:
Qua việc tiến hành soạn giảng, kết hợp các biện pháp đề xuất thực
tế, kết quả giảng dạy giáo dục rèn kĩ năng sống cho học sinh của tôi tốt hơn
nhiều. Điều đáng mừng là trong các tiết học này HS hào hứng hơn, tích cực
hoạt động hơn. Học sinh biết chăm chú lắng nghe, thực hành một cách
tương đối chính xác. Mạnh dạn, tự tin trình bày trước lớp. Đặc biệt học
sinh tự tin cố gắng vươn lên trong học tập, rất nhiều học sinh tiến bộ, số
học sinh giỏi khá tăng rõ rệt.
Kết quả chất lượng học tập lớp 4 (lớp tôi phụ trách) như sau:
17
Số bài
kiểm tra
Kỹ năng Tốt Có hình thành kỹ năng Kỹ năng chưa tốt
SL TLệ SL TLệ SL TLệ
28 15 53,6% 10 35,7 % 3 10,7%
III. Kết luận:
Qua nghiên cứu đề tài, tôi thấy việc giáo dục và rèn kĩ năng sống
cho học sinh tiểu học là một việc làm rất khó. Tuy vậy, tôi cũng tự rút ra
cho mình bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá:
Giáo viên cần nắm được phương pháp đặc trưng việc giáo dục và
rèn kĩ năng sống cho học sinh, biết lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học
phù hợp, kết hợp hình thức dạy học hợp lý nhằm phát huy tính chủ động
của học sinh sẽ giúp các em phát huy cao độ trí tuệ, cảm xúc, năng động,
sáng tạo trong học tập và giao tiếp.
Tôi thấy đây cũng là cơ sở bước đầu khẳng định rằng: Để tổ chức
giờ học dạy lồng ghép giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 4, đòi
hỏi người giáo viên phải vận dụng tri thức, kĩ năng nghiệp vụ sư phạm một
cách hợp lý. Đồng thời đưa ra áp dụng là hoàn toàn có cơ sở khoa học và
phù hợp với thực tế giảng dạy hiện nay.
Cuộc sống luôn biến đổi, do vậy không thể có một giáo trình cứng