MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................1
3. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................1
4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................2
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.................................................2
1. Cơ sở lí luận sáng kiến kinh nghiệm.................................................................2
1.1. Khái niệm về Kĩ năng sống.............................................................................2
1.2. Phân loại kĩ năng sống...................................................................................3
1.3. Khái niệm “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”......................................3
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN..............................................4
2.1. Thực trạng trung.............................................................................................4
2.2. Thực trạng riêng ở trường Tiểu học Ngọc Trạo.............................................4
2.3. Kết quả của thực trạng trên...........................................................................5
3. Giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề..........................................................5
3.1. Giáo viên cần nhận thức sâu sắc về việc dạy trẻ kĩ năng sống......................5
3.2. Giáo viên cần xác định những kĩ năng sống cơ bản cần dạy cho học sinh....6
3.3. Xác định nội dung, nhiệm vụ cơ bản trong việc dạy học sinh kĩ năng sống.....7
3.4. Giúp trẻ phát triển kĩ năng sống qua hoạt động ngoài giờ lên lớp................9
3.5. Giáo viên chủ nhiệm vận dụng linh hoạt các loại hình hoạt động, các hình
thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để thực hiện mục tiêu giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh............................................................................16
4. Hiệu quả của SKKN........................................................................................18
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ....................................................................18
1. Kết luận...........................................................................................................18
2. Kiến nghị.........................................................................................................19
2.1. Đối với giáo viên..........................................................................................19
2.2. Đối với nhà trường.......................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................21
DANH MỤCCÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI
đối tượng học sinh còn nhỏ, đang tuổi hiếu động, kĩ năng sống của các em còn
nhiều hạn chế. Tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp
rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp”. Với mong muốn góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục kĩ
năng sống, nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cho học sinh lớp 2.
2. Mục đích nghiên cứu
- Giúp cho các em các mối quan hệ phong phú, đa dạng, một cách có mục
đích, có kế hoạch, có nội dung và phương pháp nhất định, gắn giáo dục với cộng
đồng, tạo sự thân thiện trong mọi tình huống.
- Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội;
giúp học sinh hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói
quen ứng xử có văn hóa, hiểu biết và chấp hành pháp luật…
- Giúp học sinh có đủ khả năng tự thích ứng với môi trường xung quanh, tự
chủ, độc lập, tự tin khi giải quyết công việc, đem lại cho các em vốn tự tin ban đầu
để trang bị cho các em những kĩ năng cần thiết làm hành trang bước vào đời.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Một số biểu hiện kĩ năng sống của học sinh lớp 2C Trường Tiểu học Ngọc Trạo.
- Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2C Trường Tiểu học
Ngọc Trạo thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
1
4. Phương pháp nghiên cứu
1. Nghiên cứu lí luận: Tìm đọc tài liệu có liên quan đến việc rèn kĩ năng
sống cho học sinh.
2. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Khảo sát thực
tế học sinh: Qua hai đợt (đầu năm và cuối học kì 1)
3. Phương pháp quan sát:
- Quan sát hoạt động học tập (Xem các em có tích cực tham gia vào các
hoạt động hay không? Có kĩ năng giao tiếp hay không?...)
nhiều cơ hội trong thực tại.
Hay nói ngắn gọn Kĩ năng sống đơn giản là tất cả những điều cần thiết
chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra
hằng ngày trong cuộc sống. Kĩ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ
thể và tư duy trong não bộ của con người. Nó có thể hình thành một cách tự
nhiên, thông qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người.
2
1.2. Phân loại kĩ năng sống
Theo UNESCO, ta có thể phân loại kĩ năng sống như sau:
a. Dựa vào môi trường sống: Gồm có các nhóm sau:
* Kĩ năng sống tại trường học;
* Kĩ năng sống tại gia đình;
* Kĩ năng sống ngoài xã hội.
b. Dựa vào các lĩnh vực tâm lý, sức khoẻ: Dựa vào các lĩnh vực tâm lý,
sức khoẻ, ta có thể phânkỹ năng sống thành 3 nhóm:
* Kĩ năng nhận thức: Gồm có kĩ năng cơ bản và kĩ năng nâng cao.
- Kĩ năng cơ bản gồm: Kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng,
chạy, nhảy, v.v…
- Kĩ năng nâng cao là sự kế thừa và phát triển các kĩ năng cơ bản dưới
một dạng thức lới hơn. Nó bao gồm: Các kĩ năng tư duy logic, tư duy phê phán,
giải quyết vấn đề, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, phân tích, tổng hợp, so sánh,
nêu khái niệm, đặt câu hỏi, xác định giá trị, v.v…
* Kĩ năng đương đầu với cảm xúc: Bao gồm động cơ, ý thức trách nhiệm,
cam kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lý, tự giám sát
và tự điều chỉnh.
* Kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác: Bao gồm kĩ năng giao tiếp; tính
quyết đoán, kĩ năng thương thuyết/từ chối, lắng nghe tích cực, hợp tác, sự thông
cảm, nhận biết sự thiện cảm của người khác.v.v.
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.1. Thực trạng chung
Trong giai đoạn hiện nay, những mặt tốt của xã hội được phát triển mạnh
song những vấn đề mặt trái của xã hội cũng xuất hiện nhiều ảnh hưởng đến sự
tồn tại, phát triển của mỗi tập thể, cá nhân trong đó có một bộ phận là trẻ em.
Theo guồng quay của xã hội, một số gia đình bố mẹ chỉ quan tâm, mải lo đến
việc làm kinh tế mà quên mất gia đình là chiếc nôi của trẻ, quên đi việc cần tạo
một môi trường gia đình đầm ấm, người lớn gương mẫu, quan tâm dạy dỗ trẻ.
Không những thế còn có những gia đình cha mẹ nghiện ngập, cờ bạc, rượu chè,
bố mẹ li hôn...ảnh hưởng vô cùng lớn tới tâm hồn trẻ, tới sự phát triển nhân cách
của trẻ. Một số gia đình thiếu quan tâm hoặc bố mẹ đi làm ăn xa hoàn toàn phó
mặc việc dạy dỗ trẻ cho nhà trường. Cũng có những gia đình có điều kiện kinh
tế, do quá chiều chuộng con dẫn đến trẻ thiếu chủ động, luôn ỷ lại, phụ thuộc
vào người lớn. Mỗi khi gặp các tình huống trong cuộc sống lúng túng không biết
xử lý thế nào, hạn chế trong việc tự bảo vệ bản thân mình; hoặc có trẻ được
chiều chỉ làm theo ý của mình chứ không nghe lời người khác. Bên cạnh việc
học các môn văn hoá nếu trẻ được chú ý giáo dục đạo đức, được rèn kỹ năng
sống biết phân biệt cái tốt, cái xấu, biết từ chối cám dỗ, biết ứng xử, biết tự
quyết định đúng trong các tình huống thì chính trẻ sẽ là người tác động tốt đến
gia đình, xã hội.
2.2. Thực trạng riêng ở trường Tiểu học Ngọc Trạo
+ Về giáo viên:
Trong các nhà trường hiện nay việc nhận thức tầm quan trọng, cần thiết
rèn kỹ năng sống cho học sinh ở một số giáo viên còn hạn chế. Đa số giáo viên
chỉ tập trung dạy kiến thức còn việc rèn kĩ năng sống chưa được chú trọng dẫn
đến các em còn thiếu hụt những hiểu biết về môi trường xung quanh, ứng xử cần
thiết trong cuộc sống. Bên cạnh đó thời lượng hạn hẹp nên việc lồng ghép giáo
dục kỹ năng sống trong các môn học chưa được trang bị đầy đầy đủ.Qua khảo
sát thực tế cho thấy một số giáo viên lúng túng cả về nội dung, biện pháp rèn kỹ
năng sống cho học sinh. Nhận thức của nhiều giáo viên còn mơ hồ, chưa rõ,
Biết cách ứng xử hài hòa, phù hợp Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi
học sinh
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
40
16
40
24
60
3. Giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề
3.1. Giáo viên cần nhận thức sâu sắc về việc dạy trẻ kĩ năng sống
Ngay từ đầu năm học, tôi đã học tập và nghiên cứu chuyên đề về: “Rèn kĩ
năng sống cho học sinh Tiểu học”. Đồng thời tôi nghiên cứu kĩ nội dung thực
hành giáo dục kĩ năng sống dành cho học sinh lớp 2 do Bộ Giáo dục và Đào tạo
phát động. Qua đó giúp tôi nhận thức một cách sâu sắc về khái niệm và tầm
quan trọng về việc rèn kĩ năng sống cho học sinh.Từ đó cho thấy việc giáo dục
kĩ năng sống cho trẻ không đơn thuần là chỉ trong chương trình học chính khóa
lồng ghép với các môn học cho trẻ tiếp xúc từ từ các kiến thức văn hóa trong
suốt năm học mà còn cần phải cho trẻ tiếp cận nhiều trong thực tế. Bởi kĩ năng
sống không phải là cái có sẵn, con người không phải sinh ra đã có kĩ năng sống.
Kĩ năng sống chỉ được hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn
luyện, thực hành trải nghiệm trong cuộc sống hằng ngày ở trường, ở gia đình và
ngoài xã hội. Vì thế giáo viên giúp học sinh rèn kĩ năng sống cần thiết phù hợp
cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công. Dạy cho học sinh kĩ năng tự
phục vụ, các em sẽ có ý thức được sự cần thiết phục vụ bản thân, biết tự chăm
sóc bản thân, tăng cường tính độc lập, các em sẽ sống có tránh nhiệm hơn đối
với chính mình, rồi biết quan sát và làm theo hướng dẫn của người lớn trong các
công việc hằng ngày ở trường cũng như ở nhà... Việc tự làm những công việc
chăm sóc bản thân không những giúp trẻ trở nên năng động hơn, tự lập hơn mà
còn tạo tiền đề để trẻ phát triển theo hướng tích cực trong tương lai.
Ví dụ: Học sinh biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, biết soạn đầy đủ đồ
dùng học trước khi đến lớp, ăn mặc sạch sẽ gọn gàng, biết tự lập thời gian biểu
trong học tập...
+ Kĩ năng sống tự tin: Một trong những kĩ năng đầu tiên mà giáo viên cần
chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ, cần giúp trẻ cảm nhận được
mình là ai trong mối quan hệ với những người khác. Từ đó giúp trẻ tin tưởng
vào bản thân mình, hứng thú tham gia các hoạt động.
Ví dụ: Cho học sinh phát biểu thường xuyên hay đứng trước lớp nói, hát,
giới thiệu về bản thân mình.
+ Kĩ năng sống hợp tác: Bằng các trò chơi, câu truyện, bài hát giáo viên
giúp trẻ học bằng cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ
đối với các em học sinh lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp các em biết cảm
thông, chia sẻ và cùng làm việc với các bạn. Các em được thể hiện mình, có
thể tâm sự, bày tỏ những suy nghĩ, băn khoăn, lo sợ, nỗi buồn với người thân,
bạn bè.
Ví dụ: Tổ chức trò chơi “Kéo co” học sinh hiểu được không chỉ sử dụng
sức mạnh mà còn phải kết hợp ăn ý, khéo léo để chiến thắng.
+ Kĩ năng ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Giáo viên cần dạy trẻ biết thể
hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm
nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung quanh nó. Đây là một
trong những kĩ năng quan trọng nhất cần có ở các em vào giai đoạn này là sự
khát khao học hỏi; được tìm hiểu, được khám phá thế giới xung quanh.
6
đồng đều các lĩnh vực thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm,… Phát huy tính
tích cực của các em, giúp các em hứng thú, chủ động khám phá, tìm tòi, biết vận
dụng vốn kiến thức, kĩ năng vào việc giải quyết các tình huống khác nhau. Cần
giúp các em có được những mối liên kết cần thiết với những bạn khác trong lớp,
các em biết chia sẻ chăm sóc lẫn nhau, biết lắng nghe, trình bày và diễn đạt được
ý của mình, giúp các em luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới.
Giáo viên cần chuẩn bị cho học sinh sự tự tin thoải mái trong mọi trường hợp.
Thường xuyên liên hệ với phụ huynh để kịp thời nắm bắt tình hình của các em,
trao đổi với phụ huynh những nội dung và biện pháp chăm sóc, giáo dục các em
tại nhà, bàn bạc cách giải quyết những khó khăn gặp phải. Trong chương trình
các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh lớp 3, ngoài việc cung cấp
cho học sinh những kiến thức cơ bản về cuộc sống, chương trình còn giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh rất bài bản, tỉ mỉ và cụ thể. Vì vậy, là giáo viên trực
tiếp dạy lớp 2, tôi đã nắm bắt được nội dung, hình thức và các kỹ năng sống cần
dạy cho học sinh trong chương trình GDNGLL. Cụ thể như sau:
7
THỜI
GIAN
CHỦ
ĐIỂM
NỘI DUNG VÀ HÌNH
THỨC HOẠT ĐỘNG
- Nghe nói chuyện về ý
nghĩa tên trường.
Mái
- Phát động phong trào
- Kĩ năng hợp tác.
- Phát động phong trào Chào
mừng ngày Nhà giáo Việt - Kỹ năng đảm nhận trách
nhiệm.
Biết Nam
- Tập văn nghệ, biểu diễn văn - Kĩ năng hoạt động đội,
ơn
Tháng
nhóm.
thầy, nghệ.
11
cô
- Sinh hoạt tập thể kỉ niệm - Kĩ năng hợp tác.
giáo ngày 20/11.
- Kỹ năng sáng tạo.
- Tổ chức hội thi văn nghệ: - Kỹ năng giao tiếp.
Tiếng hát mừng thầy cô.
- Tìm hiểu về truyền thống
- Kỹ năng lắng nghe tích
Uống
quân đội, nghe nói chuyện
cực.
Tháng
nước
về anh bộ đội Cụ Hồ
12
nhớ
- Kỹ năng văn nghệ.
- Tập hát những bài hát về
nguồn
quý
các vị nữ anh hùng dân tộc.
Tháng 3 mẹ và
- Kỹ năng sáng tạo.
- Giao lưu văn nghệ - trò chơi
cô
- Kỹ năng giải quyết vấn đề.
dân gian.
giáo
8
Tháng 4
Hòa
bình
hữu
nghị
Tháng 5
Bác
Hồ
kính
yêu
- Tổ chức cuộc thi sưu tầm
tranh ảnh, tư liệu về cuộc
sống của thiếu nhi các nước
trên thế giới.
sẻ; Khát vọng vươn lên;…
Đây chính là những quy tắc sống và những kĩ năng sống cần thiết đối với
học sinh. Qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ tăng cường giáo dục các em về
nhận thức, về thái độ, rèn luyện kĩ năng, hành vi.
* Nhiệm vụ giáo dục về nhận thức
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tạo cơ hội cho học sinh được tiếp
xúc, được làm quen với những hoạt động: khoa học - kỹ thuật, lao động sản
xuất, văn hoá - nghệ thuật, thể dục - thể thao, kinh doanh, xã hội, nhân đạo, giúp
các em có điều kiện vận dụng những tri thức đã học vào thực tiễn cuộc sống và
làm phong phú vốn hiểu biết của các em. Từ đó một số đội được thành lập trong
lớp phù hợp với năng lực, sở thích của học sinh nhằm để phát triển khả năng
giáo dục kĩ năng cho hoc sinh như:
- Đội trật tự: Hàng ngày các em có trách nhiệm nhắc nhở các bạn trong
lớp thực hiện hành vi ứng xử văn hóa, chấp hành an toàn giao thông, không làm
ùn tắc cổng trường…
- Đội sao đỏ: Theo dõi thi đua về các nề nếp trong lớp, trong nhà trường:
đi học đúng giờ, vệ sinh cá nhân, tập thể dục, tác phong, ăn mặc, cách ứng xử
hàng ngày, tham gia phong trào thi đua… và hàng tuần đánh giá xếp loại cắm cờ
thi đua vào tiết sinh hoạt.
9
- Đội tuyên truyền của lớp: Sáng thứ hai hàng tuần, hàng tháng các em
tuyên truyền đến các bạn một số nội dung theo chủ đề, chủ điểm trong tháng
theo chương trình hoạt động của nhà trường, của Liên đội.
Từ những hoạt động trên, các em sẽ nhận thức được vai trò, nhiệm vụ của
người học sinh, người đội viên, nhi đồng, người con trong gia đình. Từ đó các
em sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động một cách tự giác, phát huy vai trò
xung kích, làm việc có trách nhiệm.
* Nhiệm vụ giáo dục về thái độ
những người thân, thầy cô, bạn bè, mọi người xung quanh, biết thông cảm, sẻ
chia với những người có hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh đặc biệt,... Biết tôn
trọng và bảo tồn các di tích văn hóa, di tích lịch sử,…
* Nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng, hành vi
Thói quen hành vi và kĩ năng chỉ được hình thành thuận lợi khi các em có
điều kiện tham gia các hoạt động. Trong khi tham gia các hoạt động các em sẽ
gặp những tình huống cụ thể của cuộc sống buộc phải tự tìm cách giải quyết
bằng trí tuệ và sức lực của mình. Từ đó giúp các em hiểu, biết cách làm và cách
tự điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực.
Khi mới thực hiện yêu cầu này, tôi tổ chức cho các em tham gia xử lý các
tình huống cho trước và chọn cách xử lý tốt nhất, hay nhất để giới thiệu cho cả
lớp tham khảo trong các giờ sinh hoạt. Những tình huống tôi đưa ra là những
tình huống hết sức đời thường, diễn ra trong cuộc sống hàng ngày và đôi khi làm
ảnh hưởng đến trẻ nếu các em không được làm quen, không được trang bị.
Ví dụ:
* Để rèn kĩ năng tránh bị xâm hại tôi đưa ra các tình huống sau:
- TH 1: Trên đường đi học về, ở đoạn đường vắng, Hoa thấy một bác đội
mũ cối, đi xe máy chặn Hoa lại để hỏi đường. Nếu là Hoa em sẽ làm gì?
- TH 2: Trên đường đi học về, trời nắng nóng, bỗng có một người lạ rủ em
vào quán uống nước. Khi đó em sẽ trả lời như thế nào?
- TH 3: Một người quen lớn tuổi hơn, rủ cùng xem phim của “người lớn”
trên điện thoại di động. Em sẽ làm gì?.
- TH 4: Em ở nhà một mình, có một người lạ đến nhà, nói là bạn của mẹ
và rủ em đi chơi. Khi đó em sẽ làm gì?
- TH 5: Chủ chật, em cùng bạn đi chơi, không may gặp nguy hiểm (bị bắt
cóc, ngã gãy tay,...) thì em sẽ làm gì?
Hình 1.2. Học sinh lớp 2C
hưởng ứng phong trào “Tết vì bạn
nghèo” năm 2019.
như vậy, nhưng không biết xử lý thế nào, có em sẽ làm thinh bỏ đi, không quan
tâm, có em lại oà khóc, có em xông lên làm ầm ĩ, có bạn giữ kín trong lòng, âm
thầm chịu đựng… đó là những biểu hiện của việc thiếu kĩ năng sống. Nhưng qua
cuộc thi, không những rèn cho các em kĩ năng giao tiếp, sự tự tin trước đông
người mà các em còn đưa ra nhiều cách xử lý, trong đó có những cách xử lý rất
hay và sáng tạo. Từ đó giúp các em có được các kĩ năng xử lí, giải quyết các tình
huống trong cuộc sống hàng ngày.
+ Chúng ta cần nhắc nhở học sinh phải nhớ số điện thoại của bố mẹ,
người thân và số điện thoại khẩn khi cần thiết (cứu thương - 115, cứu hỏa - 114,
cảnh sát - 113,...). Vì trong thực tế, khi tôi hỏi học sinh trong lớp có rất nhiều em
không nhớ số điện thoại của bố mẹ. Để khắc phục nhược điểm này của các em,
tôi tổ chức cho học sinh thi viết số điện thoại của người thân, số điện thoại khẩn.
Việc nhớ số điện thoại rất cần thiết. Nó giúp cho các em tìm được sự giúp đỡ kịp
thời khi không may gặp nguy hiểm.
+ Tổ chức ký cam kết chấp hành Luật Giao thông, không buôn bán, tàng
trữ, sử dụng pháo nổ để giáo dục việc chấp hành Pháp luật. Đầu năm học, tôi
cho các em kí cam kết chấp hành và thực hiện nội quy của nhà trường, của lớp.
12
Từ đó, tôi rèn cho các em kĩ năng sống có quy tắc, có kỉ luật, có trách nhiệm với
bản thân, gia đình và xã hội.
+ Tổ chức các hình thức giao lưu với Cựu chiến binh của phường vào dịp
22/12 hay cho học sinh tham quan Lữ đoàn 368 đóng tại phường Ngọc Trạo Bỉm Sơn. Qua hoạt động này không chỉ rèn kĩ năng sống quy củ, nề nếp, ý thức
tổ chức, kỷ luật theo tác phong anh bộ đội cho học sinh mà còn giáo dục cho các
em lòng tự hào dân tộc.
Hình 1.4. Các em học sinh lớp 2C Trường Tiểu học Ngọc Trạo
đi trải nghiệm thực tế tại Lữ đoàn 368 - Quân đoàn I
Hình 1.6. Tiết mục của lớp 2C
trong hội thi “Chúng em với an
toàn giao thông”
Thường xuyên tổ chức các trò chơi dân gian: nhảy dây, đá cầu, chơi ô ăn
quan, nhảy bao bố, kéo co, bịt mắt bắt dê…
Hình 1.7. Trò chơi: Kéo co
Hình 1.8. Trò chơi: Bịt mắt
bắt dê
- Tạo điều kiện cho các em tham gia các hoạt động thực tế để rèn kĩ năng
chăm sóc sức khỏe, bảo vệ bản thân bằng cách hướng dẫn các em cách rửa tay
đúng quy định và tổ chức cho các em tự rửa tay hàng ngày, mang khẩu trang để
phòng chống dịch bệnh về đường hô hấp, ngủ màn để đề phòng các bệnh do
muỗi đốt, ăn chín uống sôi để đề phòng các hoặc bệnh về đường tiêu hóa,...
14
- Tổ chức cho các em trang trí lớp học, tham gia lao động dọn vệ sinh lớp
học, sân trường hàng ngày, hàng tuần trên khu vực được phân công cho lớp;
trồng và chăm sóc bồn cây của lớp; đồng thời lớp còn phát động phong trào
“Trường học không rác, lớp học không rác” hay phong trào “Trường lớp xanh,
sạch, đẹp” để rèn các em thói quen giữ vệ sinh trường lớp và môi trường sống
xung quanh em. Từ đó hình thành cho các em lòng yêu lao động và biết quý
trọng người lao động.
đề, chủ điểm của từng tháng và có kịch bản cho từng hoạt động và có sự chuẩn
bị chu đáo về cả hình thức tổ chức và các điều kiện phục vụ cho hoạt động đó.
Khi tiến hành tổ chức một HĐNGLL cần phải tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Đặt tên chủ đề hoạt động và xác định các yêu cầu giáo dục phải
đạt được.
Bước 2: Giáo viên chủ nhiệm cần vạch kế hoạch, thời gian tiến hành.
Chuẩn bị về nội dung, hình thức hoạt động, các phương tiện cần thiết phục vụ
cho hoạt động. Phân công công việc cụ thể, dự kiến các tình huống xảy ra.
Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra sự chuẩn bị.
Bước 3: Tiến hành hoạt động: Đối với các hoạt động của lớp, cần cố gắng
tạo điều kiện để học sinh tự quản, tự điều khiển, còn giáo viên nên đóng vai trò
là người hỗ trợ, là người giúp đỡ các em.
Bước 4: Rút kinh nghiệm và đánh giá kết quả.
Cần phải rút kinh nghiệm để các hoạt động tiếp theo được tốt hơn, hiệu quả
hơn. Khi rút kinh nghiệm và đánh giá kết quả cần tập trung vào hình thức tổ chức
16
hoạt động, nội dung hoạt động, quá trình tự quản, tự điều khiển của học sinh để
bước chuẩn bị cho những hoạt động tiếp theo đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra.
Ví dụ: Tổ chức hoạt động: Rung chuông vàng
Chủ đề: An toàn giao thông. Học sinh lớp 2
a) Mục đích: Giúp các em hiểu và thực hiện tốt luật giao thông, tuyên
truyền bạn bè và người thân thực hiện tốt luật giao thông.
- Hình thành và rèn luyện cho học sinh kỹ năng tham gia giao thông,
mạnh dạn, thích giao tiếp, độc lập suy nghĩ, sáng tạo, đồng thời rèn luyện cho
nhiều em khả năng tổ chức, điều khiển các hoạt động tập thể.
- Tạo cho học sinh trong lớp không khí phấn khởi, tin tưởng “Vui mà học,
học mà vui”, làm cho các em luôn luôn sẵn sàng tham gia các hoạt động của lớp.
Đáp án: Khi đi trong khu đông dân cư, chợ, chúng ta phải giảm tốc độ,
quan sát hai bên đường.
17
+ Câu 7: Khi đi học về, các em có được đi hàng hai, hàng ba, hàng tư
không? Vì sao?
Đáp án: Khi đi học về, các em không được đi hai, hàng ba, hàng tư... Bởi
vì nếu đi như thế rất dễ gây tai nạn cho mình và cho người khác.
+ Câu 8: Đường sắt là đường dành cho phương tiện giao thông nào?
Đáp án: Đường sắt là đường dành cho tàu hỏa.
+ Câu 9: Đường hàng không dành cho phương tiện giao thông nào?
Đáp án: Đường hàng không dành cho phương tiện máy bay.
+ Câu 10: Khi đi bộ và qua đường ta cần chú ý gì?
Đáp án:
- Khi đi bộ phải đi trên vỉa hè hoặc sát mép đường bên phải nơi không có
vỉa hè.
- Khi đi qua đường phải đi vào vạch đi bộ qua đường. Nếu không có
vạch đi bộ qua đường phải chọn nơi an toàn quan sát kĩ xe trên đường rồi mới
đi được.
Trên đây là một hình thức tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp mà tôi
thường xuyên tổ chức tại lớp trong các giờ sinh hoạt, hoạt động này đã thu hút
100% các em trong toàn lớp tham gia, nó tạo cho các em sự thoải mái, không
nhàm chán mà còn giúp các em chăm chỉ, hăng say, phấn đấu, rèn luyện học
tập trở thành con người phát triển toàn diện xứng đáng là chủ nhân tương lai
của đất nước.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đã giúp các em tự điều
chỉnh, bổ sung, trao đổi, hợp tác tốt hơn. Qua đó, giáo dục các em kĩ năng thực
18
Với kết quả trên, tôi thấy các em học sinh lớp tôi đã có nhiều thay đổi đi
học đều hơn, năng động hơn, tự tin hơn, linh hoạt trong giao tiếp và ít gặp khó
khăn khi đến lớp, có kĩ năng lao động tự phục vụ cho bản thân, biết thương yêu
bạn bè trong cùng một mái trường, biết giúp đỡ bạn cùng tiến. Kết quả từ thực
nghiệm học sinh lớp mình phụ trách làm tôi rất vui và hi vọng mình góp một
phần nhỏ để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường và cùng chia sẻ
những kinh nghiệm của mình cho các đồng nghiệp khác.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong công cuộc đổi mới toàn diện và căn bản nền giáo dục Việt Nam
theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc
tế thì Giáo dục và Đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền
văn hóa về con người Việt Nam, trong đó có đề cao vài trò của giáo dục kĩ
năng sống.
Việc trang bị kĩ năng sống cho học sinh không phải là một chuyện đơn
giản, không thể ngày một, ngày hai là thành công, mà phải thực hiện xuyên suốt,
liên tục cả quá trình và luôn đổi mới hình thức tổ chức để lôi cuốn các em tham
gia vào các hoạt động.
Qua kinh nghiệm khi tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tôi thấy để
thực hiện thành công việc rèn kĩ năng sống cho học sinh, chúng ta cần:
- Tạo cơ hội cho các em nói lên suy nghĩ của mình thông qua các hoạt
động chung của lớp.
- Không tạo cho các em thói quen kiêu ngạo, không dọa nạt, hay bắt các
em hứa hẹn: Vì mỗi lần dọa nạt là chúng ta làm cho trẻ sợ hãi, điều này chỉ có
hại cho đứa trẻ mà không giúp cho hành vi của trẻ tốt hơn. Sự hứa hẹn hay dọa
- Cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, khuôn viên để nhà trường có thể tổ
chức tốt các buổi sinh hoạt ngoại khóa.
- Các tổ chức đoàn thể trên địa bàn xã cần chung tay phối hợp với nhà
trường trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Đây là sáng kiến của bản thân được đúc rút qua quá trình giáo dục học
sinh. Phạm vi đề tài còn khiêm tốn, chỉ áp dụng cho học sinh lớp tôi phụ trách.
20
Do trình độ còn hạn chế, không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
được sự giúp đỡ, tham gia đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo và đồng
nghiệp để sáng kiến của tôi hoàn thiện hơn, thành công hơn và đi vào thực tế
trong giáo dục học sinh.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Bỉm Sơn, ngày 25 tháng 3 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết
Mai Thị Hậu
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tỉnh…)
C)
1
Một số biện pháp rèn đạo đức cho học
PGD & ĐT
sinh lớp 4.
C
2002-2003
2
Một số biện pháp rèn chữ viết cho học
PGD & ĐT
sinh lớp 4.
B
2012-2013
3 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5
PGD & ĐT
làm tốt bài văn tả cảnh.
B
2014-2015