PHỤ LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
I.Lí do chọn đề tài 1
II.Mục đích và phương pháp nghiên cứu 1
1.Mục đích 1
2.Phương pháp. 1
III.Giới hạn của đề tài 1
IV.Kế hoạch thực hiện . 1
B.PHẦN NỘI DUNG . 2
I.Cơ sở lí luận 2
II.Cơ sở thực tiễn 2
III.Thực trạng 2
1.Thuận lợi 2
2.Khó khăn 2
IV.Các biện pháp giải quyết vấn đề 3
V.Hiệu quả 6
C.PHẦN KẾT LUẬN 6
I. Ý nghĩa 6
II.Khả năng áp dụng 7
III.Bài học kinh nghiệm 7
Tài liệu tham khảo 8
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lí do chọn đề tài :
- Tp vit l mt trong nhng phõn mụn cú tm quan trng c bit tiu hc
i vi hc sinh lp 2. Nú gúp phn rốn luyn k nng vit ch mt trong nhng k
nng hng u trong vic hc ting Vit trong trng.
- Mt khỏc ch vit cng l biu hin nột nhõn cỏch ca con ngi.
- C vn Phm Vn ng ó núi:Ch vit cng l biu hin ca nt ngi.
Dy cho hc sinh vit ỳng, vit cn thn, vit p cng gúp phn rốn luyn cho cỏc
em tớnh cn thn, lũng t trng i vi mỡnh v bn c bi v ca mỡnh
- Thu thp d liu.
- Thõm nhp thc t.
- Hon thnh sỏng kin.
B. PHN NI DUNG
I. C s lý lun ca vic rốn luyn k nng vit ỳng, p cho hc sinh lp2:
2
Chữ viết là một công cụ dùng đó giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương tiện
để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hóa, khoa học và đời sống …,Do vậy, ở
trường tiểu học việc dạy học sinh biết chữ và từng bước làm chủ công cụ chữ viết để
phục vụ cho học tập và giao tiếp là yêu cầu quan trọng hàng đầu của môn Tiếng Việt.
- So với chương trình lớp 1, nội dung của phân môn tập viết lớp 2 có những yêu
cầu cụ thể.
II. Cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng viết đúng, đẹp cho học sinh lớp
-Tiếp tục rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết các chữ thường theo cỡ nhỏ đã học
ở lớp 1 nhưng mức độ yêu cầu được nâng cao: viết đúng mẫu và đều nét.
- Chính thức dạy học sinh viết chữ hoa theo cỡ vừa và nhỏ (Ở lớp 1 học sinh
mới làm quen với chữ hoa qua hình thức tập tô trong giai đoạn luyện tập tổng hợp ở
học kỳ 2). Để thực hiện nhiệm vụ này, giáo viên phải giúp học sinh có những hiểu biết
nhất định về mẫu chữ hoa do Bộ mới ban hành nhằm tạo điều kiện cho các em rèn kỹ
năng viết chữ cụ thể:
- Nhớ được hình dáng các chữ cái viết hoa theo mẫu quy định
- Nắm được kích cỡ của từng chữ cái viết hoa (thể hiện trong khung chữ, trong
mối quan hệ giữa chữ cái viết thường).
VD: Trong cùng cỡ chữ, các chữ cái viết hoa: A, ¡ , ¢, B, C… có độ cao bằng các
chữ cái viết thường: b g, h, k, l, y, riêng hai chữ cái viết hoa được viết với chiều cao 4
li Y, G.
- Nắm được thao tác viết từng nét chữ để tạo nên chữ cái viết hoa (đưa nét theo
đúng quy trình viết ).
* Dạy học sinh biết nối (ghép) chữ cái viết hoa với chữ cái thường trong một
chữ ghi tiếng đảm bảo tính thẩm mỹ, phục vụ cho yêu cầu viết chính tả và trình bày
SÜ sè Lo¹i A Lo¹i B Lo¹i C
SL % SL % SL %
32 17 53,1 12 37,5 3 9,3
III. Các biện pháp giải quyết vấn đề :
Với kết quả như trên tôi đã suy nghĩ để tìm ra các biện pháp để rèn chữ
viết cho học sinh như sau:
Biện pháp1: Phân loại chữ viết của học sinh theo các mức độ
Ngay từ đầu năm học tôi đã cho kiểm tra chữ viết của các em. Tôi xem xét kỹ
để phân loại chữ viết của học sinh theo các mức độ khác nhau. Từ đó tôi lên kế hoạch
để sửa “tật”cho từng em.
VD: Những em có điểm đặt bút chưa đúng tôi chỉ bảo cho các em cách tính
dòng kẻ, xác định điểm đặt bút …Những em viết chưa thẳng tôi có kế hoạch cho luyện
nét sổ thẳng, chữ chưa tròn tập viết nét cong tròn…
- Nhờ vậy các em đã nhớ lại được quy trình viết từng con chữ, biết luyện dần
từng chữ. Dần dần kết quả đã tốt hơn rất nhiều .
Biện pháp 2: Rèn tư thế viết đúng cho học sinh.
Tôi nhận thấy khi học sinh ngồi viết đúng tư thế sẽ là điều kiện thuận lợi cho
các em viết đúng, viết đẹp. Mặt khác việc làm đó cũng góp phần để phòng học sinh
mắc bệnh cận thị khi căn bệnh này ngày một gia tăng trong nhà trường phổ thông hiện
nay. Tôi đã hướng dẫn các em như sau:
* Tư thế ngồi viết: Ngồi ngay ngắn, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, hai mắt
cách vở từ 25cm – 30cm. Cánh tay trái đặt trên mặt bàn bên trái vở, bàn tay trái tì vào
mép vở giữ vở không xê dịch khi viết. Cánh tay phải để ở trên mặt bàn
- Cách cầm bút: Khi viết học sinh cầm bút và điều khiển bút bằng ba ngón tay
(ngón trỏ, ngón cái và ngón giữa của bàn tay phải). Đầu ngón trỏ đặt ở phía trên, đầu
ngón cái giữ bên trái, phía bên phải của đầu bút tựa vào cạnh đốt đầu ngón tay giữa.
* Vị trí đặt vở: Vở đặt nghiêng so với mép bàn một góc khoảng 30 độ nghiêng
về phía bên phải.
- Để học sinh có kĩ năng trên, tôi đã làm một số công việc sau:
Biện pháp 4: Rèn kỹ thuật viết chữ.
Tập trung rèn luyện kĩ thuật liên kết liền mạch chữ cái viết hoa với chữ cái viết
thường. Tôi đã phân loại các trường hợp viết liên kết như sau:
* Trường hợp viết nối thuận lợi: Nét móc cuối cùng của chữ cái đứng trước nối
với nét móc đầu tiên của chữ cái đứng sau
VD: Bài A – Anh em thuận hoà
- Quy trình viết nối chữ Anh
- Viết chữ cái A đã học. Từ điểm cuối của nét lượn ngang thân chữ cái A lia bút
xuống điểm cuối của nét móc ngîc phải chữ cái A để viết tiếp nét nối với nét móc trái
của chữ cái n. Tiếp tục viết nét móc thứ hai của n. Khi viết đến phần móc phải phía
dưới lượn cong bình thường có thể viết nối với phần nét khuyết của chữ cái h, sau đó
viết hoàn chỉnh chữ cái h.
* Trường hợp viết nối không thuận lợi: đó là trường hợp nét cuối của chữ cái
đứng trước với điểm bắt đầu của chữ cái đứng sau không thể viết nét nối.
VD: Bài C – Chia ngọt sẻ bùi
- Quy trình viết chữ Chia
- Viết chữ C như đã học, từ điểm dừng bút của chữ C lia bót để viết tiếp chữ h
rồi rê bút viết tiếp chữ cái i và chữ cái a.
- Kỹ thuật viết nối chữ (Các chữ cái viết thường).
Việc nối chữ chủ yếu được thực hiện ở các chữ cái viết thường khi chúng
đứng lại gần nhau. Dựa vào những nét cơ bản của chữ cái tiếng Việt, tôi phân loại
thành 4 trường hợp nối chữ (từ dễ đến khó) và lưu ý học sinh như sau:
- Trường hợp 1: nét móc cuối cùng của chữ cái trước nối với nét móc hoặc nét hất
đầu tiên của chữ cái sau:
VD: a – n = an; i – m = im; t – ư = tư
Nhìn chung trường hợp này viết dễ dàng thuận lợi
Lưu ý học sinh: Khi nối 2 nét móc ở hai chữ cái, cần điều tiết về độ doãng
(khoảng cách giữa 2 chữ cái) sao cho vừa phải, hợp lý để chữ viết đều nét và có tính
thẩm mĩ.
5
VD Viết chữ ruộng: Viết chữ liền mạch các hình cơ bản của chữ cái thành ruong sau
đó đặt dấu mũ (dấu phụ) trên 0 và dấu nặng (dấu thanh) dưới ô để thành ruộng.
Như vậy, với việc phân tích cách liên kết, cách viết liền mạch ngay từ những
bài viếtđầu tiên, nhiều học sinh trong lớp đã nắm được quy trình viết c¸c từ ứng dụng. ở
các bài tiếp theo, không cần sự hướng dẫn tỉ mỉ của cô giáo c¸c em còng có thể viết
đúng chữ theo mẫu. Tốc độ viết chữ của cả lớp nhanh dần. Chính vì vậy chất lượng
học tập của học sinh môn Tiếng Việt được nâng lên một cách rõ rệt.
Tập viết là một phân môn thực hành. Ngoài việc nắm được kĩ thuật viết chữ học
sinh phải được luyện tập nhiều lần để hình thành kĩ năng, kĩ xảo. Vì thế việc luyện chữ
viết cho học sinh là rất quan trọng.
Biện pháp 5: Tăng cường luyện tập thực hành
Trước đây, trong tiết tập viết, một số giáo viên vẫn còn giảng giải nhiều thời
gian luyện của học sinh còn ít Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp
dạy học giờ tập viết cần tạo điều kiện để học sinh thực hành nhiều, tự rút kinh nghiệm
cho bản thân, từ đó rèn kĩ năng viết nhanh, đẹp.
Tôi sử dụng các hình thức tập luyện sau:
+ Học sinh tập viết chữ trên bảng lớp, trên bảng con.
Cách làm này rất tốt và giáo viên có thể kiểm tra được từng học sinh, uốn nắn để học
sinh tự sửa chỗ sai của mình trên bảng trước khi viết vào vở.
6
- Luyện tập viết trong vở tập viết: Giáo viên cần chú ý giúp các em viết đủ, viết
đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phần bài viết để các em viết tốt hơn ở những dòng tiếp
sau:
- Luyện tập viết chữ ở các môn học khác: Cần tận dụng việc tập viết các bài
học, bài làm ở các môn học khác để học sinh tập viết .
Để luyện tập đạt tới hiệu quả viết nhanh, đẹp, tôi thấy giáo viên cần chú ý:
+ Rèn luyện kĩ năng viết chữ phải tiến hành toàn diện, ở lớp, ở nhà, ở đủ các
môn học khác.
+ Kiên trì sửa và rèn chữ viết cho học sinh
Như vậy, với việc tăng cường luyện tập thực hành, học sinh lớp tôi đã có được kĩ năng
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. Ý nghĩa :
Việc rèn chữ, giữ vở và luyện viết chữ cho học sinh lớp 2 có thể viết đúng,
đẹp là một công việc hết sức bền bỉ, kiên trì của cả thầy và trò.
II. Khả năng áp dụng :
- Giáo viên chủ nhiệm kết hợp dạy kỹ thuật viết chữ với rèn chính tả, mở rộng
vốn từ, phát triển tư duy cho học sinh lớp 2D.
7
- Phối hợp với Cha mẹ phụ huynh học sinh để có thông tin trao đổi kịp thời,
góp phần rèn luyện những phẩm chất như tính cẩn thận óc thẩm mỹ, ý thức tự trọng
người khác.Luôn nhắc nhở học sinh viết đúng mẫu, nhanh, đẹp ở tất cả các môn
học.Tạo được không khí vui vẻ, phấn chấn cho học sinh khi viết.
III. Bài học kinh nghiệm :
Những kinh nghiệm mà bản thân tôi rút ra được trong quá trình áp dụng các biện
pháp đã nêu là :
- Bản thân giáo viên cũng phải luyện chữ, bởi chữ mẫu của cô cũng là một trực
quan để học sinh noi theo.
- Có kế hoạch rèn chữ, giữ vở, coi rèn chữ là yếu tố quan trọng để rèn nết người .
Trên đây là một số biện pháp và kết quả bước đầu khá khả quan của tôi
trong việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và việc dạy rèn viết nói riêng cho học
sinh lớp 2 năm học 2011-2012.
Hội đồng xét duyệt của trường An Thạnh, ngày 26 tháng 03 năm 20112
Xếp loại: …………………….
Người viết
CTHĐ