BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NÔNG THỊ HỒNG LIÊN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC LĂNG HIẾU -
TRÙNG KHÁNH - CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
như gia đình, bạn bè những người luôn quan tâm, động viên và nhiệt tình giúp
đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài này.
Xin trân trọng cảm ơn !
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Ngƣời thực hiện Nông Thị Hồng Liên DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
GV: giáo viên
HS: học sinh
SGK: sách giáo khoa
GD – ĐT: giáo dục và đào tạo
DTTS: dân tộc thiểu số
HSDT: học sinh dân tộc
TMĐ: tiếng mẹ đẻ
TV: tiếng Việt
CHƢƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH
TẢ CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƢỜNG TIỂU HỌC LĂNG HIẾU -
TRÙNG KHÁNH - CAO BẰNG 29
2.1. Giáo dục cho HS về tầm quan trọng của chính tả 29
2.2. Vận dụng các phương pháp dạy học tiếng Việt vào dạy học chính tả lớp 3… 31
2.2.1. Phương pháp phân tích ngôn ngữ 30
2.2.2. Phương pháp giao tiếp 32
2.2.3. Phương pháp rèn luyện theo mẫu 34
2.2.4. Phương pháp trò chơi 35
2.3. Rèn luyện kĩ năng viết đúng cho HS qua các bài tập chính tả 37
2.3.1. Hướng dẫn HS làm các bài tập chính tả sửa lỗi phụ âm đầu 38
2.3.2. Hướng dẫn HS làm các bài tập chính tả sửa lỗi phần vần 39
2.3.3. Hướng dẫn HS làm các bài tập chính tả sửa lỗi thanh điệu 39
2.4. Hướng dẫn HS Sử dụng qui tắc viết hoa 40
2.4.1. Quy tắc viết hoa tên người 40
2.4.2. Quy tắc viết hoa địa danh 41
2.4.3. Quy tắc viết hoa tên các huân chương, danh hiệu, giải thưởng 41
2.4.4 . Quy tắc viết hoa tên các cơ quan, tổ chức chính trị, xã hội 41
2.4.5. Quy tắc viết hoa trong phép đặt câu, viết hoa tỏ thái độ kính trọng, viết
hoa tên riêng của các sự vật khác 42
2.4.6. Viết hoa các trường hợp khác 42
TIỂU KẾT 42
CHƢƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM 44
3.1. Những vấn đề chung 44
3.1.1. Mục đích thể nghiệm sư phạm 44
3.1.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thể nghiệm 44
3.1.3. Nội dung thể nghiệm và tiêu chí đánh giá thể nghiệm 44
3.1.4. Tiến trình thể nghiệm 45
3.2. Kết quả thể nghiệm 45
TIỂU KẾT 48
học sinh nắm các quy tắc và thói quen viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng Việt.
Cùng với các phân môn khác, Chính tả giúp cho HS chiếm lĩnh văn hóa Việt-
Công cụ để giao tiếp, tư duy. Ngay từ bậc tiểu học, HS cần phải được môn học
chính tả một cách khoa học, cẩn thận để có sử dụng công cụ này suốt những
năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trường cũng như suốt cuộc đời.
1.3. Thực tế áp dụng những yêu cầu trên vào giảng dạy tiếng Việt (TV) nói
chung và môn Chính tả nói riêng ở các trường tiểu học vùng Đông Bắc còn gặp 2
nhiều khó khăn. Điều đó cũng ảnh hưởng nhiều đến việc học tập các môn học
khác. Nếu không có những biện pháp khắc phục kịp thời thì sẽ làm mất đi sự
thống nhất của TV.
Cụ thể là trên địa bàn trường Tiểu Học Lăng Hiếu – Trùng Khánh – Cao
Bằng, hiện tượng HS viết sai chính tả, đặc biệt là sai phụ âm "ch - tr" chiếm một
tỷ lệ khá lớn. Vấn đề này có nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên
nhân cơ bản và quan trọng nhất là do HS ở đây có thói quen phát âm sai, lẫn lộn
giữa các âm "gh- kh ; s - x ; ch - tr " dẫn đến viết sai. Bên cạnh đó, về phương
pháp, một số GV chưa chú ý áp dụng phương pháp hợp lý khi dạy chính tả.
Trùng Khánh là một huyện nằm ở phía Đông bắc của tỉnh Cao Bằng. Trùng
Khánh có 2 dân tộc Tày - Nùng cùng sinh sống, nên HS và người dân chịu ảnh
hưởng của phương ngữ. Tâm lí HS dân tộc (HSDT) rụt rè hay xấu hổ, các em
chưa có thói quen nói TV nên thường ngại nói, khi có cơ hội các em thường
quay về với tiếng mẹ đẻ quen thuộc của mình, kể cả trong lớp học. HSDT vì
chưa làm chủ được TV nên thiếu chủ động, thường thụ động trả lời câu hỏi,
không mấy khi dám đặt câu hỏi.
1.4. Trong thời gian thực tập tại Trường Tiểu học Lăng Hiếu –Trùng
Khánh – Cao Bằng chúng tôi thấy các em HS người dân tộc trong quá trình học
tập và sử dụng ngôn ngữ hàng ngày còn mắc nhiều lỗi chính tả mà nguyên nhân
chủ yếu là do trước khi vào bậc tiểu học, HS thường sử dụng tiếng địa phương
Công trình nghiên cứu “Đổi mới phương pháp dạy học tiểu học” Bộ GD-
ĐT, dự án phát triển GV tiểu học, NXB GD, Hà Nội, (2005), tác giả đã chỉ ra
những đổi mới trong nội dung và phương pháp bài dạy phân môn chính tả theo
chương trình sách giáo khoa mới. Nắm được bản chất và phương pháp dạy học
chính tả theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS.
Các công trình nghiên cứu trên là những tiền đề lí luận quý báu để tác giả
thực hiện khóa luận "Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học
sinh lớp 3 trường Tiểu học Lăng Hiếu – Trùng Khánh – Cao Bằng” .
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu lí luận và thực tiễn của dạy - học chính tả lớp 3, từ đó nhằm
đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS lớp 3 trường 4
Tiểu học nói chung và Trường Tiểu học Lăng Hiếu - Trùng Khánh- Cao Bằng
nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiến hành đề tài tác giả thực hiện nhiệm vụ:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học chính tả ở
trường Tiểu học nói chung.
- Khảo sát, thống kê phân loại lỗi, chỉ ra thực trạng mắc lỗi của HS lớp 3
Trường Tiểu học Lăng Hiếu – Trùng Khánh – Cao Bằng.
- Đề xuất một số biện pháp sửa lỗi chính tả cơ bản cho HSDTTS
- Tiến hành thiết kế giáo án và dạy thể nghiệm.
- Tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả bước đầu thể nghiệm và rút ra tính
khả thi của vấn đề nghiên cứu.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập chung nghiên cứu các biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho
nghiệm.
6.5. Phương pháp thực nghiệm
Trên cơ sở đưa ra những biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HS lớp 3
trường Tiểu học Lăng Hiếu – Trùng Khánh – Cao Bằng chúng tôi đã tiến hành
thiết kế và dạy thể nghiệm.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận nội dung chính của khóa luận được
chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp sữa lỗi chính tả cho HS
Chương 3: Thể nghiệm sư phạm
6
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.1.1.1. Chính tả là gì
Chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một
ngôn ngữ. Nói cách khác chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được
thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân. Nó là phương tiện thuận lợi cho việc lưu
truyền thông tin, đảm bảo cho người viết, người đọc thống nhất những điều đã viết.
Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội bắt buộc gần như tuyệt
đối, nó không cho phép con người vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tính
chất sáng tạo.
Một ngôn ngữ văn hóa không thể không có chính tả thống nhất, chính tả
một điều hết sức quan trọng. Trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt điều cơ
bản nhất là làm thế nào cho HS, đọc đúng biết dùng từ chính xác, đặt câu đúng
ngữ pháp. Biết sử dụng đúng nội dung để diển đạt những điều mình muốn nói
bằng các ngôn ngữ thích hợp, chính xác làm cho người đọc, người nghe hiểu
được dể dàng.
Vì vậy trang bị cho HS một hệ thống tri thức ngôn ngữ của Tiếng Việt
qua các kĩ năng nghe, đọc, nói, viết để làm công cụ cho các môn khoa học khác,
làm công cụ giao tiếp trong xã hội; Tình trạng HS phát âm chưa được chuẩn,việc
rèn cho HS viết đúng chính tả để diển đạt nội dung đúng là một điều hết sức
quan trọng. Tình trạng viết sai lỗi chính tả của HS còn nhiều nguyên nhân là do
các em phát âm không chuẩn, không đúng, nghe không chính xác dẫn đến viết
sai lỗi chính tả.
Làm thế nào để các em biết phát âm đúng, viết đúng chính tả, viết đúng
ngữ pháp Tiếng Việt. Biết phân biệt nghĩa được các từ đó là điều băn khoăn, lo
lắng đối với người làm công tác giáo dục. Vậy việc rèn luyện chính tả cho học
sinh là vấn đề cần thiết nhất tạo cho HS viết đúng chữ viết. Hiện nay trình độ
học sinh nắm và viết Tiếng Việt còn thấp. Bên cạnh những HS viết đúng nói rõ
ràng mạch lạc, còn có HS chưa biết dùng và viết đúng Tiếng Việt một cách 8
thành thạo để diễn đạt ý nghỉ của mình, nhiều em phát âm sai, viết sai chính tả,
dùng từ không đúng, không biết đặt câu, chấm câu do không nắm vững Tiếng
Việt, nên lời nói, lời văn của các em còn rời rạc vì vậy rèn cho HS kĩ năng viết
đúng chính tả là một việc làm cấp thiết và hết sức cần thiết.
1.1.2. Tầm quan trọng của phân môn Chính tả ở tiểu học
1.1.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ, của phân môn Chính tả ở Tiểu học
Mục tiêu của phân môn Chính tả là sự cụ thể hóa mục tiêu của phân môn
Tiếng Việt ở Tiểu học, hình thành và phát triển HS năng lực sử dụng tiếng Việt (
đặc biệt là kĩ năng viết) góp phần rèn luyện cho HS những thao tác tư duy cơ
thực hành luyện tập HS được hình thành các kĩ năng, kĩ xảo chính tả. Trong
phân môn Chính tả, các đơn vị kiến thức lí thuyết, quy tắc chính tả không dược
dạy riêng mà dạy tổng trong hệ thống bài tập chính tả. Nội dung, cấu trúc của
bài chính tả trong SGK Tiếng Việt tiểu học mới thể hiện rõ tính chất thực hành,
điều này cũng thể hiện rõ khuynh hướng giao tiếp của SGK trong chương trình
mới; Tính thực hành của việc dạy Tiếng Việt ở trường Tiểu học qui định chi
phối toàn bộ việc lựa chọn nội dung và yêu cầu về kĩ năng chính tả khi tổ chức
dạy Chính tả cho HS.
Chính tả còn có vị trí hết sức quan trọng là rèn cho HS biết quy tắc chính tả
và có thói quen viết chữ, ghi tiếng Việt đúng và chuẩn. Đồng thời khi HS hình
thành được kỹ năng đọc thông viết thạo là một tiền đề quan trọng trong việc lĩnh
hội kho tàng tri thức và văn hóa của nhân loại được lưu trữ và ghi lại trong sách
vở. Đối với HS tiểu học, biết viết là điều kiện để các em học tập các môn học
khác trong chương trình.
Đối với người sử dụng tiếng Việt, viết đúng chính tả là chứng tỏ người đó
có trình độ văn hóa về mặt ngôn ngữ. Viết đúng chính tả giúp HS có điều kiện
sử dụng tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các môn văn hóa, trong
việc viết các văn bản, thư từ …
Như vậy, rõ ràng việc viết nói chung và việc sửa lỗi chính tả nói riêng có vị
trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động làm giàu tri thức của các em. Việc viết
đúng chính tả không chỉ đơn giản là viết để viết, viết xong để đấy mà sâu hơn
nữa còn phải giúp các em hiểu được nội dung văn bản, biết được mình đang viết
gì và cần viết cái gì để nắm được cái hay, cái đẹp trong câu chữ, trong ngôn ngữ
tiếng Việt và hiểu được ý nghĩa của chúng. 10
Chính tả mang tính chất thực hành. Thông qua luyện tập liên tục kết hợp với
việc ôn tập các quy tắc chính tả HS sẽ có kĩ năng viết đúng các chữ ghi tiếng Việt.
Do đó không có tiết học quy tắc chính tả riêng, các quy tắc đều được học thông qua
- Các từ có âm đầu hoặc âm chính có nhiều cách viết
- Các từ có vần khó xuất hiện trong các bài chính tả.
- Các từ mà phát âm của tiếng địa phương lệch so với chuẩn.
+ Các tên người, tên địa lý Việt Nam và nước ngoài
Việc một HS hoàn thành một bài chính tả trọn vẹn (không mắc bất kì một
lỗi chính tả nào) được hoàn thiện dần từ lớp1 đến lớp 3. Nhưng thực tiễn dạy
học cho thấy trong day học chúng ta không nên biến những kiến thức đơn giản
thành những kiến thức phức tạp mà nên đơn giản hoá những kiến thức phức tạp để
HS dễ tiếp cận và tiếp thu hơn. Đối với HS lớp 3 cũng vậy, dù yều cầu của một tiết
Chính tả còn ở mức đơn giản nhưng người dạy không nên chỉ chờ đợi vào những
điều tốt đẹp ngày mai, mà ngay từ hôm nay, ngay từ lúc này cần phải biết sửa chữa
những sai sót, phải biết giúp HS ghi nhớ những quy tắc chính tả đơn giản đầu tiên
ấy để làm tiền đề vững chắc cho sự hoàn thiện ở các lớp học tiếp theo.
Thực tế cho thấy GV dạy chính tả nói chung và GV dạy phân môn Chính
tả lớp 3 trường Tiểu học trường Tiểu học Lăng Hiếu - Trùng Khánh - Cao Bằng
nói riêng chưa thực sự coi trọng và tuân thủ nguyên tắc chính âm - chính tả -
ngữ nghĩa vào dạy học Chính tả cho HS. Điều đó chứng tỏ việc HS nắm được
các nguyên tắc để viết chính tả là hết sức cần thiết đối với mỗi người GV khi
dạy - học phân môn Chính tả trong Tiếng việt.
1.1.3.2. Sự kết hợp hài hòa và thành thạo của 4 kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết
Như chúng ta đã biết, ở Tiểu học có nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là việc
hình thành bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết cho HS.
Từ vị trí và nhiệm vụ của phân môn ở tiểu học; chính tả được dạy, được chú ý
trên tất cả các phân môn Tiếng Việt như Tập đọc, Tập làm văn, Từ ngữ,
Ngữ pháp, và còn dạy với tính cách là một phân môn độc lập. Chính vì vậy, để
giúp các em học tốt phân môn Chính tả hay nói cách khác là để giúp HS nói, viết
hiểu đúng Tiếng Việt thì GV phải giải quyết hai phần việc liên quan chặt chẽ với
nhau đó là dạy lý thuyết và dạy cả thực hành cho các em, để từ đó tạo cho các
em năng lực thực hành đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe - nói- đọc - viết đúng
tiếng Việt.
dụng cho những lớp đầu cấp. Chính vì vậy việc giảng dạy chính tả không có ý
thức có tồn tại một số hạn chế như: tốn nhiều thời gian, công sức, không phát
triển được tư duy, chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định. 13
Bên cạnh đó, việc dạy chính tả còn bằng con đường có ý thức hay còn gọi
là ý thức tự giác. Bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo chính tả từ đó
tiến hành luyện tập và từng bước đạt kĩ xảo chính tả. Chính vì vậy con đường có
ý thức này được áp dụng ở những lớp cuối cấp và việc dạy chính tả một cách có
ý thức vừa tiết kiệm được thời gian, công sức và là con đường ngắn nhất, có
hiệu quả nhất.
Để viết được chữ và viết đúng chính tả con người phải vận dụng hai yếu tố
chính đó là vận dụng cơ bắp và thao tác trí óc của người viết. Kĩ năng chính tả là
phối hợp thuần thục: ngón tay, bàn tay, cổ tay, cánh tay để sử dụng bút thể hiện
đúng các chữ đảm bảo sự khu biệt và tốc độ chữ viết nhanh.
Hình thành kĩ năng chính tả là khẳng định vai trò của ý thức, sự thuần thục
của chính tả không phải là sự suy tính cần phải đặt những chữ cái phù hợp
những vị trí nào. Đành rằng đó cũng là kết quả dạy học cuối cùng đạt được. Tuy
nhiên, điều đó không có nghĩa là con đường hình thành kĩ xảo là con đường vô
thức theo A.I.Tôm.Xơn.
Kĩ năng chính tả là hoạt động có ý thức đạt tới mức tự động hóa một cách
tự giác mức độ thông thạo viết đúng các chữ cái ở mọi vị trí cần thiết của chúng,
nó phụ thuộc vào hoạt động cơ bắp và thần kinh của các bộ phận cơ thể trực tiếp
tham gia vào các hoạt động.
Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm, viết chính tả tiếng Việt chủ yếu là
ghi âm tiết thể hiện các thành phần âm vị đoạn tính hay siêu đoạn tính trong cấu
trúc âm tiết thành chữ các biểu tượng về âm tiết và cách viết các âm tiết.
Viết chính tả là sự tái tạo mẫu chữ, là kĩ năng hoạt động ghi nhớ các biểu
tượng về âm tiết và cách viết âm tiết.
thì HS sẽ viết đúng. Bởi vậy tiếng Việt là chữ ghi âm vị nên nguyên tắc này là
nguyên tắc cơ bản nhất. Nó thể hiện ở chỗ cách viết của mỗi từ thể hiện đúng âm
cần đọc của từ. Quan hệ giữa âm và chữ là quan hệ 1-1 nguyên tắc này đòi hỏi
GV phải phát âm chuẩn thì HS mới viết đúng. Nếu với nguyên tắc này ở một số
địa phương phát âm lệch chuẩn, HS không thể dựa hoàn toàn vào cách phát âm
thực tế của địa phương nhất định nào đó vì phát âm sai lệch so với chính âm.
GV phải sửa chữa, vạch rõ cách phát âm sai lệch phương ngữ để các em hiểu rõ
và tự sửa chữa.
- Bắc bộ: sai phụ âm đầu: ch/tr, d/gi/r, c/k/q/l/n.
- Trung bộ: sai thanh điệu: ( ?/ ~) , ( suy nghĩ, sạch sẽ) 15
Sai vần: ie/ yê, ươ/ ưu, ( con hươu/con hiêu, uống rượu/uống riệu)
- Nam bộ: Sai vần: v/d (vô nam/dô nam), i/y. Hay đồng hóa hai âm cuối n/ng
(luôn luôn/ luôn luông), t/k (tuốt tuột/ tuốc tuộc), (bay nhảy/bay nhải).
Hai là: Nguyên tắc chính tả ngữ nghĩa
Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhưng trong thực tế muốn viết
đúng chính tả việc nắm nghĩa của từ là cơ sở giúp người học viết đúng chính tả.
VD: Nếu GV đọc một từ có hình thức ngữ âm là “za” thì HS có thể lúng
túng, khó xác định chữ viết nhưng nếu đọc chọn vẹn là “gia đình”, “da thịt” hay
“ra vào”… thì các em sẽ hiểu nghĩa các từ đó và viết đúng.
Ba là: Nguyên tắc chính tả có ý thức
Là loại chính tả nhằm phát hiện ra quy tắc chính tả từ cơ sở đó mà viết
đúng chính tả. HS cần nắm chắc một số quy tắc làm căn cứ để viết đúng các từ,
các chữ nằm trong phạm vi quy tắc mà không cần gắng sức ghi nhớ cách viết
của từng từ một. Dạy chính tả theo đường này có những thuận lợi sau: khi nắm
được các quy tắc chính tả các em sẽ nắm được cách viết đúng mà không phải ghi
nhớ máy móc; rút ngắn được thời gian rèn luyện, nhanh chóng hình thành các kĩ
năng kĩ xảo chính tả; qua so sánh, phân tích đối chiếu, khái quát hóa, trừu tượng
Trong mỗi chữ, dấu thanh luôn đặt ở chữ ghi âm chính của vần. Trong
tiếng Việt có 6 dấu thanh: thanh nặng, thanh huyền, thanh sắc, thanh ngã, thanh
hỏi, thanh ngang, trong đó một dấu thanh không là thanh ngang. Các thanh đều
được đặt trên các âm chính, riêng thanh nặng đặt dưới âm chính.
Trong các chữ ghi tiếng có bán âm đầu (âm đệm), thì dấu thanh cũng được
ghi ở âm chính (dù sau âm chính không có âm cuối vần).
VD: túy, nhảy, ….
Trong các tiếng có nguyên âm đôi thì dấu thanh được ghi như sau: nếu sau
nguyên âm đôi có âm cuối thì dấu thanh được nghi ở chữ thứ hai nguyên âm đôi.
VD: chiếu, trước,……
Nếu nguyên âm đôi không có âm cuối thì dấu thanh được nghi ở chữ thứ
nhất nguyên âm đôi.
VD: tía, mía, lửa, …
- Cách nhận biết tốt nhất về g và gh, ng và ngh.
Sự nhận biết tốt nhất là dựa vào khả năng kết hợp của chúng với nguyên
âm đứng trước các nguyên âm hàng trước (iê, i, e, ê ). Âm “gờ” viết là “gh”,
âm “ngờ” viết là “ngh”. 17
Khi đứng trước các nguyên âm hàng sau (o, ô, u, uô, a, ă , ). Âm “gờ”
viết là “g”, âm “ngờ” viết là “ng.
Từ cơ sở lí luận trên, để hạn chế lỗi chính tả cho HS GV cần nắm chắc các
quy tắc chính tả và phải có trình độ lí luận khoa học để áp dụng tốt vào thực tiễn.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Chương trình phân môn Chính tả lớp 3
1.2.1.1. Mục tiêu dạy học chính tả lớp 3
Phân môn Chính tả lớp 3 chủ yếu tập trung rèn luyện kỹ năng viết chính
tả chính xác cho HS thông qua các bài tập chính tả, HS lớp 3 nắm được quy tắc
viết của chữ quốc ngữ, nắm được cách viết đúng các từ có âm đầu, vần, thanh
âm vần.
- Bài tập được phân thành bài tập bắt buộc và bài
tập lựa chọn. Bài tập lựa chọn đặt trong dấu ngoặc
đơn để các GV lựa chọn bài tập thích hợp.
18
Ở lớp 3 mỗi tuần có hai tiết chính tả, dưới hai hình thức chính tả: chính tả
nhớ - viết, chính tả tập chép. Bài chính tả dài 60 chữ, tốc độ viết 60- 70 chữ/15
phút, yêu cầu chữ viết đúng mẫu, đều nét, rõ ràng, sạch sẽ, không mắc lỗi chính
tả thông thường (không mắc quá 5 lỗi/một bài) và phải đánh dấu câu đúng vị trí.
Bảng 2: Yêu cầu cần đạt (chuẩn kiến thức và kĩ năng)
STT
Chuẩn kiến thức và kĩ năng
1
Biết cách viết hoa tên riêng Việt Nam, tên riêng nước ngoài (phiên âm).
2
Nghe – viết, nhớ - viết bài chính tả có độ dài khoảng 60 – 70 chữ trong
15 phút, không mắc quá 5 lỗi, trình bày đúng qui định, bài viết sạch
3
Viết đúng tên riêng Việt Nam và một số tên riêng nước ngoài.
4
Biết phát hiện và sửa lỗi chính tả trong bài viết.
5
Nghe – viết bài chính tả có độ dài 70 chữ, trong đó có các từ chứa âm,
vần khó hoặc từ có âm, vần, thanh dễ viết sai do ảnh hưởng của cách
phát âm địa phương, tên riêng Việt Nam, tên riêng nước ngoài.
âm thanh thành chữ viết.
HS phải viết đủ số âm tiết đã nghe, viết đúng nhanh theo tốc độ quy định.
Đối với loại hình thức chính tả này HS phải nghe- nhớ- viết. Việc nghe - viết
phải gắn liên với việc hiểu nội dung cụm từ, câu, văn bản, đoạn bài thì mới có
thể viết đúng. Bởi vì chính tả Tiếng việt không chỉ là chính tả ngữ âm mà còn là
chính tả ngữ nghĩa.
Kiểu chính tả nhớ - viết có đặc điểm riêng. Trong kiểu bài này, bài viết
chính tả là toàn bài hoặc trích đoạn từ một bài tập đọc đã được HS tìm hiểu và học
thuộc trước đó. Điểm tựa của bài viết này không phải là bài viết in/ chép sẵn (như ở
kiểu bài tập chép) cũng không phải là bài đọc của GV (như ở kiểu bài nghe - viết
hoặc kiểu bài so sánh) mà chính là khả năng ghi nhớ và tái hiện văn bản của chính
bản thân mình. Cho nên hình thức Chính tả nhớ - viết chỉ thực hiện ở giai đoạn HS
đã quen thuộc chữ viết Tiếng việt tức là từ lớp 3 trở lên.
1.2.2. Thực trạng rèn kỹ năng chính tả cho HS lớp 3 của GV
1.2.2.1. Thuận lợi cơ bản
Trùng Khánh là một huyện nằm ở phía Đông bắc của tỉnh Cao Bằng, Trùng
Khánh có 2 dân tộc Tày – Nùng chủ yếu cùng sinh sống. Trong đó Tày chiếm
khoảng 45% và Nùng chiếm 47% và 8% là dân tộc khác.
Trường Tiểu học Lăng Hiếu cách thị trấn Trùng Khánh khoảng 5km về phía
Đông. Với vị trí và giao thông đi lại còn khá khó khăn so với các trường tiểu học
trong huyện, mặc dù vậy công tác giáo dục luôn được quan tâm chặt chẽ.
Trường có tổng diện tích mặt bằng 2000m2, năm học 2013 - 2014 nhà
trường có tổng số 8 lớp với tổng số 220 HS trong đó dân tộc tày chiếm 120 HS,
dân tộc Nùng 100 HS .
Tổng số cán bộ giáo viên: 15 (nam 3), Đảng viên 4, trong đó: