DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
GV: giáo viên
HS: học sinh
SGK: sách giáo khoa
GD – ĐT: giáo dục và đào tạo
DTTS: dân tộc thiểu số
HSDT: học sinh dân tộc
TMĐ: tiếng mẹ đẻ
TV: tiếng Việt
VD: ví dụ
NXB: nhà xuất bản
MỤC LỤC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 4
5. Giả thiết khoa học 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Cấu trúc đề tài 5
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG 6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
TIỂU KẾT 42
CHƢƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM 44
3.1. Những vấn đề chung 44
3.1.1. Mục đích thể nghiệm sư phạm 44
3.1.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thể nghiệm 44
3.1.3. Nội dung thể nghiệm và tiêu chí đánh giá thể nghiệm 44
3.1.4. Tiến trình thể nghiệm 45
3.2. Kết quả thể nghiệm 45
TIỂU KẾT 48
PHẦN KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1.1. Môn Tiếng Việt bước đầu dạy cho học sinh (HS) nhận biết được
những tri thức sơ giản, cần thiết bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa,
ngữ pháp, chính tả. Trên cơ sở đó, rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ: nghe, nói,
đọc, viết nhằm giúp học sinh sử dụng tiếng Việt (TV) có hiệu quả trong suy nghĩ
và trong giao tiếp. Mục tiêu của phân môn Chính tả là sự cụ thể hoá mục tiêu của
môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học "hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử
dụng tiếng Việt (đặc biệt là kĩ năng viết); góp phần rèn luyện cho học sinh những
thao tác tư duy cơ bản; cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên
và xã hội để góp phần giáo dục và hình thành nhân cách cho học sinh". (Lê
Phương Nga, Nguyễn Trí (2002) Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXB ĐHSP)
1.2. Chữ viết có vai trò rất quan trọng đối với con người, cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã nói “Chữ viết là một sự biểu hiện của nết người, dạy cho HS
hưởng của phương ngữ. Tâm lí HS dân tộc (HSDT) rụt rè hay xấu hổ, các em
chưa có thói quen nói TV nên thường ngại nói, khi có cơ hội các em thường
quay về với tiếng mẹ đẻ quen thuộc của mình, kể cả trong lớp học. HSDT vì
chưa làm chủ được TV nên thiếu chủ động, thường thụ động trả lời câu hỏi,
không mấy khi dám đặt câu hỏi.
1.4. Trong thời gian thực tập tại Trường Tiểu học Lăng Hiếu –Trùng
Khánh – Cao Bằng chúng tôi thấy các em HS người dân tộc trong quá trình học
tập và sử dụng ngôn ngữ hàng ngày còn mắc nhiều lỗi chính tả mà nguyên nhân
chủ yếu là do trước khi vào bậc tiểu học, HS thường sử dụng tiếng địa phương
quá nhiều. Để có một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho HS lớp 3 Trường Tiểu
Học Lăng Hiếu với mục đích là để nâng cao chất lượng viết đúng, viết đẹp cho
HS chúng tôi mạnh dạn chọn nội dung “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng
chính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Lăng Hiếu – Trùng Khánh – Cao
Bằng” để nghiên cứu, cũng là nêu lên thực tế và biện pháp khắc phục các lỗi đó,
không ngoài mong muốn là đưa các em HS người dân tộc thu hẹp khoảng cách
về nhận thức đối với HS là người dân tộc Kinh.
2. Lịch sử vấn đề
Thực tiễn đề tài này, các tác giả đã quan tâm nghiên cứu các công trình sau: 3
Giáo trình “Phương pháp dạy học tiếng Việt cho HS dân tộc cấp Tiểu học’’
Bộ giáo dục – đào tạo (GD –ĐT), dự án phát triển giáo viên (GV) tiểu học,
Nhà xuất bản gíao dục (NXB GD), Hà Nội (2006), tác giả đã đề cập tới những
mục tiêu cơ bản của dạy môn Chính tả cho HS dân tộc thiểu số, chỉ ra một
hạn chế trong việc thực hiện các yêu cầu phân môn Chính tả ở vùng dân tộc.
Tài liệu còn đề cập đến những nguyên nhân cơ bản nhất của việc mắc lỗi
chính tả của HS dân tộc thiểu số.
Công trình “Vui học tiếng Việt”- Trần Mạnh Hưởng, tập 1 (2002), NXB-
GD, tác giả nhấn mạnh những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúp HS luyện tập
- Khảo sát, thống kê phân loại lỗi, chỉ ra thực trạng mắc lỗi của HS lớp 3
Trường Tiểu học Lăng Hiếu – Trùng Khánh – Cao Bằng.
- Đề xuất một số biện pháp sửa lỗi chính tả cơ bản cho HSDTTS
- Tiến hành thiết kế giáo án và dạy thể nghiệm.
- Tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả bước đầu thể nghiệm và rút ra tính
khả thi của vấn đề nghiên cứu.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập chung nghiên cứu các biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho
học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Lăng Hiếu – Trùng Khánh – Cao Bằng.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Do khả năng và thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ tiến hành điều tra, khảo
sát HS lớp 3 Trường Tiểu học Lăng Hiếu - Trùng Khánh - Cao Bằng.
5. Giả thiết khoa học
Sửa lỗi cho HS nói chung và nhất là HS dân tộc nói riêng còn gặp nhiều
khó khăn. Nên chúng tôi giả định rằng nếu xây dựng được một số biện pháp sửa
lỗi chính tả một cách khoa học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học chính tả
cho HS dân tộc thiểu số lớp 3 nói riêng và trong nhà trường tiểu học nói chung.
Khoá luận được nghiệm thu là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên Khoa
Tiểu học – Mầm non Trường Đại học Tây Bắc.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc tham khảo tài liệu, phân tích, tổng hợp khái quát hóa các vấn đề tài liệu
có liên quan để làm cơ sở lí luận cho khóa luận. 5
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp trắc nghiệm
1.1.1.1. Chính tả là gì
Chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một
ngôn ngữ. Nói cách khác chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được
thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân. Nó là phương tiện thuận lợi cho việc lưu
truyền thông tin, đảm bảo cho người viết, người đọc thống nhất những điều đã viết.
Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội bắt buộc gần như tuyệt
đối, nó không cho phép con người vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tính
chất sáng tạo.
Một ngôn ngữ văn hóa không thể không có chính tả thống nhất, chính tả
thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ không bị trở ngại giữa các địa
phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước với đời sau.
Chính tả thống nhất là một trong những biểu hiện của trình độ văn hóa phát
triển của một dân tộc.
1.1.1.2. Thế nào là chuẩn chính tả?
Thật vậy muốn thống nhất được chính tả thì phải có chuẩn chính tả. Chuẩn
chính tả là việc chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ. Chuẩn chính tả phải
được quy định rõ ràng, chi tiết tới từng từ của tiếng Việt và phải được mọi người
tuân theo. Vấn đề đặt ra là chuẩn chính tả phải được xây dựng sao cho hợp lí, có
độ tin cậy và sức thuyết phục cao. Chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như
tuyệt đối, chẳng hạn không thể viết là “ghách sáo, chia dẻ ” Mà phải viết là
“khách sáo, chia sẻ…”
Chuẩn chính tả có tính chất ổn định cao, rất ít thay đổi, thường giữ nguyên
trong thời gian dài nên thường tạo thành thói quen, tạo nên tâm lí trong lối viết
của người bản ngữ. 7
Mặc dù vậy, chuẩn chính tả không phải là bất biến, khi chuẩn chính tả đã
lỗi thời sẽ dần dần được thay thế bằng nhưng chuẩn chính tả mới.
Ví dụ (VD): Chuẩn chính tả cũ: Đày tớ, trằm trồ
thành thạo để diễn đạt ý nghỉ của mình, nhiều em phát âm sai, viết sai chính tả,
dùng từ không đúng, không biết đặt câu, chấm câu do không nắm vững Tiếng
Việt, nên lời nói, lời văn của các em còn rời rạc vì vậy rèn cho HS kĩ năng viết
đúng chính tả là một việc làm cấp thiết và hết sức cần thiết.
1.1.2. Tầm quan trọng của phân môn Chính tả ở tiểu học
1.1.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ, của phân môn Chính tả ở Tiểu học
Mục tiêu của phân môn Chính tả là sự cụ thể hóa mục tiêu của phân môn
Tiếng Việt ở Tiểu học, hình thành và phát triển HS năng lực sử dụng tiếng Việt (
đặc biệt là kĩ năng viết) góp phần rèn luyện cho HS những thao tác tư duy cơ
bản, cung cấp cho HS những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội để góp phần
giáo dục và hình thành nhân cách cho HS.
Cùng với phân môn Tập Viết, phân môn Chính tả có nhiệm vụ là giúp HS
nắm vững qui tắc chính tả, hình thành kĩ năng chính tả, nói cách khác là giúp HS
hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, củng cố và hoàn thiện các
tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và chữ viết tiếng Việt, trang bị cho HS công
cụ để học tập và giao tiếp xã hội. Ngoài ra phân môn còn rèn cho HS một số kĩ
năng, phẩm chất tốt như : tính cẩn thận, chính xác, bồi dưỡng cho HS lòng yêu
quí tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt.
1.1.2.2. Vị trí, tính chất của dạy học chính tả ở trường tiểu học
Bốn hoạt động vô cùng quan trọng trong hoạt động ngôn ngữ của con
người là nghe, nói, đọc và viết. Xét dưới góc độ chức năng giao tiếp thì nói và
viết là hoạt động tạo lập lời nói, còn nghe và đọc là hoạt động tiếp nhận lời nói.
Còn xét dưới góc độ phương diện giao tiếp thì nghe và nói là hoạt động âm
thanh, đọc và viết là hoạt động bằng chữ viết. Cả bốn hoạt động này luôn có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện hoạt động này là tiền đề thực hiện
bốn hoạt động kia và ngược lại. Tuy nhiên, ở trong mỗi hoạt động lại có những
đặc điểm riêng, giữ vị trí riêng trong hoạt động chung của mỗi con người cũng
như trong dạy học ở nhà trường, trong đó là một kĩ năng vô cùng quan trọng là
rèn luyện cho HS.
nữa còn phải giúp các em hiểu được nội dung văn bản, biết được mình đang viết
gì và cần viết cái gì để nắm được cái hay, cái đẹp trong câu chữ, trong ngôn ngữ
tiếng Việt và hiểu được ý nghĩa của chúng. 10
Chính tả mang tính chất thực hành. Thông qua luyện tập liên tục kết hợp với
việc ôn tập các quy tắc chính tả HS sẽ có kĩ năng viết đúng các chữ ghi tiếng Việt.
Do đó không có tiết học quy tắc chính tả riêng, các quy tắc đều được học thông qua
các hoạt động thực tiễn để hình thành kỹ năng, kĩ xảo chính tả cho HS
1.1.3. Một số nguyên tắc cơ bản trong dạy học chính tả
1.1.3.1. Một nguyên tắc cơ bản trong dạy học chính tả có hiệu quả mà các nhà
nghiên cứu đã đề ra đó là tuân thủ: chính âm - chính tả - ngữ nghĩa.
Chữ viết của Tiếng Việt là chữ viết ghi âm nên nguyên tắc chính tả chủ
yếu của tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện
bằng một tổ hợp chữ cái, mỗi âm tiết, mỗi từ có một cách viết nhất định. Do đó
việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sử viết đúng. Để phát huy
một cách có ý thức. Đặc biệt là những vùng phương ngữ, việc dạy chính tả phải
theo sát nguyên tắc này. Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát âm để
điều chỉnh chữ viết.
VD: Âm vị /t/ được biểu thị bằng chữ cái "t"
Âm vị /b/ được biểu thị bằng chữ cái"b"
Ngữ âm học thực hành chủ yếu tập trung vào rèn luyện phát âm đúng. Phát
âm đúng gắn liền với viết đúng (chính âm gắn liền với chính tả). Do đó cơ chế
của việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở viết đúng. Để phát
huy một cách có ý thức, đặc biệt là vùng phương ngữ việc dạy chính tả cần phải
theo sát nguyên tắc này. Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát âm để
điều chỉnh chữ viết.
- Mạch kiến thức về quy tắc chính tả
Hệ thống hoá những hiểu biết về cách viết đúng các âm đầu, vần, thanh
hình thành bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết cho HS.
Từ vị trí và nhiệm vụ của phân môn ở tiểu học; chính tả được dạy, được chú ý
trên tất cả các phân môn Tiếng Việt như Tập đọc, Tập làm văn, Từ ngữ,
Ngữ pháp, và còn dạy với tính cách là một phân môn độc lập. Chính vì vậy, để
giúp các em học tốt phân môn Chính tả hay nói cách khác là để giúp HS nói, viết
hiểu đúng Tiếng Việt thì GV phải giải quyết hai phần việc liên quan chặt chẽ với
nhau đó là dạy lý thuyết và dạy cả thực hành cho các em, để từ đó tạo cho các
em năng lực thực hành đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe - nói- đọc - viết đúng
tiếng Việt. 12
Ngoài ra, việc dạy học phân môn chính tả phải đảm bảo hầu hết các
nguyên tắc của giáo dục học một cách khoa học. Nếu dựa vào tâm lý của trẻ việc
dạy học phải phù hợp theo từng lứa tuổi, theo từng đối tượng một cách chặt chẽ.
Bên cạnh đó GV phải chú ý vận dụng các kết quả của tâm lý học như các
quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo để từ đó khi dạy học chính
tả có thể biết được sản phẩm của lời nói được sản sinh ra như thế nào, vai trò
của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy để hình thành kĩ năng nói, viết ra sao.
Qua thực tế cho thấy chữ viết của các em HS lớp 3 trường Tiểu học Lăng
Hiếu - Trùng Khánh - Cao Bằng vẫn còn rất xấu và dẫn đến sai nhiều lỗi chính tả,
nhiều HS có chữ viết tương đối khá, trình bày rõ ràng, sạch sẽ nhưng vẫn còn mắc
lỗi chính tả trong bài viết. Vậy mỗi GV cần phải có phương pháp thích hợp nhằm
hướng dẫn, tổ chức cho HS viết chính tả, đồng thời GV cần phải biết kết hợp hài
hòa và thành thạo bốn kĩ năng : nghe- nói - đọc - viết vào trong dạy học Chính tả.
1.1.4. Cơ sở khoa học của việc dạy học chính tả
1.1.4.1. Cơ sở tâm sinh lí
Mục đích của việc nghiên cứu cơ sở tâm lý học là hình thành năng lực viết
thành thạo, thành thục chữ viết tiếng Việt theo các chuẩn chính tả đến giúp hình
thành các kĩ xảo chính tả "kĩ xảo là những yếu tố tự động hóa của hoạt động có
Kĩ năng chính tả là hoạt động có ý thức đạt tới mức tự động hóa một cách
tự giác mức độ thông thạo viết đúng các chữ cái ở mọi vị trí cần thiết của chúng,
nó phụ thuộc vào hoạt động cơ bắp và thần kinh của các bộ phận cơ thể trực tiếp
tham gia vào các hoạt động.
Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm, viết chính tả tiếng Việt chủ yếu là
ghi âm tiết thể hiện các thành phần âm vị đoạn tính hay siêu đoạn tính trong cấu
trúc âm tiết thành chữ các biểu tượng về âm tiết và cách viết các âm tiết.
Viết chính tả là sự tái tạo mẫu chữ, là kĩ năng hoạt động ghi nhớ các biểu
tượng về âm tiết và cách viết âm tiết.
HS Tiểu học thường hiếu động, chóng nhớ, chóng quên, do đó GV cần hình
thành cho các em kĩ xảo chính tả một cách tự động hóa, không cần phải nhờ đến
những quy tắc chính tả, không cần sự tham gia của ý chí. Để đạt điều này có thể
tiến hành theo hai cách: Có ý thức và không có ý thức, với cách không có ý thức
thường tốn thời gian, công sức, GV phải luyện cho HS thường xuyên qua đó
củng cố trí nhớ máy móc ở mức độ nhất định. 14
Với cách có ý thức, GV cần cho HS bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc,
các “mẹo” luật chính tả. Nội dung kiến thức phải bắt đầu từ dễ đến khó, tránh
nhàm chán mà phải học mà chơi chơi mà học. Thông qua luyện tập dần dần hình
thành những kỹ xảo chính tả bằng con đường có ý thức, đó là con đường ngắn
nhất, có hiệu quả cao. Cần vận dụng cả hai phương pháp để rèn luyện chính tả
cho HS tiểu học. Trong đó cách không có ý thức thường được sử dụng đối với
các lớp đầu cấp, cách có ý thức thường sử dụng ở các lớp cuối cấp.
HS tiểu học không phải bao giờ cũng viết đúng, đọc đúng. Do những yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng viết đúng chính tả ( TMĐ, yếu tố sinh lí, yếu tố xã hội )
nên hầu như các em đều viết chính tả theo cảm tính, mặt khác do kĩ năng viết
chính tả còn ít, hạn chế nên việc viết đúng, chính xác còn khó khăn. Đây là cơ
sở để đề xuất các biện pháp rèn kĩ năng Chính tả cho HS lớp 3 trường Tiểu học -
“ra vào”… thì các em sẽ hiểu nghĩa các từ đó và viết đúng.
Ba là: Nguyên tắc chính tả có ý thức
Là loại chính tả nhằm phát hiện ra quy tắc chính tả từ cơ sở đó mà viết
đúng chính tả. HS cần nắm chắc một số quy tắc làm căn cứ để viết đúng các từ,
các chữ nằm trong phạm vi quy tắc mà không cần gắng sức ghi nhớ cách viết
của từng từ một. Dạy chính tả theo đường này có những thuận lợi sau: khi nắm
được các quy tắc chính tả các em sẽ nắm được cách viết đúng mà không phải ghi
nhớ máy móc; rút ngắn được thời gian rèn luyện, nhanh chóng hình thành các kĩ
năng kĩ xảo chính tả; qua so sánh, phân tích đối chiếu, khái quát hóa, trừu tượng
hóa…. Từ đó rút ra quy tắc chính tả, HS được rèn luyện khả năng tư duy.
VD1: Chữ viết thể hiện của âm vị “k” khi nó đứng trước các nguyên âm hàng
trước (i, e, ê, yê ) thì được viết tắt là “k”. Khi nó đứng trước các nguyên âm hàng sau
(o, a, u, ô) thì được viết là “c”. Khi nó đứng trước âm đệm “u” thì được viết là “q”.
VD2: Đứng trước các nguyên âm hàng trước (i, e, ê, yê) được viết là “gh”,
âm vị “y” được viết là “ngh”. Đứng trước các nguyên âm hàng sau (a, ă, â, …)
viết là “g”, âm vị “y” viết là “ng”.
Từ cơ sở lí luận trên, để hạn chế lỗi chính tả cho HS GV cần nắm chắc các
quy tắc chính tả và phải có trình độ lí luận khoa học để áp dụng tốt vào thực tiễn.
1.1.4.3. Một số qui tắc chính tả Tiếng việt.
Nét viết: đều đứng (vuông góc với dòng kẻ). Mặc dù vậy các em vẫn có thể
viết chữ nghiêng và viết nét thanh nét đậm để chữ được thêm phong phú, đa
dạng, đẹp mắt. 16
Kích thước chữ: người ta lấy khoảng cách giữa hai dòng kẻ liền nhau làm
một đơn vị cự li để viết chữ. Căn cứ vào đơn vị cự li dòng kẻ người ta xây dựng
được cự li các chữ.
Độ cao chữ tiếng Việt (bao gồm chữ viết thường, viết hoa và chữ số)
Thứ nhất, mẫu các chữ viết thường:
viết là “g”, âm “ngờ” viết là “ng.
Từ cơ sở lí luận trên, để hạn chế lỗi chính tả cho HS GV cần nắm chắc các
quy tắc chính tả và phải có trình độ lí luận khoa học để áp dụng tốt vào thực tiễn.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Chương trình phân môn Chính tả lớp 3
1.2.1.1. Mục tiêu dạy học chính tả lớp 3
Phân môn Chính tả lớp 3 chủ yếu tập trung rèn luyện kỹ năng viết chính
tả chính xác cho HS thông qua các bài tập chính tả, HS lớp 3 nắm được quy tắc
viết của chữ quốc ngữ, nắm được cách viết đúng các từ có âm đầu, vần, thanh
điệu HS địa phương hay mắc lỗi do ảnh hưởng của phát âm. HS có viết đúng
chính tả thì mới viết đúng chuẩn chính tả và do đó các em mới có thể giao tiếp
tốt bằng văn bản.
Do vậy mục tiêu của phân môn chính tả lớp 3 là trang bị một số kiến thức về
quy tắc chính tả tiếng Việt, rèn luyện kỹ năng nghe, kỹ năng viết đúng chính tả,
thái độ cẩn thận, yêu cái đẹp trong giao tiếp bằng chữ tiếng Việt.
1.2.1.2. Nội dung chương trình Sách giáo khoa phân môn Chính tả lớp 3
Bảng 1: Số bài, thời lượng học và nội dung chương trình
Số tiết/
tuần
Hình đọc
Nội dung
Học kỳ I :
2 tiết/ tuần,
tổng số 30
tiết
Học kỳ II :
2 tiết/ tuần,
tổng số 30
tiết
3
Viết đúng tên riêng Việt Nam và một số tên riêng nước ngoài.
4
Biết phát hiện và sửa lỗi chính tả trong bài viết.
5
Nghe – viết bài chính tả có độ dài 70 chữ, trong đó có các từ chứa âm,
vần khó hoặc từ có âm, vần, thanh dễ viết sai do ảnh hưởng của cách
phát âm địa phương, tên riêng Việt Nam, tên riêng nước ngoài.
Bảng 3: Cấu tạo một bài chính tả trong SGK lớp 3
Cấu trúc của bài chính tả
nhìn – viết
Cấu trúc của bài chính tả
nghe – viết
-Mục 1:
+ Nhìn - viết (đoạn, bài): là bài tập
đọc đã học.
+ Nhận xét về chính tả (cách viết
hoa, dấu câu, tìm các từ khó có yêu
cầu viết đúng) (kí hiệu?)
-Mục 2: Bài tập (có thể có bài tập
giải mẫu – kí hiệu M)
-Mục 3: Bài tập (có thể có bài tập
giải mẫu – kí hiệu M)
-Mục 1:
+ Nghe – viết (đoạn,bài): là đoạn,
bài đã học trong môn tập đọc.
+ Nhận xét về chính tả – kí hiệu?
-Mục 2, 3: Bài tập (có thể có bài
giải mẫu – kí hiệu M)
Trường có tổng diện tích mặt bằng 2000m2, năm học 2013 - 2014 nhà
trường có tổng số 8 lớp với tổng số 220 HS trong đó dân tộc tày chiếm 120 HS,
dân tộc Nùng 100 HS .
Tổng số cán bộ giáo viên: 15 (nam 3), Đảng viên 4, trong đó:
20
Ban giám hiệu: 2
Tổng phụ trách đội: 1
GV chuyên: 3
GV đứng lớp: 11
Trình độ đào tạo 100% GV đạt trình độ trên chuẩn
Giáo viên đạt trình độ Đại học: 2
GV đạt trình độ Cao đẳng: 7
GV đạt trình độ trung cấp: 6
Trường có 02 lớp 3 với 56 HS, HS là người dân tộc : 56 HS
(Theo số liệu báo cáo Trường Tiểu học Lăng Hiếu- Trùng Khánh – Cao Bằng
năm học 2013- 2014)
Cùng với sự phát triển chung của xã hội, đời sống đồng bào dân tộc từng
bước được cải thiện. Các phương tiện nghe nhìn như tivi, rađiô, sách
báo…không còn xa lạ đối với người dân ở đây. Hơn nữa, số phụ huynh trẻ hầu
hết biết sử dụng TV. Đây là những tín hiệu tốt làm cơ sở cho việc xây dựng môi
trường TV ở gia đình HS.
Địa bàn nơi HS sinh sống, an ninh quốc phòng được đảm bảo. Nền kinh tế
cũng khá ổn định và phát triển tương đối đồng đều, đời sống người dân tương
đối ổn định.
Dân trí của người dân ngày càng được nâng cao, trẻ em đều được đến
trường khi đến độ tuổi đi học. HS luôn nhận được sự quan tâm sát sao của nhà
trường và của các bậc phụ huynh là những thuận lợi cơ bản để HS học tập và sử
tạo của mỗi GV ở mỗi trình độ khác nhau, cụ thể: Thời gian đào tạo đối với mỗi
GV đối với trình độ Đại học là 4 năm, còn thời gian đào tạo đối với trình độ
trung cấp và cao đẳng là 2-3 năm. Trình độ GV không đồng đều tại các trường
Tiểu học trên địa bàn tỉnh Cao Bằng nói chung và trường tiểu học Lăng Hiếu –
Trùng Khánh – Cao Bằng nói riêng là một trong những nguyên nhân không nhỏ
dẫn đến kết quả dạy và học chưa cao ở tất cả các môn học cũng như phân môn
Chính tả trong nhà trường Tiểu học.
Thực tế cho thấy một bộ phận GV vẫn duy trì và rập khuôn theo cách dạy
học truyền thống. Đó là sử dụng hình thức dạy học lấy GV làm trung tâm, GV là 22
người tổ chức toàn bộ các hoạt động trên lớp của HS, toàn bộ mạch kiến thức
hầu như được GV giới thiệu, xem xét, đánh giá và kết luận.
Với hình thức dạy học này GV giữ vai trò chủ đạo và trung tâm, còn HS thì
thụ động tiếp thu kiến thức của bài học, không tự mình tìm tòi, khám phá ra cái
mới. Do đó, việc truyền thụ kiến thức còn chưa được thực sự quan tâm đến
đối tượng HS, và việc lĩnh hội kiến thức của HS bị phụ thuộc nặng nề vào bài
giảng của GV, HS không chịu khó suy nghĩ, ỷ lại, thụ động. Với cách dạy này
HS phải tuân theo khuôn mẫu đã vạch ra trong bài giảng của GV, ít có cơ hội
bộc lộ năng lực của bản thân. Đặc biệt đối với các em HS DTTS khi mà trình
độ nhận thức của các em còn chưa cao, khả năng tư duy kém, việc tiếp thu
kiến thức một cách thụ động như vậy sẽ làm cho các em khó nhớ kiến thức
hoặc quên nhanh. Do vậy, hiệu quả mà giờ học mang lại của môn học nói
chung và phân môn Chính tả nói riêng là rất thấp.
1.2.2.4. Thực trạng rèn kỹ năng chính tả của HS
a. HS coi chính tả như một môn học bắt buộc phải học
Như chúng ta đều biết rằng, môn Tiếng Việt hình thành cho HS bốn kỹ
năng: Nghe, nói, đọc, viết. Mà bốn kỹ năng này lại có quan hệ mật thiết với
nhau. Nói có chuẩn thì người nghe mới hiểu đúng và mới viết đúng được, viết