Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Nguyễn Thị Nga -
Giảng viên trường Đại học Quảng Bình đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để
tôi hoàn thành khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn tập thể giảng viên khoa Sư phạm Tiểu học -
Mầm non đã thương yêu, động viên, tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian
học tập và hoàn thành khóa luận.
Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo và các
em học sinh trường Tiểu học Hải Thành đã giúp đỡ, hợp tác, động viên tôi
trong suốt quá trình thực tập, giảng dạy và tìm hiểu thực tế tại trường.
Nhân dịp này tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè,
người thân đã luôn lo lắng, động viên và ủng hộ tôi trong suốt thời gian học
tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng do điều kiện thời gian cũng như
kinh nghiệm chưa có nhiều nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong các thầy cô và bạn đọc góp ý để đề tài được hoàn chỉnh.
Xin chân thành cảm ơn!
Đ
ồng Hới, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thùy Linh KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
TT Kí hiệu Chú giải
1 [17. Tr 144] Trích dẫn từ tài liệu tham khảo 17 trang 144
2 GV Giáo viên
3 HS Học sinh
4 TLV Tập làm văn
5 SGK Sách giáo khoa
6 TV Tiếng Việt
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu: 4
6. Đóng góp của đề tài 5
7. Cấu trúc của đề tài 5
PHẦN 2: NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1. Cơ sở lí luận 6
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 6
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 75
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3.1. Những vấn đề chung của thực nghiệm 76
3.1.1. Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm 76
3.1.2. Địa bàn, thời gian, đối tượng thực nghiệm 76
3.2. Tiến trình thực nghiệm 77
3.2.1. Chọn nội dung thực nghiệm 77
3.2.2. Thiết kế giáo án và phiếu kiểm tra 77
3.2.2.1. Thiết kế giáo án thử nghiệm 77
3.2.2.2. Phiếu kiểm tra kết quả thực nghiệm và cách xếp loại 90
3.2.3. Tiến hành dạy thực nghiệm 92
3.2.4. Tổ chức kiểm tra và chấm bài 92
3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm 93
3.3.1. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 1 93
3.3.2. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 2 94
3.3.3. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 3 94
3.3.4. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 4 95
PHẦN 3: KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học đóng vai trò là tiền đề, nền
tảng. Vì vậy, phải chú trọng chăm lo hình thành cho các em những tri thức ban đầu
đúng đắn, vững chắc để làm cơ sở cho những bậc học cao hơn, góp phần phát triển
đạo đức, trí tuệ, hình thành nhân cách con người mới.
khi xây dựng một bài văn miêu tả. Vì vậy bài văn miêu tả của HS còn mang tính
liệt kê, lời văn lủng củng, thiếu ý hay sắp xếp ý một cách lộn xộn, chưa có sự liên
kết giữa các ý và các câu. Đại đa số các em viết văn còn khô khan, việc sử dụng các
từ ngữ còn vụng về, chưa biết sử dụng biện pháp tu từ để gợi tả nên câu văn chưa
có “hồn” tức là chất lượng học sinh giỏi về môn Tiếng Việt còn rất hạn chế, đặc
biệt các em chưa được hướng dẫn quan sát cụ thể, tỉ mỉ nên các em chỉ tưởng tượng
để viết bài. Hầu hết các em chưa tự quan sát, tìm tòi khám phá ra được “cái mới”
cái nổi bật của đối tượng, các em đang tả để nói và viết những điều các em tự quan
sát và tự cảm nhận được. Những tiết TLV viết văn miêu tả trở nên căng thẳng, khô
khan, thiếu cảm xúc đã làm mất đi sự hứng thú trong học tập, sự sáng tạo và óc
tưởng tượng phong phú của các em học sinh.
Từ những điều đã phân tích ở trên cho thấy việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả
cho học sinh lớp 4, 5 là vô cùng quan trọng và đặt lên hàng đầu. Nó tạo nền móng
vững chắc cho quá trình tích lũy của học sinh ở bậc quan trọng mà trong đó, người
giáo viên Tiểu học chính là người thợ xây đặt những viên gạch đầu tiên cho tiến
trình sau này của học sinh. Vì những lí do quan trọng nên tôi đã mạnh dạn chọn đề
tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5” để
nghiên cứu
2. Lịch sử nghiên cứu
Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí quan trọng trong
chương trình TLV tiểu học. Nó góp phần vào việc bồi dưỡng cảm xúc, phát triển
ngôn ngữ, tư duy lẫn khả năng sáng tạo cho học sinh. Do đó đã có nhiều công trình
nghiên cứu về dạy và học viết văn miêu tả để nâng cao chất lượng bài văn cho HS.
SGK TV lớp 4- 5 ( chương trình CCGD) ngoài việc chú trọng đến kĩ năng nghe,
nói, đọc, viết, sách còn chú trọng đến việc rèn kĩ năng quan sát, tìm ý, lập dàn ý cho HS.
Chương trình TLV miêu tả 4- 5 (chương trình 2000), các nhà viết sách đã có
sự đổi mới khi quan tâm đến việc rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả bằng cách dành
khá nhiều thời gian cho HS rèn luyện kĩ năng này. Nhưng việc rèn kĩ năng viết
đoạn văn miêu tả còn chưa đi theo một hệ thống rõ ràng, cụ thể.
Trong các tài liệu trên đây, các tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy học phân môn
TLV trên phương diện vị trí, nhiệm vụ, nội dung chương trình, phương pháp dạy
học nói chung và văn miêu tả nói riêng nhưng chưa đi sâu nghiên cứu việc rèn kỹ
4
năng viết văn miêu tả ở một khối lớp cụ thể. Do đó đề tài “ Một số biện pháp rèn
kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5” là một đề tài mới mẻ, mang tính
khoa học, phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS lớp 4-5, góp phần nâng cao
năng lực, kĩ năng viết văn miêu tả cho các em, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất
lượng, hiệu quả của việc dạy học văn miêu tả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
- Sách giáo khoa Tiểu học
- Học sinh và giáo viên Tiểu học (lớp 4, 5)
- Phạm vi nghiên cứu
Vì thời gian có hạn nên đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu trong việc rèn kĩ năng
viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài
- Đề xuất biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5.
- Thực nghiệm.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, chúng tôi đã kết hợp sử dụng
các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng các phương pháp so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa
những nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 6
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
- Biện pháp
Theo “Từ điển Tiếng Việt”, nhà xuất bản tổng hợp TP. HCM [17. Tr 144] thì
biện pháp là cách thức giải quyết một vấn đề hoặc thực hiện một chủ trương.
- Kĩ năng
- Kĩ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn [17. Tr 985]
- Kĩ năng được hiểu như một khả năng của con người có thể hoàn thành các
nhiệm vụ trong những điều kiện mới dựa trên những tri thức và kinh nghiệm đã
được tích lũy và một loạt các kĩ xảo trong mối qua hệ mật thiết với nhau. Trong quá
trình lĩnh hội và sáng tạo văn bản, kĩ năng và kĩ xảo luôn có mối quan hệ biện
chứng với nhau ( Theo Lê A- Nguyễn Trí)
- Kĩ năng làm văn
Kĩ năng làm văn là kĩ năng thông qua hệ thống kiến thức đã có HS cảm nhận
bằng sự tinh tế của bản thân mà có được những bài văn hay.
- Con đường hình thành kĩ năng viết văn miêu tả
Dựa trên lý thuyết về hoạt động, có thể khẳng định viết văn miêu tả là một
hoạt động, và con đường dạy văn miêu tả chính là dạy các thao tác tạo ra từng hành
động của hoạt động viết văn miêu tả cho HS. Yếu tố chủ yếu quyết định sự thành
công của việc dạy văn miêu tả là sự thành thục của các thao tác trong từng hành
động. Sự thành thục đó chính là HS đã có kĩ năng viết văn miêu tả.
nét đặc trưng, những đặc điểm, tính chất,…không phải là việc sao chép, chụp lại
một cách máy móc mà phải thể hiện được sự tinh tế của tác giả trong việc sử dụng
ngôn từ, trong cách thể hiện cảm xúc, tình cảm của tác giả đối với đối tượng miêu
tả. Một bài văn miêu tả đạt được đỉnh của nó khi mà bằng những ngôn ngữ sinh
động nào đó khiến cho người nghe, người đọc như cảm thấy mình đang đứng trước
sự vật, hiện tượng đó và cảm thấy như được nghe, sờ những gì mà tác giả nói đến.
Khi miêu tả lạnh lùng, khách quan nhằm mục đích thông báo đơn thuần thì đó
không phải là miêu tả văn học mà là theo phong cách khoa học.
Hãy cùng ngắm nhìn một buổi chiều thanh bình tại một vùng quê dưới ngòi
bút của tác giả Đỗ Chu (Chiều trên quê hương - SGK TV lớp 3/1).
Đó là một buổi chiều mùa hạ có mây trắng xô đuổi nhau trên cao. Nền trời xanh
vời vợi. Con chim sơn ca cất lên tiếng hót tự do, tha thiết đến nỗi khiến người ta phải
8
ao ước giá mà mình có một đôi cánh. Trải khắp cánh đồng là nắng chiều vàng dịu và
thơm hơi đất, là gió đưa thoang thoảng hương lúa ngậm đòng và hương sen.
Chỉ ngắn gọn có bốn câu văn mà Đỗ Chu đã cho ta nhìn thấy được một làng
quê hài hòa vào một buổi chiều mùa hạ vừa động vừa tĩnh. Động đó là mây đùa
giỡn nhau, tiếng chim hót. Tĩnh đó là nắng vàng dịu, hương lúa ngậm đòng và
hương sen. Một cuộc sống khát khao nhưng cũng rất yên bình. Sự hòa hợp giữa đất
với trời, giữa thiên nhiên cỏ cây hoa lá. Một buổi chiều thật đẹp, làm cho tâm hồn
người đọc cũng cảm thấy được yên bình, nhẹ nhàng hơn. Ngòi bút của tác giả thật
tinh tế.
- Đặc điểm của văn miêu tả
Trong cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả”, tác giả Nguyễn
Trí đã nêu rõ ba đặc điểm của văn miêu tả: văn miêu tả mang tính thông báo thẩm
mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết; văn miêu tả mang tính sinh động, tạo hình;
ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc, hình ảnh.
+ Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của người viết.
đặc điểm làm nên sự khác biệt giữa văn miêu tả với các thể loại văn khác như văn
bản tự sự, văn bản trữ tình hay văn nghị luận. Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc
bởi trong bài viết bao giờ người viết cũng bộc lộ tình cảm, cảm xúc hay ý kiến
nhận xét, đánh giá hay bình luận của người viết với đối tượng miêu tả. Tình cảm đó
có thể là sự yêu mến, yêu quý, thán phục hay sự gắn bó với đối tượng được miêu tả.
Ngôn ngữ văn miêu tả giàu hình ảnh bởi trong bài viết thường được sử dụng
từ ngữ gợi hình như: tính từ, động từ, từ láy hay các biện pháp tu từ như: so sánh,
nhân hóa, ẩn dụ,… chính điều này đã tạo cho ngôn ngữ trong văn miêu tả có sự
uyển chuyển, nhịp nhàng, diễn tả tốt cảm xúc của người viết. Hơn thế nó có tác
dụng khắc họa được bức tranh miêu tả sinh động như cuộc sống thực.
Hai yếu tố giàu cảm xúc và giàu hình ảnh gắn bó khăng khít với nhau làm nên
đặc điểm riêng biệt và làm cho những trang văn miêu tả trở nên có hồn, cuốn hút
người đọc, gây ấn tượng mạnh mẽ và tác động sâu sắc vào vị trí tưởng tượng cũng
như của người đọc.
Trong cuốn “Rèn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt” hai tác giả Đào Ngọc và
Nguyễn Quang Ninh đã chĩ rõ ba đặc điểm của văn miêu tả. Đó là: Văn miêu tả là
một loại văn mang tính thông báo thẩm mỹ, trong văn miêu tả, cái mới, cái riêng
phải gắn chặt với tính chân thật; ngôn ngữ trong văn miêu tả bao giờ cũng giàu cảm
xúc, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, âm thanh,…
Như vậy, hai tác giả đó nêu thêm một đặc điểm cũng rất quan trọng của văn
miêu tả đó là, tính sáng tạo phải gắn chặt với tính chân thật. Bởi miêu tả là “vẽ” lại
những đặc điểm nổi bật của cảnh vật, của người” nên sự vẽ lại đó phải đảm bảo
10
đúng như đối tượng đang tồn tại trong cuộc sống. Văn miêu tả phát huy trí tưởng
tượng, sự sáng tạo của người viết nhưng dựa trên những đặc điểm, tính chất thực sự
vốn có. Một yêu cầu rất quan trọng đối với một bài văn miêu tả là văn miêu tả phát
huy trí tưởng tượng, sự sáng tạo của người viết nhưng dựa trên những đặc điểm,
tính chất chân thực như nó vốn có. Đó chính là sự cảm nhận theo chủ quan của mỗi
người, và nó làm nên sự khác biệt giữa các bài văn miêu tả.
chỉnh và hấp dẫn như những sáng tác trẻ em thực sự.
1.3. Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
Trẻ em chưa thể vẽ được những bức tranh hoàn thiện. Các em chỉ biết dùng
lời nói, câu văn để viết lại những điều mình quan sát, nhận xét sự vật dưới cái nhìn
của trẻ con. Sự quan sát, nhận xét của các em còn thiên về cảm tính. Việc dạy văn
miêu tả cho trẻ Tiểu học sẽ góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và tạo nên sự quan tâm
của các em với thế giới xung quanh, trong đó quan trọng nhất là với thiên nhiên.
Góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, tình yêu cái đẹp, góp phần phát triển ngôn
ngữ của trẻ. Học văn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất
giữa tư duy, tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã
hội. Lúc ấy trẻ sẽ bộc lộ được cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn, phát triển nhân
cách của một con người có ích cho xã hội.
Miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí quan trọng trong chương
trình TLV tiểu học lớp 4, 5. Nó góp phần hình thành và phát triển tư duy cho HS
Tiểu học. Học văn miêu tả, HS được rèn kĩ năng viết văn miêu tả gắn liền với quá
trình tạo lập văn bản như : tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý ; diễn đạt thành bài văn
miêu tả. Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sát đối tượng, tìm lí lẽ,
dẫn chứng trình bày, tranh luận góp phần phát triển năng lực phân tích tổng hợp
của học sinh. Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển qua việc
sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Văn miêu tả trong trường Tiểu học
Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 4, 5
Trong chương trình TLV lớp 4, 5 học sinh được trang bị kiến thức cần thiết
về văn miêu tả, về kĩ năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả. Các kiến thức này được
cung cấp qua các nội dung : Cấu tạo bài văn miêu tả, Luyện tập quan sát, Luyện tập
lập dàn ý, Luyện tập xây dựng đoạn văn, Bài viết và trả bài viết. Các nội dung này
là một khuôn mẫu, được lặp lại ở các kiểu bài văn miêu tả: miêu tả đồ vật, miêu tả
cây cối, miêu tả con vật, miêu tả cảnh, miêu tả người. Ngoài ra nội dung chương
và là nội dung phải ghi nhớ ở cuối mỗi bài học. Mỗi tiết học trong chương trình đều
có nhiệm vụ và nội dung xác định, dạy mỗi loại tiết phải đảm bảo thực hiện đầy đủ
các nội dung và hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó.
13
1.2.2. Thực trạng về việc làm văn miêu tả của giáo viên, học sinh ở một số
trường Tiểu học.
- Thực trạng về việc nắm vững các yêu cầu giảng dạy Tập làm văn miêu tả.
Rèn kĩ năng viết văn miêu tả là một trong những vấn đề trọng tâm và cần thiết
trong việc dạy phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 4, 5.
Nhận thức được tầm quan trọng của sự phát triển tư duy, tình cảm, ngôn ngữ
của văn miêu tả với HS ; tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả,
nhiều năm qua Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã có nhiều biện pháp giúp nâng cao hiệu
quả của việc dạy văn miêu tả trong trường Tiểu học. Thông qua các chu kì bồi
dưỡng thường xuyên, các buổi tập huấn về chương trình SGK năm 2000, GV được
bồi dưỡng về mặt kiến thức lẫn phương pháp cần thiết cho việc giảng dạy các tiết
học về văn miêu tả. Tuy nhiên trong thực tế dạy học văn miêu tả, hoạt động dạy và
học còn diễn ra khá sơ sài, qua loa. Tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng về
việc nắm vững các yêu cầu về giảng dạy các tiết Tập làm văn miêu tả của 34 giáo
viên thuộc địa bàn Phường Hải Thành, Bắc Lý, Đồng Phú Thành phố Đồng Hới và
kết quả điều tra thu được kết quả như sau:
Bảng: Thực trạng về việc nắm được các yêu cầu giảng dạy TLV miêu tả
STT NỘI DUNG
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA
SỐ LƯỢNG TỈ LỆ%
1 Hiểu khái niệm về văn miêu tả 15 44,12
2 Nắm được đặc điểm văn miêu tả 8 23,58
3
Nắm được nội dung, yêu cầu, đặc điểm của
các dạng bài miêu tả
thì việc hướng dẫn học sinh làm được một bài văn tốt còn rất sơ sài.
- Trong quá trình điều tra, chúng tôi còn phát hiện ra một vấn đề mà hầu như
tất cả giáo viên chưa thực sự quan tâm đến. Đó là việc chú ý đến những đặc điểm
tâm lí của các em HS lớp 4-5 với việc dạy văn miêu tả. Số GV nắm được đặc điểm
tâm lí HS rất ít, chỉ khoảng 17,65% GV. Do không chú ý đến đặc điểm tâm lí HS
với việc dạy và học văn miêu tả, giáo viên thường gặp nhiều khó khăn khi giúp đỡ
học sinh tìm ý, gợi cho học sinh trí tưởng tượng về sự vật cũng như tạo được sự
hứng thú cho HS trong các tiết dạy và học văn miêu tả.
- Số GV nắm dược các biện pháp tu từ là rất ít, chỉ có 26,47% GV. Vì vậy
việc hướng dẫn HS viết các câu văn sinh động, có hình ảnh, gợi cảm là rất khó
khăn. Vì thế bài làm của HS thường khô khan, không thu hút người đọc.
Qua điều tra chúng tôi cũng thấy được rằng, chỉ có một con đường duy nhất
hình thành các hiểu biết về lý thuyết thể văn, các kĩ năng làm bài…là qua phân tích
bài văn mẫu.
- Để đối phó với việc học sinh làm bài kém, để bảo đảm “chất lượng” khi
kiểm tra, thi cử…nhiều cô giáo, thầy giáo cho học sinh học thuộc bài văn mẫu. Vì
15
vậy dẫn tới trình trạng thầy, trò nhiều khi bị lệ thuộc vào văn mẫu, không thoát ra
được mẫu.
- Ra đề văn miêu tả không cần biết đề đó có thích hợp với học sinh không. Ví
dụ ở thành phố lại cho miêu tả con lợn, con trâu. Còn ở nông thôn lại cho tả cảnh
công viên. Nguyên nhân tình trạng này là do giáo viên lệ thuộc quá nhiều vào sách.
Ngoài ra, việc GV chưa thực sự quan tâm đến mục đích, tác dụng của từng
loại bài tập trong việc rèn kĩ năng viết văn cho HS cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
kết quả giảng dạy TLV của từng GV. Trong quá trình điều tra, chúng tôi còn phát
hiện ra một vấn đề mà hầu như tất cả giáo viên chưa thực sự quan tâm đến. Đó là
việc chú ý đến những đặc điểm tâm lí của các em HS lớp 4, 5 với việc dạy văn
miêu tả. Số GV nắm được đặc điểm tâm lí HS rất ít. Do không chú ý đến đặc điểm
tâm lí HS với việc dạy và học văn miêu tả, giáo viên thường gặp nhiều khó khăn
Do quan sát, tìm ý là một hoạt động không thể thiếu trong việc dạy và học văn
miêu tả nên chương trình dành hẳn một tiết quan sát, tìm ý ở mỗi kiểu bài văn miêu
tả. Tuy nhiên các tiết quan sát, tìm ý thường diễn ra khá sơ sài, chưa đúng với trình
tự của một tiết dạy quan sát, tìm ý. Vì vậy, kiến thức, kỹ năng mà GV cung cấp
trong các tiết dạy quan sát, tìm ý chưa giúp HS phản ánh được đầy đủ và chính xác
đối tượng miêu tả. Cạnh đó, GV chưa hướng dẫn được HS cách thức quan sát và
tìm ý như thế nào cho tốt cũng như chưa chọn được trình tự quan sát, chi tiết nổi
bật khi miêu tả, cách thu nhận đặc điểm đối tượng, cách ghi ý, Thông thường,
hoạt động quan sát, tìm ý luôn được tổ chức trên lớp học. HS chỉ được quan sát đối
tượng trên tranh ảnh tĩnh với một giác quan duy nhất là thị giác. Do đó các em
thường không phản ánh đầy đủ đặc điểm của các đối tượng được quan sát. Giáo
viên thường tỏ ra lúng túng khi dạy những tiết quan sát, những dạng bài cùng một
loại sự vật có nhiều hình dạng khác nhau. Để dễ dạy, giáo viên thường ép HS lựa
chọn đối tượng miêu tả theo ý mình hoặc theo các tư liệu sẵn có trong bộ đồ dùng
dạy học. Có khi GV bỏ luôn tiết quan sát tìm ý thay bằng tiết viết bài văn, đọc bài
văn mẫu. Do vậy giờ học Tập làm văn luôn khô khan, thiếu cảm xúc, làm mất đi
hứng thú học tập, sự sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú của các em.
Việc giúp các em có được vốn từ để miêu tả cũng rất thấp. Việc cung cấp, mở
rộng vốn từ đã được thực hiện ở các tiết LT&C. Chương trình SGK tuy có sự liên
kết giữa các phân môn với nhau nhưng các ngữ liệu của các phân môn như Tập
đọc, LT&C, Chính tả chưa đồng bộ trong việc cung cấp các vốn từ phục vụ cho
việc miêu tả ở HS. Các vốn từ cung cấp trong các ngữ liệu cũng không thật sự gần
gũi với học sinh từng vùng, miền. Giáo viên cảm thấy khó khăn khi cùng một lúc
vừa cung cấp kiến thức lại vừa cung cấp cho học sinh thêm các vốn từ miêu tả
17
trong khi thời gian một tiết học lại có giới hạn. Vì vậy tình trạng học sinh nghèo
vốn từ, không có ý để miêu tả là phổ biến.
GV không quan tâm đến việc hướng dẫn HS sử dụng các phép liên kết trong
câu. Nhiều đoạn văn HS viết ra thường không chặt chẽ về ý, các câu rời rạc, lộn
7 Nhận biết được các loại đoạn văn 18 33,33
8 Nắm được các phép liên kết câu 21 38,89
9
Nắm được các biện pháp tu từ sử dụng trong
văn miêu tả
25 46,30
18
Qua điều tra chúng ta thấy:
- Số HS thích thú với việc làm văn là rất thấp chỉ chiếm 33,33%
- Hiểu khái niệm về văn Miêu tả: chiếm tỉ lệ 37,04%
- Nắm được đặc điểm văn miêu tả: : chiếm tỉ lệ 31,48%
- Nắm được nguyên tắc, phương pháp quan sát: chiếm tỉ lệ 40,74%
- Nắm được nội dung, yêu cầu, đặc điểm của các dạng bài miêu tả: chiếm tỉ lệ
29,63%
- Nắm được cách tìm ý,lập dàn bài cho bài văn: chiếm tỉ lệ 27,78%
- Nhận biết được các loại đoạn văn: chiếm tỉ lệ 33,33%
- Nắm được các phép liên kết câu: chiếm tỉ lệ 38,89%
- Nắm được các biện pháp tu từ sử dụng trong văn miêu tả: chiếm tỉ lệ 46,30%
Qua xem bài làm của học sinh và khảo sát tình hình học tập của các em học
sinh lớp 4, 5 tôi thấy hầu hết các em nắm được kiến thức cơ bản của các phân môn
Luyện từ và câu, Chính tả nhưng các em chưa biết vận dụng kiến thức của các phân
môn này để làm bài tập làm văn. Chương trình phân môn tập làm văn lớp 4, 5 hiện
đang học thể loại bài miêu tả, nhìn chung các em đã nắm được cấu trúc một bài văn
miêu tả nhưng bài làm của các em còn viết theo một lối mòn khuôn sáo, kém hấp
dẫn, ít cảm xúc và nghèo hình ảnh, đặc biệt là các em chưa biết sử dụng các biện
pháp tu từ, các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hoá, các ý sắp xếp còn lộn
xộn, chưa theo một trình tự,…Về mặt cấu tạo câu các em cũng còn mắc rất nhiều
+ Nắng đã lên mẹ em ra đồng
- Lỗi sử dụng dấu câu sai:
Cây phượng vĩ. Rợp bóng cho sân trường của em.
Nếu hôm nay. Trời mưa em sẽ ở nhà học bài.
Lỗi ngoài câu:
- Lỗi câu lạc chủ đề: Con sông nằm uốn mình dưới bờ tre xanh rì rào. Cây tre
nhiều đốt màu xanh.
- Lỗi do các câu trong văn bản mâu thuẫn nhau về nghĩa:
Con diều bay không cao lắm. Nhưng nó bay cao vút trên tầng không kia.
- Bạn Nam chăm chỉ học bài, cuối năm bạn không được khen thưởng.
- Các loại lỗi câu có nội dung trùng lặp với câu khác trong văn bản:
+ Giặc minh xâm chiếm nước ta. Chúng làm nhiều điều bạo ngược khiến dân
ta vô cùng căm hận. Chúng hòng cướp nước ta.
Học sinh nắm được kiến thức cơ bản của phân môn Luyện từ và câu nhưng
khi áp dụng vào viết văn thì các em thường không chú ý diễn đạt nên đã mắc phải
một số lỗi như đã liệt kê ở trên. Từ chỗ mắc lỗi về câu cộng với việc chưa biết cách
sử dụng các biện pháp nghệ thuật, vốn từ lại nghèo nàn nên bài văn miêu tả của các
em thường khô khan, lủng củng nghèo cảm xúc, bài văn trở thành một bảng liệt kê
các chi tiết của đối tượng miêu tả.
20
Trước thực tế đó, bản thân tôi đã điều tra phân loại, nắm chắc từng đối tượng
học sinh: năng khiếu, trung bình, yếu. Nắm chắc đối tượng học sinh, giáo viên sẽ
đề ra được kế hoạch, biện pháp dạy học phù hợp giúp học sinh phát triển năng lực
học văn, giúp học sinh yếu biết làm văn miêu tả, có thể vận dụng làm được một bài
văn hoàn chỉnh.
Học sinh chưa nắm được các bước quan sát, tìm ý, cũng như cách ghi ý trong
quá trình quan sát. Các em quan sát còn lộn xộn, không đi theo một trình tự nhất
định. Cách ghi chép các ý quan sát cũng chưa có logic và hệ thống, cộng với vốn từ
quá ít ỏi đã gây không ít khó khăn cho việc lựa chọn từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả.