MỘT số BIỆN PHÁP rèn kĩ NĂNG VIẾT văn MIÊU tả CHO học SINH lớp 4 - Pdf 45

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KĨ THUẬT
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4A TRƯỜNG TH MAI THỦY

Mai Thủy, tháng 5 năm 2012
1


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KĨ THUẬT
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4A TRƯỜNG TH MAI THỦY

Họ và tên: Nguyễn Văn Dũng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường TH Mai Thủy

Mai Thủy, tháng 5 năm 2012
2


A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của đất nước, sự phát triển về lĩnh vực giáo dục cần phải
được chú trọng và quan tâm đúng mức. Vì vậy, việc đổi phương pháp dạy học đã
được Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ thị cho Sở Giáo dục các tỉnh thực hiện. Trong

Đề tài nhằm mục đích :
- Đưa ra một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4
- Bồi dưỡng cho học sinh năng lực cảm thụ văn học và rèn kĩ năng viết văn cho học
sinh thông qua thể loại văn miêu tả.
- Rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích cho bản thân.
- Làm tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp.
III. Nhiệm vụ đề tài
- Nghiên cứu một số đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh tiểu học; dựa vào kinh
nghiệm dạy học của bản thân, từ đó đưa ra các biện pháp dạy học rèn kĩ năng viết
văn thông qua thể loại văn miêu tả cho học sinh một cách thích hợp.
- Kiểm tra tính khả thi của đề tài.
IV. Đối tượng và phạm vi đề tài
1. Đối tượng
- Học sinh lớp 4
- Các biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
2. Phạm vi
Học sinh lớp 4A Trường TH Mai Thủy.
V. Phương pháp nghiên cứu
Để đưa ra đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp :
- Phương pháp nghiên cứu lí luận và thực tiễn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp thống kê, điều tra, vấn đáp
- Phương pháp thực nghiệm

B. NỘI DUNG CHÍNH
4


I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI


Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở học sinh lớp 4, 5 chiếm ưu thế
tương đối nên trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ lôgic. Các em nhớ và gìn giữ chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn
và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng. Nhiều học sinh lớp 4, 5
còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sử dụng sơ đồ loogic và
dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết xây dựng dàn ý tài liệu cần ghi nhớ.
Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định do tính tích cực học tập của học sinh quy
định. Một đặc điểm cần lưu ý là tưởng tượng của học sinh lớp 4, 5 đã mất dần,
thoát khỏi ảnh hưởng của những ấn tượng trực tiếp. Mặt khác, tính hiện thực trong
tưởng tượng của học sinh gắn liền với sự phát triển của tư duy và ngôn ngữ. Tư duy
của học sinh lớp 4, 5 bắt đầu chuyển dần từ tính cụ thể sang tính trừu tượng, khái
quát. Hoạt động phân tích - tổng hợp phát triển mạnh hơn. Các em có thể phân tích
đối tượng mà không cần tới những hành động thực tiễn với đối tượng đó. Tư duy
hình thức đã bắt đầu có sự phát triển (tuy còn ít). Năng lực khái quát hoá của các
em phát triển tương đối mạnh. Vì vậy, trong quá trình dạy học nói chung và dạy
phân môn Tập làm văn nói riêng, giáo viên cần phải chú ý rèn luyện năng lực tư
duy, năng lực cảm thụ văn cho các em.
1.4. Các dạng bài làm văn miêu tả ở lớp 4
Nội dung và yêu cầu viết văn miêu tả được thể hiện qua các dạng bài tập làm văn
cụ thể:
- Tả đồ vật
- Tả cây cối
- Tả con vật
Nội dung các bài làm văn giúp học sinh thực hành, rèn luyện các kĩ năng sử dụng
tiếng Việt như thực hành các nghi thức lời nói, rèn kĩ năng diễn đạt, kĩ năng xây
dựng văn bản tiếng Việt. Thông qua những đề bài cụ thể, học sinh luyện tập trau
dồi và sáng tạo ngôn bản trên hai hình thức nói và viết. Muốn giải quyết yêu cầu
của một đề bài cụ thể, học sinh phải huy động toàn bộ vốn kiến thức của mình: kiến
thức văn học, kiến thức đời sống, kiến thức ngôn ngữ, ... Và những kĩ năng cần
6


7


Năm học 2011 - 2012, tôi đã được Nhà trường và chuyên môn phân công chủ
nhiệm và giảng dạy lớp 4A. Ngay từ đầu năm, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng
phân môn Tập làm văn đối với 26 học sinh lớp 4A Trường TH Mai Thuỷ qua bài
kiểm tra đầu năm và thu được một số kết quả như sau:
Bảng 1 : Thống kê điểm bài khảo sát đầu năm
Điểm
Lớp
4A

1

2

3

4

5

6

7

8

9


4A

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Ghi

(9, 10)
SL
%

(7, 8)
SL
%

(5, 6)
SL
%

(1, 2, 3, 4)
SL
%

chú



Lỗi dùng từ

13

11

Lỗi viết

Tổng số học

câu

sinh

14

26

Bảng 4 : Thống kê tỉ lệ phần trăm mắc lỗi của HS lớp 4A
8


Lỗi
Lớp

Lỗi chính tả

Lỗi dùng từ



Tỉ lệ (%)

5
1
0

83,3
16,7
0

Qua bảng thống kê trên tôi nhận thấy : Không có giáo viên nào cho rằng vai trò
của kĩ năng viết văn và cảm thụ văn đối với học sinh lớp 4, 5 là không quan trọng
(tỉ lệ 0%). Điều này cho thấy, hầu hết các giáo viên đã ý thức được tầm quan trọng
của kĩ năng này. Trong đó, tỉ lệ giáo viên xác định vai trò rất quan trọng (83,3%) và
quan trọng (16,7%). Việc xác định hay không xác định được tầm quan trọng của kĩ
năng này sẽ phần nào ảnh hưởng đến chất lượng dạy học phân môn TLV. Qua đó
cũng để khẳng định rằng : vai trò của kĩ năng viết văn và cảm thụ văn đối với học
sinh lớp 4, 5 là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học của môn
học.
Bảng 6 : Sự quan tâm của GV đối với việc rèn kĩ năng viết văn cho HS lớp 4, 5
9


Mức độ quan tâm của GV
Số lượng GV
Tỉ lệ (%)
Rất quan tâm
5
83,3

2.2.2.2. Giáo viên
- Một số GV chưa khai thác triệt để nội dung bài dạy hoặc không sáng tạo khi dạy,
cứ rập khuôn theo phương pháp của sách giáo viên
10


- Khi hướng dẫn học sinh viết văn, GV chưa đưa ra các gợi ý dưới dạng “mở” cho
học sinh lựa chọn để tìm các hình ảnh, chi tiết thích hợp.
- Một số giáo viên dạy học trên tinh thần “đối phó”
- Chưa thực sự chú trọng rèn kĩ năng viết văn cho học sinh (chưa quan tâm hướng
dẫn học sinh sửa lỗi viết văn)
- Hiệu quả của phương pháp giảng dạy còn chưa cao
3. Nhận xét chung
Vị trí của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học là rất quan trọng. Nhưng thực tế,
chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn nói chung chưa cao. Đối với việc học
văn thì học sinh cần phải thực hành, luyện tập nhiều. Hơn nữa, do đặc điểm của học
sinh tiểu học là “mau nhớ, mau quên” cho nên cần phải hình thành kĩ năng và thói
quen cho các em trong suốt quá trình dạy học. Vai trò của việc rèn kĩ năng viết văn
cho học sinh hết sức quan trọng trong việc phát triển tư duy trẻ. Học tốt phân môn
Tập làm văn sẽ góp phần giúp học sinh học tốt các phân môn và môn học khác.

II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 4A TRƯỜNG TH MAI THỦY
Từ thực trạng nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm rèn kĩ năng
viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4A dưới đây:

1. Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập (rèn kĩ năng
nhận diện đặc điểm thể văn và phân tích đề bài)
Bất kì một đề bài Tập làm văn nào, việc giúp học sinh nắm vững yêu cầu của đề
bài là rất quan trọng. Đây là định hướng đầu tiên để học sinh hệ thống lại trong trí

các gợi ý: Về hình dáng của cây (to lớn, cành lá xum xuê; cây như một chiếc ô
xanh hay ngọn tháp xanh khổng lồ, ...). Về màu sắc của lá (xanh đậm, xanh nhạt,
xanh non tơ, ...); kích thước, hình dáng của chiếc lá (lá hình bầu dục, hình chiếc
12


quạt; tán lá xòe rộng, lá dày đan xen nhau kín khít, mỗi chiếc lá như một chiếc quạt
xanh, ...). Về công dụng (che bóng mát, tạo cảnh quan cho trường, ..); cây có bóng
mát các em tả có điều gì đặc biệt so với những cây có bóng mát hay những loại cây
khác: cây đã được trồng lâu năm, cành lá xum xuê, gốc cây to, ...
Ví dụ với đề bài Tả cái đồng hồ báo thức, GV có thể sử dụng phương pháp đàm
thoại hoặc phương pháp trực quan (tranh ảnh, băng hình) để cung cấp hình ảnh về
đối tượng miêu tả. Sau đó, giáo viên gợi ý đưa ra một số từ ngữ miêu tả dưới dạng
mở để học sinh lựa chọn phù hợp với đối tượng miêu tả.
Ví dụ: Về hình dáng đồng hồ (tròn, vuông, hình chữ nhật, hình chú mèo, hình chú
gà, ...). Về màu sắc (xanh lá cây, xanh da trời, xanh dương, vàng nhạt, vàng tươi, đỏ
thẫm, đỏ chon chót, ...). Về các bộ phận và đặc điểm của các bộ phận (các con số
màu gì? (màu đen hoặc xanh, đỏ, ..); được sắp xếp như thế nào? (sắp xếp trên một
đường tròn, sắp xếp thành hình vuông hay hình chữ nhật, ...); có mấy kim? (3 kim)
đó là những kim nào? (kim giờ, kim phút, kim giây); mỗi kim có đặc điểm gì? (kim
giờ to chạy chậm, kim phút mảnh hơn chạy nhanh hơn, kim giây mảnh chạy như có
ai đuổi, ...). Về công dụng của đồng hồ (đồng hồ giúp em xem giờ, báo thức, ..).
Chiếc đồng hồ báo thức của em có đặc điểm gì đặc biệt so với những chiếc đồng hồ
khác (ví dụ đặc biệt về hình dáng, về tiếng chuông báo thức hay về màu sắc, ...)...
Để biện pháp trên có hiệu quả cao, giáo viên cần phải huy động tính tích cực, chủ
động của nhiều học sinh trong lớp, đặc biệt là những học sinh mà vốn từ TV còn
hạn chế nhằm giúp các em có được vốn từ cần thiết phục vụ cho việc làm bài tập
3. Biện pháp 3 : Hướng dẫn học sinh dùng từ để đặt câu miêu tả (miệng) và
sửa lỗi (nếu có) nhằm rèn kĩ năng chọn từ, tạo câu, kĩ năng diễn đạt.
Sau khi học sinh đã có một vốn từ TV nhất định liên quan đến đề bài, giáo viên

học mang tính cách của con người: “Đến giờ rồi, vào học thôi. Đó là tiếng gọi thân
thuộc của chiếc bàn học của em đấy” (Trong bài văn Tả chiếc bàn học ở lớp hay ở
nhà của em của em Khắc Thị Quỳnh Như lớp 4A)

14


4. Biện pháp 4 : Cho học sinh tự lập dàn ý chi tiết và trình bày miệng dàn ý
trước khi viết văn nhằm rèn kĩ năng tạo lập văn bản (liên kết câu tạo thành
đoạn, bài)
- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh trình bày bố cục của văn bản (tức là sự xếp đặt,
trình bày các phần để tạo nên một nội dung hoàn chỉnh : miêu tả theo trình tự thời
gian hay không gian) bằng câu hỏi dẫn dắt : Em cần trình bày bài viết của mình như
thế nào ? (Trình bày theo mấy phần? Đó là những phần nào ?)
- Hướng dẫn học sinh xác định đúng nội dung của từng phần (mở bài, thân bài và
kết bài)
Biện pháp này là bước cơ bản giúp học sinh viết được một bài văn miêu tả có chất
lượng. Sau khi học sinh đã có một vốn từ TV nhất định liên quan đến yêu cầu của
bài tập, GV cho học sinh lập dàn ý chi tiết và trình bày miệng dàn ý vừa lập. GV
giúp học sinh sửa lỗi dùng từ, đặt câu, diễn đạt,... để hoàn thiện những ý cơ bản
nhất theo yêu cầu của đề bài.
Ví dụ với đề bài “Tả chiếc cặp sách của em” (SGK TV4, T2, trang 18) , GV cần
hướng dẫn hs lập được một dàn ý chi tiết như sau (minh họa):
* Mở bài (trực tiếp hay gián tiếp)
- Mở bài trực tiếp: Vào đầu năm học mới, mẹ mua cho em một chiếc cặp xinh xắn.
- Mở bài gián tiếp: Cũng như bao đứa bạn cùng lớp, ngày khai trường là ngày mà
em mong chờ nhất. Trước ngày khai trường, mẹ đã mua cho em đủ sách vở và đồ
dùng học tập. Trong số đó, ấn tượng nhất là chiếc cặp sách mà mua về từ Thủ đô
Hà Nội....
* Thân bài :

rèn luyện thích hợp.
Trên thực tế, các biện pháp nêu trên cần được tiến hành một cách đồng thời và
liên tục trong mỗi tiết dạy. Mặt khác, giao bài tập về nhà và kiểm tra việc học ở nhà
là một việc làm không thể thiếu, làm cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức của các em ở
lớp được thuận tiện hơn. Tuy nhiên, không thể ngày một ngày hai mà học sinh hình
thành được kĩ năng mà cần phải có một quá trình lâu dài và kiên trì. Cũng không
16


thể rèn kĩ năng cho tất cả các học học sinh trong cùng một lúc mà phải biết nên tập
trung rèn kĩ năng cho học sinh nào trước, học sinh nào sau.

III. MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Các biện pháp nêu trên tôi đã áp dụng để rèn kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 4A
Trường TH Mai Thủy và đã thu được một số kết quả như sau (theo kết quả khảo sát
chất lượng đợt 4 năm học 2011 - 2012)
Bảng 7: Thống kê điểm bài khảo sát đợt 4 (Phân môn TLV)
Điểm

1

2

3

Lớp
4A
0
0
0

Tổng
số hs
26

Bảng 8: Thống kê tỉ lệ phần trăm
Xếp loại

Yếu kém

Trung bình

Khá

Giỏi

Ghi

(1, 2, 3, 4)
SL
%

(5, 6)

(7, 8)
SL
%

(9, 10)
SL
%

Lỗi viết

Tổng số học

câu

sinh

3

26

Bảng 10 : Thống kê tỉ lệ phần trăm mắc lỗi của HS lớp 4A
Lỗi
Lớp
4A

Lỗi chính tả

Lỗi dùng từ

19,2

15,4

Lỗi viết
câu
11,5

Tỉ lệ (%)

học sinh lựa chọn để tìm các hình ảnh, chi tiết thích hợp.
- Hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh phân tích, nhận xét phải rõ ràng, có tính gợi
vấn đề và phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh
- Trong giờ học, giáo viên phải yêu cầu tất cả các học sinh cùng làm việc, cùng suy
nghĩ về vấn đề cần giải quyết. Giáo viên cần khuyến khích, động viên cũng như
uốn nắn những sai lầm của các em một cách kịp thời, đúng lúc.
- Phải dự kiến các tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách giải quyết

18


- Cần thực sự chú trọng rèn kĩ năng viết văn cho học sinh (quan tâm hướng dẫn học
sinh sửa lỗi viết văn).
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

1. Kết luận
Với sự phát triển nhanh của đất nước đòi hỏi quá trình giáo dục phải đào tạo được
những con người đáp ứng với thời cuộc. Đặc biệt là phải đào tạo ngay từ Tiểu học.
Trình độ phát triển tư duy của học sinh tiểu học một phần phụ thuộc vào nội dung
và phương pháp giảng dạy ở nhà trường phổ thông. Trong dạy học các môn học nói
chung và dạy học phân môn Tập làm văn nói riêng, ngoài việc cung cấp cho học
sinh những kiến thức cơ bản, giáo viên cần quan tâm rèn luyện kĩ năng cho học
sinh. Đề tài này nhằm mục đích nói trên.
Qua triển khai đề tài ở cơ sở bước đầu đã thu được những kết quả sau:
- Đã đưa ra được một số biện pháp và ví dụ minh hoạ để rèn kĩ năng viết văn miêu
tả cho học sinh lớp 4, góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, phát
huy tính tích cực, chủ động, linh hoạt và sáng tạo của học sinh.
- Bước đầu rèn cho học sinh lớp 4 kĩ năng viết văn miêu tả
- Việc áp dụng các biện pháp nêu trên cho thấy bước đầu các biện pháp này đã đem
lại hiệu quả và có tính khả thi

giảng dạy ở Tiểu học, NXBGD, HN - 1998
2. Bùi Văn Huệ, Tâm lí học Tiểu học, NXBĐHSPHN, HN - 1995
3. Trần Mạnh Hưởng, Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học, NXBGD,
2001
4. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Hoàng Cao Cương, Đỗ Việt Hùng, Trần
Thị Minh Phương, Lê Hữu Tỉnh, Tiếng Việt 4 (T1, 2), NXBGD, 2008
20


MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
I. Lí do chọn đề tài

............................................................................................

1
II. Mục đích đề tài ............................................................................................

2

III. Nhiệm vụ đề tài ..........................................................................................

2

IV. Đối tượng và phạm vi đề tài .....................................................................

2

V. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................

đoạn, bài)

............................................ 13

V. Biện pháp 5 : Thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá kĩ năng viết văn của
từng học sinh (qua việc thực hành - luyện tập ở lớp cũng như ở nhà), từ đó
phân loại đối tượng học sinh và lập kế hoạch phụ đạo trong thời gian tiếp theo
................... 14
VI. Một số kết quả đạt được..................................................................................15
VII. Bài học kinh nghiệm
......................................................................................16
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận ..............................................................................................................17
2. Đề xuất
................................................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................19
MỤC LỤC ................................................................................20

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status