skkn một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4 - Pdf 42

ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4

TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26

MỤC LỤC


Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

Trang
1
2
2
2
3
3
3
3
3
4
4
5
5
6
6
7
7
8
17
17
18
18
19
19
19
21

viết sai còn khá phổ biến. Đối với việc đổi mới phương pháp dạy học theo chương
trình thử nghiệm (VNEN), tiến tới thay sách giáo khoa thì việc rèn luyện kĩ năng
viết đúng, viết đẹp cho học sinh đòi hỏi ngày một cao hơn. Mặt khác việc học
ngoại ngữ để biết và thông thạo ngoại ngữ phục vụ cho công cuộc đổi mới, mở
cửa và hội nhập là một trong những tiêu chuẩn không thể thiếu được trong quá
trình đào tạo. Việc rèn, dạy cho học sinh phát âm chuẩn, viết chuẩn, viết đẹp, viết
đúng Tiếng Việt lại càng cần thiết. Từ thực tế giảng dạy, bản thân tôi đã rút ra
được một vài kinh nghiệm nhằm khắc phục tình trạng viết sai chính tả của học
sinh. Đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết
đúng chính tả cho học sinh lớp 4” để trao đổi kinh nghiệm dạy học với các đồng
chí.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Tôi viết Sáng kiến kinh nghiệm này nhằm:
- Tìm ra những điểm yếu của học sinh khi viết bài chính tả.
Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

2


ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4
- Đưa ra những biện pháp dạy học hợp lí.
- Hệ thống những kiến thức cơ bản vào tiết dạy phù hợp với tình huống
phương ngữ vùng miền.
- Tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất nhằm giúp học sinh viết đúng chính
tả.
- Giải quyết những khó khăn trong việc dạy chính tả, rèn cho học sinh ý thức,
thói quen và hoàn thiện kĩ năng viết đúng chính tả, nhằm nâng cao chất lượng
môn Tiếng Việt.
- Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, tích lũy thêm kinh nghiệm, giúp bản thân
và các giáo viên trong khối dạy tốt tiết luyện viết.


ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4
ngữ nói mà còn giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. Như trong lĩnh vực học tập nghiên
cứu tài liệu cũng như việc giao tiếp giữa người với người, giữa các thế hệ đời
trước với đời sau. Tiếng Việt là công cụ để giao tiếp tư duy và học tập, trong thực
tế cuộc sống của con người, người ta vẫn thường có câu: “Văn hay không bằng
chữ tốt”. Chính vì vậy yêu cầu đặt ra trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết là
làm sao phải đảm bảo được người đọc hiểu đúng hoàn toàn ý nghĩa, nội dung
trong văn bản của người viết. Viết đúng chính tả là giúp cho học sinh có điều kiện
sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các môn học khác trong
nhà trường. Để đạt được yêu cầu này trên lĩnh vực chữ viết phải được thể hiện
một cách thống nhất trên từng con chữ, từng âm tiết Tiếng Việt. Nói một cách
khác là mỗi âm vị sẽ được thể hiện bằng một hay một tổ hợp chữ cái đồng thời
mỗi từ cũng có một cách viết nhất định, thống nhất trong cộng đồng người Việt.
Về cơ bản chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, mỗi âm vị được ghi bằng
một con chữ. Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết chính tả Tiếng Việt phải
thống nhất với nhau. Đọc như thế nào sẽ viết như thế ấy. Trong giờ chính tả, học
sinh sẽ xác định được cách viết đúng bằng việc tiếp nhận chính xác âm thanh của
lời nói. Cơ chế của cách viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa âm thanh và
chữ viết. Giữa đọc và viết, giữa tập đọc và viết chính tả có mối quan hệ mật thiết
với nhau, tập đọc là sự chuyển hoá văn bản dưới dạng âm thanh thành văn bản
viết. Vì thế, khi giao tiếp bằng ngôn ngữ, người đọc mới hiểu đúng hoàn toàn nội
dung, ý nghĩa mà người viết gửi gắm, việc viết đúng thống nhất như thế còn gọi
bằng thuật ngữ quen thuộc là chính tả. Bởi theo nghĩa gốc thì “chính tả” tức là
“phép viết đúng” hay “lối viết hợp với chuẩn”.
Qua các bài viết chính tả rèn luyện cho học sinh “tính kỉ luật, tính cẩn thận và
óc thẩm mĩ”. Đồng thời bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt, chữ
viết, cách biểu thị tình cảm được thể hiện trong việc viết đúng chính tả. Xuất phát
từ tính chất và tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả như thế nên phân môn
chính tả đã được đưa vào chương trình giảng dạy của trường phổ thông. Cụ thể ở

Thành công:
Tìm ra được cách hướng dẫn giúp các em viết đúng, viết đẹp, chữ viết có
nhiều sáng tạo. Giáo viên không ngại khó, ngại khổ hướng dẫn học sinh, còn học
sinh tích cực rèn luyện, thường xuyên trau dồi chữ viết của mình. Học sinh không
xem nhẹ về chữ viết mà ngày một chú trọng hơn và luôn biết giữ gìn vở sạnh chữ
đẹp để có thể tham gia phong trào thi “Vở sạch – chữ đẹp của trường tổ chức”.
Giáo viên có thêm một số kinh nghiệm trong dạy chữ viết cho học sinh.
Hạn chế:
Một số giáo viên còn chưa tự giác rèn chữ viết mẫu của mình, chưa nắm bắt
kịp thời mẫu chữ mới. Gia đình học sinh không quan tâm nhiều đến chữ viết của
con mình mà chỉ giao nhiệm vụ cho giáo viên mà không kèm viết ở nhà. Hiện nay
đang đẩy mạnh công nghệ thông tin nên hầu hết các loại hồ sơ đều được vi tính
hóa nên cũng có phần tác động đến chữ viết của giáo viên. Một số giáo viên chưa
mạnh dạn đề xuất với nhà trường quan tâm đến việc bồi dưỡng chữ viết, biểu
dương khen ngợi kịp thời những học sinh đạt thành tích về chữ viết.
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu
Mặt mạnh
Đa số giáo viên đều có ý thức rèn chữ viết của bản thân và cho cả học sinh,
luôn tự tin về chữ viết của mình. Phong trào Vở sạch – chữ đẹp luôn được Ban
giám hiệu, giáo viên quan tâm. Học sinh nắm được cách viết, biết cách trình bày
theo từng kiểu bài, biết cách viết chữ hoa sáng tạo. Viết kịp tốc độ theo chuẩn kiến
thức kĩ năng của từng lớp học.
Mặt yếu
Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

5


ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4
Một số giáo viên chữ viết chưa được đẹp, chưa có kinh nghiệm và biện pháp

- Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận (như thiếu dấu phụ, dấu thanh).
- Lỗi về các vần khó (uya, uyu, uênh, oang, oeo, ươu, uyên, uyêt, uêch, ...)
- Lỗi do phát âm sai (at/ac, et/ec, an/ang, iu/iêu, iêc/iêt, ươc/ươt, ...)
- Lỗi do không hiểu nghĩa của từ ( để dành/ tranh giành, dở dang/ giang
sơn,...).
- Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả ( g chỉ ghép được với a, ă, â, o, ô,
ơ, u, ư, và gh chỉ ghép được với e, ê, i).
Qua thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh lớp tôi thường mắc các lỗi sau:
Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

6


ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4
Về thanh điệu: Học sinh chưa phân biệt được thanh hỏi, thanh ngã.
Ví dụ:
nghỉ hè viết thành nghĩ hè; sửa lỗi viết thành sữa lỗi; lịch sử viết
thành lịch sữ; ..
Về âm đầu: học sinh thường viết lẫn các chữ ghi âm đầu sau:
Ví dụ: giữ gìn viết thành dữ gìn; xẻ gỗ viết thành sẻ gỗ; trân trọng viết
thành chân trọng;...
Về âm cuối: học sinh thường viết lẫn các chữ ghi âm cuối trong các vần sau:
Ví dụ: ac/at: gật đầu viết thành gậc đầu;...
in/ inh: inh ỏi viết thành in ỏi;...
iêc/iêt:thiết tha viết thành thiếc tha;...
ươc/ươt: trượt ngã viết thành trược ngã;...
n/ng: bản làng viết thành bản làn;...
Về viết hoa: Đây là lỗi phổ biến và trầm trọng nhất trong các bài viết của các
em, lỗi này của các em thường gặp ở hai dạng sau:
-Lỗi viết hoa đầu câu, danh từ riêng và tên địa danh.

đến việc học sinh viết sai lỗi chính tả. Theo tôi, học sinh viết sai lỗi chính tả nhiều
là do 5 nguyên nhân chính sau đây:
Học sinh chưa có ý thức viết đúng chính tả. Cụ thể là những tiếng, từ có sẵn
trong tài liệu hướng dẫn hoặc giáo viên đã ghi trên bảng và những từ thường
xuyên sử dụng nhưng vẫn viết sai. Có những giáo viên đã sửa nhiều lần nhưng
nhiều em vẫn viết sai. Một số học sinh đọc còn sai. Vì thế các em không nhớ chữ
ghi âm, tiếng và từ, dẫn đến việc thông hiểu nội dung còn hạn chế. Các em không
nhớ các qui tắc chính tả đã học nên viết tùy tiện, nghĩ sao viết vậy, có em còn sáng
tạo thêm các vần mới lạ như: unh, ing, âch,…Ngoài ra có em không nắm nghĩa
của từ, vốn từ ngữ tích lũy được còn rất hạn chế nên hay viết lẫn lộn các âm đầu,
âm cuối, vần và thanh.
Hiện nay, với sự phát triển nhanh về kinh tế, văn hóa và xã hội; việc nghe,
nói, đọc xem của học sinh thì rất nhiều nhưng viết thì ngày càng giảm. Học sinh
chịu sự tác động của kênh hình trong học tập nhiều hơn kênh chữ và việc lạm
dụng các vở bài tập, các câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm tra, trong thi cử làm cho
học sinh rất ít có cơ hội được viết, được rèn chính tả. Căn cứ vào các nguyên nhân
trên, tôi đề ra các biện pháp thực hiện sau đây:
a. Biện pháp 1: Phát huy tính có ý thức trong dạy chính tả
Trong tuần đầu nhận lớp, ngoài việc củng cố nề nếp lớp học, sinh hoạt nội
qui của trường, của lớp; tôi cho các em chép chính tả bài “ Quyết định độc đáo”
Quyết định độc đáo
Cách đây không lâu, lãnh đạo hội đồng thành phố Nót - tinh ghêm ở nước
Anh đã quyết định phạt tiền các công chức nói hoặc viết tiếng Anh không đúng
chuẩn. Theo quyết định này, mỗi lần mắc lỗi, công chức bị phạt 1 bảng. Ông Chủ
tịch hội đồng thành phố tuyên bố sẽ không kí bất cứ văn bản nào có lỗi ngữ pháp
và chính tả. Đây là một biện pháp mạnh nhằm giữ gìn sự trong sáng của tiếng
Anh.
Theo báo Công an nhân dân
Sau khi học sinh viết xong, tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung đoạn
văn bằng các câu hỏi sau đây:

- Gọi các em đọc bài nhiều lần những chữ hay đọc sai, kiên trì sửa lỗi cho
từng em.
- Tổ chức cho các em đọc bài nhóm đôi .
- Phân công học sinh đọc tốt, phát âm đúng đọc cùng các em này.
- Giao bài cho các em luyện đọc và viết bài ở nhà; ngày sau kiểm tra và nhận
xét.
- Khuyến khích các em học thuộc lòng một đoạn văn hay một vài khổ thơ, rồi
nhớ - viết đoạn văn hay khổ thơ đã thuộc.
c. Biện pháp 3: Dạy chính tả theo khu vực
Cách phát âm theo phương ngữ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc viết đúng
chính tả của học sinh Tiểu học. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh
viết sai lỗi chính tả nhiều. Nhưng chúng ta không thể bắt buộc, không thể luyện
cho các em đọc đúng chính âm được. Chúng ta chỉ có thể khắc phục lỗi chính tả
cho học sinh ở mỗi vùng miền khác nhau bằng cách Dạy chính tả theo khu vực.
Nghĩa là, chúng ta phải xác định được “trọng điểm chính tả” cần dạy cho học sinh,
nội dung về giảng dạy chính tả phải phù hợp với tình hình thực tế mắc lỗi chính tả
của học sinh ở địa phương đó. Hiện nay, Tài liệu hướng dẫn Tiếng Việt đã có
những bài tập chính tả cho giáo viên lựa chọn hoặc giáo viên có thể tự soạn nội
dung bài tập sao cho phù hợp với học sinh thuộc vùng miền mình đang dạy. Đó là
điều kiện thuận lợi cho giáo viên, nhưng cũng là những khó khăn đòi hỏi sự sáng
tạo, sự đầu tư nhiều cho bài dạy ở mỗi giáo viên. Để dạy chính tả theo khu vực, tôi
tiến hành như sau:
Điều tra, phát hiện và tổng hợp những lỗi chính tả cơ bản của học sinh.
Lỗi mà đa số học sinh lớp tôi mắc phải chủ yếu là lỗi do ảnh hưởng của cách phát
âm theo phương ngữ. Cụ thể:
Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

9



Viết sai

- vẻ vang, gia đình
- gọn gàng, cá rô
- hoa sen, màu xanh
- cây tre, trân trọng

- dẻ dang, da đình
- rọn ràng, cá gô
- hoa xen, màu sanh
- cây che, chân chọng

- dịu dàng, kì diệu
- niềm tin, trắng tinh
- quả chín, đàn kiến
- mặt mũi, cuối cùng
- đều đặn, kêu gọi,…

- diệu dàng, kì dịu
- niềm tinh, trắng tin
- quả chính, đàn kín
- mặt muỗi, cúi cùng
- điều đặn, kiêu gọi

- buôn làng, mong muốn -buông làng, mong muống
- đôi mắt, ăn mặc
- đôi mắc, ăn mặt
- vĩ đại/ vỉ thuốc, mãnh - vỉ đại, vĩ thuốc, mảnh liệt,
liệt/ mảnh vải, nỗi buồn/ mãnh vải, nổi buồn, nỗi trôi,
nổi trôi, cái mũi/ mủi


5

6

chính tả
Việt
Nam
thân yêu
Lương
Ngọc
Quyến
Thư gửi
các học
sinh
Anh bộ
đội Cụ
Hồ gốc
Bỉ
Một
chuyên
gia máy
xúc
Ê- mi- li,
con…

số lỗi
…..

…………………….


……………………….
………………………
……………………….

……………………….
……………………….
………………………..

………………………..
……………………….

………………………..
……………………

……

Dòng
……………………….. ………………………..
7
kinh quê ……. ……………………….
………………………
hương
Kì diệu
……………………….. ………………………..
8
rừng
……. ……………………….
……………………….
xanh

- Hiểu nghĩa của từ, phân biệt từ này với từ khác để các em ghi nhớ cách viết
của mỗi từ.
Ví dụ: Nếu tôi đọc một từ có hình thức ngữ âm là “ dành” thì học sinh sẽ
lúng túng trong việc xác định hình thức chữ viết của từ này. Nhưng nếu tôi đặt nó
vào một ngữ cảnh hay gắn cho nó một nghĩa xác định như: Em để dành tiền mua
sách truyện Thiếu nhi./ Trong trận đấu bóng đá ngày mai, các em phải giành lấy
chiến thắng./ Các em đọc rõ ràng, rành mạch để cả lớp cùng nghe. Như vậy học
sinh sẽ dễ dàng viết đúng chính tả.
Khi đọc chính tả cho học sinh viết, tôi đọc từng cụm từ (diễn đạt một ý nhỏ);
tôi luôn nhắc nhở các em chú ý lắng nghe, hiểu nghĩa từ để viết đúng chính tả
Khi học sinh sửa lỗi trong bài chính tả, tôi yêu cầu các em ghi từ chứa tiếng
sai rồi sửa lại cho đúng; không nên chỉ ghi một tiếng sai rồi sửa lại, sửa như vậy
các em sẽ không ghi nhớ các từ đã viết sai.
Trong các tiết đọc hiểu, tôi tập cho các em tìm cách ngắt giọng ở những câu
dài, ngắt nghỉ đúng các dấu câu, giải nghĩa các từ khó.
Khi học sinh làm bài tập chính tả, tôi chọn các bài theo phương ngữ Nam
Bộ, tập trung vào các “trọng điểm chính tả” để khắc phục các lỗi chính tả do cách
phát âm của địa phương. Ngoài việc hướng dẫn các học sinh làm các bài tập trong
tài liệu hướng dẫn học, tôi còn thay đổi hình thức và nội dung bài tập bằng cách
vận dụng nguyên tắc phối hợp giữa phương pháp tích cực với phương pháp tiêu
cực. Nghĩa là tôi hướng dẫn học sinh làm các bài tập chính tả theo hướng loại bỏ
cái sai, xác định cái đúng. Theo cách này, tôi đã điều chỉnh và thay đổi nội dung
và hình thức một số bài tập trong tài liệu hướng dẫn học nhưng vẫn bám sát yêu
cầu cần đạt của bài học.
Ví dụ: Bài tập chính tả tuần 16 ( Tài liệu trang 115 ) yêu cầu tìm các từ ngữ
chứa các tiếng vàng- dàng; vào-dào, vỗ- dỗ. Thay vì cho các em tìm từ chứa các
tiếng đã cho, tôi cho sẵn các từ và yêu cầu các em tìm các từ viết sai chính tả, rồi
sửa lại cho đúng.
Chẳng hạn : Tìm các từ viết sai chính tả trong bảng dưới đây:


e. Biện pháp 5: Ôn tập giúp học sinh nắm vững các qui tắc chính tả, cung
cấp cho học sinh một số mẹo luật chính tả đơn giản, dễ nhớ.
Ở những lớp dưới, các em đã được cung cấp một số qui tắc chính tả. Lên lớp
4, các em vẫn thường xuyên được ôn lại. Nhưng không phải em nào cũng nhớ và
vận dụng để viết đúng chính tả. Việc ghi nhớ và vận đúng các qui tắc chính tả
không phải là điều dễ dàng. Nếu cứ nói, cứ giảng mãi thì rồi các em cũng vẫn cứ
quên. Để giúp các em nắm vững các qui tắc chính tả đã học một cách khái quát có
hệ thống, tôi đã chọn lọc, tổng hợp các qui tắc và một số “mẹo” chính tả ở mức độ
đơn giản để các em dễ nhớ, dễ thuộc, thậm chí khi nào quên các em có thể giở ra
xem để viết đúng chính tả. Qui tắc và mẹo luật chính tả này chỉ nằm trong 2 mặt
của một tờ giấy A4 nên học sinh rất dễ học, dễ nhớ và nhanh thuộc.
* Một số quy tắc chính tả

Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

13


ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4
TT Các quy tắc chính
Cách viết
tả
Quy tắc viết phụ
âm đầu
-Quy tắc viết k/ c/ – Viết q trước các vần có âm đệm
1 q
ghi bằng chữ cái u.
– Viết k trước các nguyên âm e, ê,
i (iê, ia)
– Viết c trước các nguyên âm

lương y, y dược,…
-loá mắt, khoẻ khoắn, ...

Quy tắc đánh dấu – Dấu thanh thường đặt ở trên
thanh
hoặc dưới âm chính.
3
- Tiếng có âm cuối thì đặt dấu
- mượn, trườn, cuồn
thanh ở chữ cái thứ hai của
cuộn, chuối, muỗi …
nguyên âm đôi.
- Tiếng không có âm cuối thì đặt
- múa, mía, lửa, của,
dấu thanh ở chữ cái đầu của
đĩa, chĩa, …
nguyên âm đôi.
Quy tắc viết tên
riêng Việt Nam
- Tên người và
-Viết hoa tất cả các chữ cái đầu
- Võ Thị Sáu, Trần
tên địa danh Việt của mỗi tiếng tạo thành tên riêng
Quốc Toản, Nông Văn
4 nam
đó.
Dền,…
- Tên các cơ
- Viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ - Trường Tiểu học Tân
quan, tổ chức,

ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4

* Một số mẹo chính tả dễ nhớ
+ Mẹo tương ứng thanh điệu trong từ láy
- Trong các từ láy đôi, các dấu thanh bao giờ cũng cùng một nhóm huyềnngã- nặng hoặc không- sắc- hỏi. Học sinh dễ dàng nhớ mẹo này qua câu lục bát
sau:
Chị Huyền mang nặng, ngã đau
Anh không sắc thuốc hỏi đâu mà lành”.
+ Mẹo “ Mình nên nhớ viết dấu ngã”
Với câu thơ trên tôi phân ra cụ thể như sau:
- với m (mình) : mẫn cảm, mãnh liệt, mạnh mẽ, mĩ thuật, mĩ mãn, mĩ lệ, con
muỗi,…
- Với n (nên) : nỗ lực, phụ nữ, noãn bào, nỗi niềm,…
- Với nh (nhớ) : nhẫn nại, nhiễm bệnh, truyền nhiễm, tham nhũng, thổ
nhưỡng,..
- Với v (viết) : vĩ đại, vĩ nhân, vĩ tuyến, viễn thị, viễn cảnh, vỗ tay, cổ vũ, vũ
trụ,…
- Với d (dấu) : dưỡng sinh, nuôi dưỡng, dũng cảm, dã thú, dã man, diễm
phúc,…
- Với ng (ngã) : té ngã, ngỡ ngàng, ngưỡng mộ, ngôn ngữ, ngữ nghĩa, đội
ngũ,…
+ Mẹo nhóm nghĩa tr- ch
- Những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình thì viết là ch chứ không
viết là tr: cha, chú, chị, cháu, chắt, chồng,…
- Những từ chỉ đồ vật trong gia đình thì viết là ch chứ không viết là tr: chai,
chum, chạn, chén, chổi, chão, chõng, chiếu,..( ngoại trừ cái tráp, đồ vật này giờ ít
dùng).
+ Mẹo nhóm nghĩa s- x
- Tên thức ăn và đồ dùng nấu ăn viết là x: xôi, xa lát, xúc xích, xì dầu, …
- Các động từ, tính từ thường viết là x: xem, xách, xẻ, xay, xát, xào, xoa, xúc,

lỗi chính tả đã giảm đi đáng kể. Nhưng chỉ nắm các qui tắc và các“ mẹo” chính tả
thì vẫn chưa khắc phục được triệt để các lỗi chính tả. Vì vậy, khi dạy chính tả , tôi
phải phối hợp vận dụng cả qui tắc “ Kết hợp chính tả có ý thức với chính tả không
ý thức”. Phương pháp có ý thức vẫn được coi là chủ yếu như ghi nhớ các qui tắc,
các mẹo chính tả,…Nhưng trong một số trường hợp ghi nhớ các hiện tượng chính
tả có tính chất dự đoán, không gắn với một qui luật, qui tắc nào thì tôi dạy các em
cách “ nhớ từng chữ một”, đây cũng là giải pháp hữu hiệu, hợp lí. Bởi vì, phần lớn
những người viết đúng chính tả hiện nay đều dựa vào cách nhớ từng từ một.Theo
cách này, tôi hướng dẫn học sinh chỉ cần tập trung nhớ mặt chữ của những từ dễ
viết sai. Những từ dễ viết sai này chiếm tỉ lệ không nhiều, do đó học sinh có thể
ghi nhớ được.
Chẳng hạn như: rượu, hươu, khướu, ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, xoong, quần
xoóc, xe goòng, …hoặc từ những chỉ viết ngã chứ không viết hỏi, từ để chỉ viết
hỏi chứ không viết ngã, từ kể chỉ viết hỏi chứ không viết ngã, …
g.Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi theo nhóm
Song song với việc ôn tập giúp học sinh nắm vững các qui tắc và mẹo chính
tả, việc hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi trong bài viết cũng rất quan
trọng. Đây là một thói quen mà giáo viên cần phải rèn cho học sinh, không chỉ ở
chính tả mà ở tất cả các môn học khác. Bản thân tôi đã chấm và phân loại những
học sinh thường mắc cùng một loại lỗi chính tả thành một nhóm riêng.
Ví dụ: Đặt tên nhóm theo lỗi thường mắc phải như : Nhóm âm đầu, nhóm vần,
nhóm viết hoa, nhóm thanh hỏi và thanh ngã ...
- Số em ở mỗi nhóm tuỳ tình hình thực tế của lớp .
Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

16


ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4
- Nhóm trưởng của mỗi nhóm đó là do một em không hoặc rất ít mắc lỗi đó.

các dòng chữ như : “Chữ viết của em đều, đẹp có sáng tạo, cô khen” hoặc “Bài
viết của em thật xuất sắc, cô rất tự hào về chữ viết của em…. và biểu dương các
em trước lớp.
Đối với những học sinh viết sai chính tả nhiều, tôi luôn dành thời gian hướng
dẫn các em sữa lỗi ngay tại lớp. Cứ nửa học kì, tôi chọn ra 5 em có tiến bộ nhất để
khen thưởng. Phần thưởng chỉ là hai cuốn vở có chữ kí của tôi và được tôi bao
bìa, dán nhãn cẩn thận hoặc một cây viết (loại có thể thay ngòi), hoặc một cây bút
chì, cục tẩy,…Phần thưởng tuy nhỏ nhưng các em rất vui, rất hãnh diện.
Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

17


ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4

3.3.Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Nghiên cứu kĩ từng dạng bài, kiểu lỗi để chuẩn bị hệ thống bài tập giúp học
sinh viết tốt chính tả.
Ngay từ các tiết học đầu tiên, giáo viên hướng dẫn và thống nhất với học sinh
các bước thực hiện khi viết một đoạn, bài chính tả.
Khi viết, giọng đọc của giáo viên cần phải rõ ràng, chính xác, không đọc quá
nhanh; khi đọc những chữ học sinh thường viết sai phải đọc chậm và nhắc nhở các
em chú ý; khích lệ, khuyến khích những học sinh viết đẹp, viết được chữ hoa sáng
tạo để giúp các em có hứng thú hơn trong giờ viết chính tả.
3.4.Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Biện pháp 1 là tiền đề để thực hiện các biệp pháp 2, 3, 4, 5, 6. Tuy nhiên
trong các biện pháp trên thì biện pháp 2, 3 và 5 là biện pháp quan trọng nhất vì nó
xác định được chữ viết phải thế nào thì mới đúng, mới đẹp, mới hiệu quả nhất, đạt
được mục tiêu bài học.
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu

32%

20
em

80%

4 em 16%

Học kì 1 năm học 2015-2016
(28 học sinh)
Trước khi
Sau khi thực
thực hiện
hiện
13
em

46.5% 21
em

75%

9 em

32.1% 5 em

17.9 %

Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai được nâng lên qua từng năm sẽ là cơ sở
khoa học để các giáo viên trong và ngoài nhà trường có thể tham khảo, nghiên cứu
và phát triển đề tài ở mức cao hơn.
III. Phần kết luận, kiến nghị
1.Kết luận:
Để đạt hiệu quả cao trong công tác rèn chữ viết cho học sinh, người giáo viên
tiểu học cần phải:
- Xác định luyện viết đúng, đẹp cho học sinh là một trong những vấn đề quan
trọng và thiết thực để nâng cao hiệu quả học tập.
- Viết chữ đẹp, đúng mẫu và luôn viết đúng chính tả. Phải theo dõi, khảo sát
thường xuyên để nắm đối tượng học sinh qua đó có biện pháp phù hợp.
- Xác định và tập trung vào “trọng điểm chính tả” cần dạy, biết vận dụng
những kiến thức về ngữ âm học Tiếng Việt vào việc phân loại lỗi chính tả, phát
hiện đặc điểm của từng loại lỗi, nhất là việc xây dựng các qui tắc chính tả các “
mẹo” chính tả, giúp học sinh ghi nhớ cách viết một cách khái quát, có hệ thống .
-Tạo bầu không khí thân thiện, thái độ cởi mở, tư thế sẵn sàng hợp tác và
giúp đỡ các em trong quá trình luyện viết.
- Giúp học sinh thống kê những lỗi mà các em hay sai vào sổ tay Tiếng việt.
Thường xuyên chấm chữa ghi nhận xét thật cụ thể, rõ ràng; Tận tình dạy bảo, ân
cần hướng dẫn và giúp đỡ những học sinh yếu; thường xuyên kiểm tra vở, nhắc
nhở các em cách trình bày, cách sửa lỗi trong vở ; động viên, tuyên dương và khen
thưởng những học sinh có nhiều tiến bộ.
- Bên cạnh đó, ngay từ các lớp dưới, các em cũng cần được rèn viết với
những con chữ đúng mẫu và đẹp.
Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

19


ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4

………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Lương Thị Thanh Hương – Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai

20


ĐỀ TÀI: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………

IV. Tài liệu nghiên cứu.
TT
1
2
3
4
5
6
7

Tài liệu

Tác giả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status