nghiên cứu, biên soạn tài liệu về phương pháp, kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học thpt bac giang - Pdf 25

1

Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Xưa nay, thi đỗ tốt nghiệp và đại học, đạt giải cao trong thi học sinh giỏi
các cấp luôn là niềm mong ước lớn, là mục đích phấn đấu của học sinh lớp 12. Việc
học tập, thi cử của các em đã trở thành mối quan tâm của các gia đình và toàn xã
hội. Nhưng làm thế nào để đỗ đạt theo nguyện vọng, làm thế nào để nâng cao chất
lượng giáo dục? Đó luôn là nỗi băn khoăn, trăn trở không chỉ của học sinh mà còn
của các thày cô giáo, của các nhà trường, của toàn ngành giáo dục. Muốn đạt được
mục tiêu trên, cần phát huy sức mạnh của nhiều yếu tố, song điều căn cốt nhất là học
sinh cần nắm vững kiến thức và kĩ năng của từng môn học.
2. Ngữ văn là một môn học quan trọng, có mặt trong các kì thi tốt nghiệp
THPT và thi đại học, cao đẳng của các khối C, D, thi học sinh giỏi các cấp. Tuy
nhiên, theo xu thế của thời đại hội nhập, theo nhu cầu, thị hiếu của con người thời
đại, môn học này chưa thực sự được coi trọng và yêu thích. Do đó thực trạng dạy
văn, học văn hiện nay còn tồn tại khá nhiều bất cập; kết quả thi tốt nghiệp, đại học
môn văn chưa được nâng cao, một số học sinh có tâm lí thờ ơ, thậm chí coi thường
môn học. Nguyên nhân của tình trạng trên thì có nhiều, song cần nói đến một lí do
căn bản là học sinh chưa được trang bị đầy đủ về phương pháp học văn, kĩ năng làm
văn. Thực tế cho thấy: lượng kiến thức cần học và ôn luyện về môn văn khá nặng,
trong khi đó thời lượng trên lớp dành cho môn học lại ít ỏi, nên các em chủ yếu
được trang bị về kiến thức chứ chưa được chú ý rèn luyện về kĩ năng. Vì vậy, học
sinh thường chỉ biết học vẹt và tỏ ra lúng túng, bị động trong làm văn.
3. Theo hướng dẫn của Bộ giáo dục đào tạo, cấu trúc đề thi tốt nghiệp, đại
học, thi học sinh giỏi gồm từ 2 đến 3 câu với những yêu cầu khác nhau: tái hiện kiến
thức cơ bản, viết bài nghị luận xã hội và viết bài nghị luận văn học. Ba câu hỏi này
thuộc về hai kiểu bài cơ bản: nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Tuy nhiên, các
kiểu, dạng bài của nghị luận xã hội và nghị luận văn học lại hết sức phong phú, đa
dạng; vì thế yêu cầu học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phải biết vận

môn: văn học, tiếng Việt, làm văn. Các bài học về phương pháp, kĩ năng làm bài
nghị luận văn học được đưa vào các cuốn sách Làm văn 10, Làm văn 11, Làm văn
12 gồm các bài sau:
- Nghị luận văn học
- Phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự
- Phân tích tâm trạng trong thơ trữ tình
- Bình giảng văn học
- Phân tích văn học
- Bình luận văn học…
Tuy nhiên, những bài học này mới chỉ cung cấp cho học sinh kĩ năng chung
nhất về các kiểu bài nghị luận văn học.
b. Trong sách giáo khoa Ngữ văn mới, có sự đổi mới quan niệm về các kiểu bài
nghị luận và cấu trúc các bài học làm văn. Văn nghị luận gồm hai dạng: nghị luận xã
hội và nghị luận văn học. Phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận…không được coi
là các kiểu bài như trước kia mà chỉ được xem là những thao tác lập luận. Chương trình
ngữ văn THPT, về phần làm văn nghị luận gồm các bài sau:
- Nghị luận xã hội và nghị luận văn học
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống
- Nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
- Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
3

- Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
- Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học…
Các bài học này đã chú ý đến việc rèn phương pháp, kĩ năng làm bài nghị
luận xã hội và nghị luận văn học cho học sinh. Tuy nhiên mục đích của SGK là rèn
kĩ năng qua các đề luyện tập nên chủ yếu là giới thiệu các đề và gợi ý tìm hiểu đề,
lập dàn ý, viết đoạn văn cho các đề cụ thể, chưa có những khái quát đầy đủ về
phương pháp, kĩ năng làm bài; thời lượng dành cho mỗi bài học này lại ít (thường là

Nghiên cứu, xem xét kĩ lưỡng các tài liệu tham khảo trên, chúng tôi nhận thấy:
- Về ưu điểm:
+ Hệ thống hóa, củng cố cho học sinh những kiến thức cơ bản của chương
trình ngữ văn 11,12. Ngoài ra, một số tài liệu còn bổ sung thêm kiến thức nâng cao
về tác giả, tác phẩm.
4

+ Cung cấp cho học sinh hệ thống các đề luyện tập, các gợi ý làm bài, các bài
văn mẫu
+ Kết cấu, bố cục của các cuốn sách đảm bảo tính khoa học, mạch lạc, khúc
chiết; văn phong chặt chẽ, sáng rõ; đáp ứng được những yêu cầu của văn bản khoa học.
Nhìn chung, đây là những tài liệu bổ ích, giúp học sinh thuận lợi hơn trong
việc học tập và thi cử. Đó cũng là tài liệu quí cho các thầy cô giáo.
- Về nhược điểm:
+ Ở một vài tài liệu, vẫn còn đôi chỗ chưa thật chuẩn xác về kiến thức và kĩ năng.
+ Nặng về cung cấp kiến thức, cung cấp những bài văn mẫu dễ khiến cho học
sinh tiếp nhận một cách thụ động, thiếu sáng tạo và có tư tưởng ỷ lại, lệ thuộc vào
tài liệu, vào các bài văn mẫu.
+ Chưa quan tâm đích đáng đến việc rèn phương pháp, kĩ năng làm bài nghị
luận xã hội và nghị luận văn học cho học sinh.
Tất nhiên, ở một số cuốn sách này ít nhiều đã có phần hướng dẫn phương
pháp, kĩ năng làm bài nghị luận nhưng chủ yếu vẫn là những hướng dẫn chung
chung, chưa đi kĩ vào các dạng bài cụ thể. Thực ra, đã từ lâu các nhà nhà nghiên
cứu, nhà sư phạm đã rất quan tâm đến phương pháp, kĩ năng. Sách viết riêng và đi
sâu về phương pháp dạy học văn đã có những cuốn rất có giá trị của các GS-TS uy
tín như: Muốn viết bài văn hay của GS Nguyễn Đăng Mạnh, Phương pháp dạy học
văn của GS Phan Trọng Luận và gần đây nhất là cuốn Phương pháp nghiên cứu
và phân tích tác phẩm văn học của GS-TS Trần Đăng Suyền (mới xuất bản tháng 5
năm 2012). Tuy nhiên các cuốn sách này chưa có những hướng dẫn về phương
pháp, kĩ năng riêng cho từng kiểu bài, dạng bài nghị luận cụ thể; chưa triển khai

- Phương pháp khảo sát, thống kê phân loại
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp phân tích, chứng minh…
- Phương pháp so sánh, đối chiếu…
VI. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
* Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung chính của đề tài được chia thành hai chương:
- Chương 1: Phương pháp, kĩ năng làm bài nghị luận xã hội
- Chương 2: Phương pháp, kĩ năng làm bài nghị luận văn học
* Ở mỗi chương, chúng tôi triển khai theo cấu trúc như sau:
- Phần 1: hướng dẫn cụ thể phương pháp, kĩ năng làm từng kiểu, dạng bài
nghị luận. Phần này chúng tôi viết không chỉ căn cứ vào những tài liệu đã có mà chủ
yếu dựa trên những kinh nghiệm được đúc kết qua nhiều năm giảng dạy và ôn luyện
môn văn.
- Phần 2: đề xuất các đề luyện tập, gợi ý cách làm bài, cung cấp những bài
mẫu (chủ yếu dưới hình thức dàn ý chi tiết) để minh họa cho phần lí thuyết ở trên.
Do dung lượng của đề tài, ở mỗi kiểu dạng bài, chúng tôi chỉ gợi ý một vài đề tiêu
biểu nhất, chủ yếu trên cơ sở đó mà rèn kĩ năng cho học sinh.
* Trong đề tài, để thuận lợi hơn cho các thầy cô giáo và các em học sinh
trong quá trình ôn luyện, chúng tôi cung cấp thêm hệ thống đề bài và những bài làm
mẫu (dưới dạng dàn ý chi tiết) ở phần phụ lục.

6


Vậy tại sao nghị luận xã hội lại được đề cao như vậy? Có lẽ bởi nghị luận xã
hội thể hiện được đúng nhất suy nghĩ của người viết. Và đó cũng là cách tốt nhất để
chống việc chép văn mẫu, chống việc dạy tủ và học tủ Hơn thế nữa, chúng ta
đang sống trong thời kì bùng nổ của công nghệ thông tin, đất nước cũng đang trong
quá trình phát triển và hội nhập, theo đó, con người luôn đứng trước những cơ hội
và thách thức, phải đối diện và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh. Do đó, nghị
luận xã hội có thể rèn năng lực tư duy, năng lực giải quyết các vấn đề xã hội và để
góp phần hoàn thiện nhân cách con người.
Không phải đến bậc THPT học sinh mới được học nghị luận xã hội mà ngay
từ THCS, các em đã được làm quen với kiểu bài này. Tuy nhiên, kiểu bài này được
7

đề cập trong SGK THPT ngoài mục đích củng cố, nó còn rèn năng lực nhận thức, tư
duy ở mức độ cao hơn cho học sinh
Trong SGK của cả hai cấp học, các tác giả soạn sách đã nêu ra rất nhiều đề
nghị luận xã hội. Số lượng đề trong các sách tham khảo cũng không phải là ít. Song
thực tế cho thấy không phải học gì thi đấy, các đề nghị luận trong các kì thi, kiểm
tra đều rất đa dạng, phong phú và hoàn toàn mới, ít khi có trong SGK, nhất là mấy
năm trở lại đây. Ví dụ: đề thi đại học khối D năm 2011: Đừng cố gắng trở
thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích. Hãy viết một bài văn ngắn
(khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên?; Đề thi đại học khối
D năm 2012: Hâm mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa nhưng mê muội thần
tượng lại là một thảm họa. Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy
nghĩ của anh/chị về ý kiến trên? Bên cạnh đó, đề nghị luận xã hội từ bậc THCS
đến THPT cũng được nâng lên theo mức độ khó dần, rồi đề thi học sinh giỏi cũng
được ra ở mức độ khó hơn so với đề thi tốt nghiệp và đại học. Do đó, học sinh
không thể nghĩ rằng chỉ cần học thuộc các đề trong sách là có thể làm được bài. Mà
quan trọng là người viết phải trang bị cho mình phương pháp, kĩ năng. Có như vậy
mới có thể tự tin khi gặp bất kì đề nghị luận xã hội nào.
Hiện nay trên thị trường, sách tham khảo về nghị luận xã hội cũng đã có khá

- Hỏi gián tiếp: là vấn đề cần nghị luận được nêu ra qua một câu tục ngữ, một
câu thơ hay một ý kiến, một nhận định, một tác phẩm Ví dụ: Tìm lời giải đáp cho
câu hỏi: Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn?; Suy nghĩ của anh/ chị về câu ngạn ngữ
sau: Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngào (ngạn ngữ
Hi Lạp);

Từ bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến, anh (chị) hãy viết bài văn bàn
về danh và thực trong cuộc sống hiện nay?

I.1.5. Yêu cầu: Để làm tốt nghị luận xã hội, học sinh cần đảm bảo một số
yêu cầu sau:
- Về kiến thức: Phải có hiểu biết về xã hội, cuộc sống và văn học; hiểu biết
về các luồng quan điểm, tư tưởng; đồng thời, nắm vững các chuẩn mực đạo đức xã
hội; có thái độ và nhận thức đúng đắn về vấn đề nghị luận, có lập trường vững vàng
và tỉnh táo trong việc bác bỏ những quan điểm sai và đề xuất những ý kiến đúng.
Ngoài ra, người viết cần chân thành, trung thực khi thể hiện cách ứng xử, đánh giá
của mình về vấn đề. Đặc biệt là người viết phải thể hiện được quan điểm, suy nghĩ
riêng, sự trải nghiệm của bản thân
- Về kĩ năng: Nắm vững các thao tác lập luận, biết sử dụng kết hợp các thao
tác lập luận: giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích, so sánh, bác bỏ…
+ Sử dụng thao tác giải thích để làm rõ ý nghĩa vấn đề, căn cứ của phát ngôn.
+ Sử dụng thao tác chứng minh để làm sáng tỏ, tạo sức thuyết phục cho vấn đề.
+ Sử dụng các thao tác: so sánh, bình luận, bác bỏ… nhằm khẳng định, phủ
định, mở rộng, nâng cao vấn đề, xem xét vấn đề một cách kỹ lưỡng.
Ngoài ra, cũng cần nắm vững các phương thức biểu đạt và biết vận dụng kết
hợp các phương thức biểu đạt: nghị luận với tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh,
kết hợp nhuần nhuyễn lý lẽ và cảm xúc trong bài văn nghị luận. Bài viết phải có bố
cục 3 phần, có hệ thống luận điểm đúng đắn, sáng tỏ, lời văn chính xác, sinh động.
- Về cách thức trình bày: Bài nghị luận xã hội thường được trình bày theo ba cách:
+ Theo hệ thống các luận điểm.

chính phụ, tăng tiến, đối lập…).
- Yêu cầu về thao tác lập luận: xác định các thao tác lập luận cần vận dụng.
Trong các thao tác lập luận đó thì thao tác nào là chính, thao tác nào là phụ.
- Yêu cầu về phạm vi tư liệu (phạm vi dẫn chứng): cần sử dụng những tư liệu,
dẫn chứng nào (trong văn chương, sử sách, trong đời sống xã hội). Khi chọn dẫn
chứng, người viết cũng cần chọn lựa những dẫn chứng tiêu biểu, chân thực, toàn diện
và các dẫn chứng phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lý. Có như vậy, dẫn chứng
mới thuyết phục. (Lưu ý khi viết bài, dẫn chứng phải được trình bày ngắn gọn, súc tích,
tránh kể lể dài dòng, lan man).
Ví dụ 1: Đề hỏi trực tiếp
Anh/ chị hãy viết một bài văn ngắn bàn về tự ti và tự tôn.
Khi phân tích đề trên, cần xác định được các yêu cầu sau:
- Về nội dung: vấn đề cần nghị luận là sự tự ti và tự tôn ở con người (thuộc
kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Về thao tác lập luận: với vấn đề trên, cần sử dụng kết hợp các thao tác giải
thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ…
- Về phạm vi dẫn chứng: trong thực tế, trong văn chương.
Ví dụ 2: Đề hỏi gián tiếp
10

Trang bị quý nhất của mỗi người là khiêm tốn và giản dị (Ph.Ăngghen)
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về câu nói trên?
- Về nội dung: vấn đề đưa ra bàn luận là một vấn đề tư tưởng: bàn về những
phẩm chất cần phải rèn luyện của con người: khiêm tốn và giản dị.
- Về thao tác lập luận: Sử dụng kết hợp các thao tác giải thích, phân tích,
chứng minh, bình luận, bác bỏ làm sáng tỏ vấn đề.
- Về phạm vi dẫn chứng: trong thực tế, trong văn chương.
I.2.1.2. Tìm ý, lập dàn ý
* Tìm ý
- Sau khi xác định được yêu cầu của đề, người viết cần tiến hành tìm ý (luận

11

Ví dụ: Lập dàn ý cho ví dụ 2 (ở trên)
Mở bài
- Dẫn dắt, nêu vấn đề.
- Trích dẫn câu nói
Thân bài
* Luận điểm 1: Giải thích câu nói
- Khiêm tốn là gì? Người khiêm tốn là người như thế nào?
+ Khiêm tốn là thái độ của con người.
+ Người khiêm tốn là những người: luôn có ý thức về sự thiếu hụt trong nhận
thức của bản thân về đời sống và kho tàng tri thức bao la của nhân loại, luôn có ý
thức học hỏi, tôn trọng người khác, không khoe khoang tự mãn, có thái độ khiêm
nhường trước mọi người, không nói nhiều về mình, trái lại luôn biết lắng nghe để tự hoàn
thiện mình, dè dặt, nhã nhặn khi nhận những lời khen; chân thành, từ tốn trước
những lời góp ý phê bình của người khác…
- Giản dị là thế nào, có những biểu hiện nào?
+ Giản dị là đơn giản và bình dị, giản dị đối lập với cầu kỳ. Người giản dị là
người không cầu kỳ, kiểu cách, không lấy sự phô trương hay nổi bật làm phương
châm sống, trái lại luôn hướng tới sự hài hoà giữa mình và mọi người xung quanh.
+ Giản dị có nhiều biểu hiện: giản dị trong tác phong, lối sống, giản dị trong
nói năng, giao tiếp, giản dị trong quan niệm sống, quan niệm hạnh phúc
* Luận điểm 2: Bàn luận:
- Đánh giá, nhận xét: câu nói hoàn toàn đúng.
- Phân tích, chứng minh: Vì sao đó là những trang bị quý nhất của con người?
+ Những người khiêm tốn bao giờ cũng dễ hoà đồng với những người xung
quanh, bởi tâm lý chung của con người là không thích thói hung hăng, kiêu ngạo, tự
phụ, chuộng những người ham học hỏi, từ tốn, điềm đạm.
+ Khiêm tốn rất cần thiết vì sự hiểu biết của mỗi người là hữu hạn trong khi
những bài học trong cuộc sống; kho tri thức của nhân loại là vô hạn (Học, học nữa,

tượng của nghị luận xã hội. Trong các tài liệu hiện hành, tư tưởng - đạo lí là một
cặp khái niệm đi kèm với nhau. Tuy nhiên, các tác giả soạn SGK (từ THCS - SGK
Ngữ văn lớp 9, tập 2 đến THPT - SGK Ngữ văn 12, tập 1), sách tham khảo hầu như
chưa quan tâm làm rõ hai khái niệm tư tưởng và đạo lí. Trong SGK Ngữ văn 9, bài
nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí có nêu khái niệm Nghị luận về một vấn đề
tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống…
của con người (phần ghi nhớ trang 36). SGK Ngữ văn 12 cơ bản thì chỉ bàn đến
cách viết kiểu bài này: hướng dẫn cách tìm hiểu đề và lập dàn ý. SGK Ngữ văn 12
nâng cao cũng tương tự: ở bài học nghị luận xã hội và nghị luận văn học, tác giả
soạn sách giới thiệu: Dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường nhân một
câu danh ngôn, một nhận định, đánh giá nào đó để yêu cầu người viết bàn luận và
thể hiện tư tưởng, quan điểm, thái độ của mình (trang 22) ; còn trong bài nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí cũng chỉ nêu ra 3 đề và yêu cầu tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn
ý. Như vậy SGK ở cả hai cấp học THCS và THPT đều chưa phân biệt rõ hai khái
niệm tư tưởng và đạo lí. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của học sinh
khiến các em dễ lúng túng trong việc hiểu khái niệm.
Trên cơ sở thống kê, đối chiếu, so sánh, phân loại, chúng tôi tạm thời chia tách tư
tưởng - đạo lý thành hai vấn đề, hai khái niệm để tiện cho việc nghiên cứu.
* Những vấn đề tư tưởng được đem ra bàn luận rất rộng, bao gồm: quan
niệm cách sống, quan niệm về cuộc sống, về con người; quan niệm về văn hóa, giáo
dục, về tình bạn, tình yêu, về hạnh phúc, về tiền bạc, về vai trò của gia đình trong
việc hình thành nhân cách con người; tầm quan trọng của việc làm; con đường lập
thân của thanh niên; những bài học về cách nhìn nhận con người, cuộc sống…
13

Trong số những vấn đề kể trên, chiếm số lượng nhiều nhất, giành được mối
quan tâm lớn nhất với các nhà tư tưởng là những quan niệm, những bài học, những
triết lý về cách sống: những câu hỏi về sống đẹp; những lời khuyên, những bài học:
sống là phải hành động, là phải đấu tranh; sống là phải cống hiến; sống là phải biết
lắng nghe, biết quan tâm chia sẻ; sống là phải có ý chí nghị lực, phải quyết đoán,

viết bài. Quan trọng là người viết phải hiểu biết về tư tưởng, đạo lý đó để có thể giải
thích và bàn luận một cách thấu đáo.
* Dàn ý cơ bản
Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần nghị luận.
Thân bài: Triển khai việc bàn luận về tư tưởng, đạo lí
14

Luận điểm 1: Giải thích khái niệm
Luận điểm 2: Bàn luận: (kết hợp phân tích, chứng minh, bình luận ) về vấn đề.
- Chỉ ra những biểu hiện của tư tưởng, đạo lí đó trong thực tế; có thể lý giải
nguyên nhân, nguồn gốc của nó.
- Phân tích, chứng minh mặt đúng - sai, lợi - hại, tốt - xấu của vấn đề.
- Mở rộng vấn đề
- Ý nghĩa của vấn đề (có thể rút ra ở phần kết luận)
Kết luận:
- Khẳng định lại vấn đề.
- Liên hệ bản thân.
* Ví dụ minh họa
Ví dụ 1: về một vấn đề tư tưởng
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về lòng dũng cảm?
Xác định yêu cầu của đề
- Yêu cầu về nội dung: Đối tượng nghị luận là một vấn đề thuộc về tư tưởng:
quan niệm về một đức tính tốt đẹp cần có ở con người: lòng dũng cảm.
- Yêu cầu về thao tác lập luận: Sử dụng thao tác giải thích, phân tích, chứng
minh kết hợp với bình luận để làm sáng tỏ vấn đề.
- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: trong đời sống, trong văn chương, sử sách.
Gợi ý lập dàn bài
Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu về lòng dũng cảm.
Thân bài:
- Giải thích khái niệm:

- Yêu cầu về nội dung: Đối tượng nghị luận là một vấn đề thuộc về đạo lý: tình
mẫu tử.
- Yêu cầu về thao tác lập luận: Kết hợp các thao tác: giải thích, phân tích, chứng
minh, bình luận để làm sáng tỏ vấn đề.
- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: trong văn chương, trong đời sống.
Gợi ý lập dàn bài
Mở bài
Dẫn dắt, nêu vấn đề.
Thân bài
- Giải thích: Thế nào là tình mẫu tử: đó là tình cảm ruột thịt, thiêng liêng
giữa mẹ - con. Nhưng chủ yếu được hiểu là tình mẹ dành cho con.
- Bàn luận về tình mẫu tử:
+ Vai trò của tình mẫu tử: Trong đời sống của mỗi con người, có nhiều thứ tình
cảm cao đẹp: tình cảm với quê hương đất nước, tình làng nghĩa xóm, tình bạn, tình yêu
Trong tình cảm gia đình có tình cảm với ông bà, tổ tiên, tình cha- con, anh - chị - em
nhưng tình mẫu tử vẫn có một vị trí đặc biệt, nó thiêng liêng mà gần gũi, ấm áp và máu
thịt nhất. Vì sao lại như vậy? Bởi:
. Đó là tình yêu thương, đùm bọc, che chở, là những hi sinh mà người mẹ
dành cho con Tình cảm ấy tự nhiên, giản dị, mà rất đỗi thiêng liêng, cao cả, chính
vì thế nó sẽ theo suốt cuộc đời của mỗi con người.
. Bởi mẹ là người gần gũi nhất, là người hi sinh nhiều nhất cho con. Mẹ nuôi
con, yêu con khi còn là giọt máu, chưa rõ hình hài; mẹ dìu dắt con từng bước trên
đường đời, đỡ con khi con vấp ngã, hạnh phúc khi con trưởng thành. Trái tim người
mẹ là ngôi nhà bình yên nhất, ấm áp nhất, là nơi trở về, bến đỗ an toàn nhất cho đứa
con trong bất cứ hoàn cảnh nào.
. Bởi đó là thứ tình cảm vị tha tuyệt đối không một chút tính toán vụ lợi (mọi
mối quan hệ đều theo quy luật: có đi - có lại), mẹ chỉ “cho” mà không hề đòi hỏi
“nhận”. Mẹ có thể cho con tất cả cuộc đời, cả sự sống của mình
16


vấn đề trong tác phẩm, sau đó mới bàn luận về vấn đề đó trong đời sống xã hội.
(Có thể đánh giá về sự thay đổi hay không thay đổi trong quan niệm của tác giả và
trong cái nhìn của đời sống thực tại về vấn đề được đặt ra trong tác phẩm, lý giải
nguyên nhân của sự thay đổi nếu có).
+ Với vấn đề đặt ra qua câu chuyện nhỏ (mini) thì sau khi đọc hiểu, tìm ra ý
nghĩa của văn bản và xác định được tư tưởng, đạo lý cần bàn, người viết tiến hành
bàn luận về vấn đề đó. Người viết có thể hiểu ý nghĩa của câu chuyện theo nhiều
cách khác nhau. Tuy nhiên, dù hiểu cách nào cũng cần có lí và có sức thuyết phục.
Mỗi câu chuyện có thể nêu lên nhiều ý nghĩa (bài học) nhưng thường có một nghĩa
chủ đạo (ý nghĩa chính). Đó là ý nghĩa chung mà ai đọc cũng cảm nhận và hiểu như
17

thế. Ngoài ra, theo lí thuyết tiếp nhận, mỗi người có thể có những cách hiểu riêng.
Tuy nhiên, khi làm bài, người viết cần nêu lên ý nghĩa chung đó.
Bước 3: Đánh giá ý nghĩa tư tưởng, đạo lí đã nghị luận đối với đời sống và
con người.
* Dàn ý cơ bản
Mở bài
- Dẫn dắt, nêu vấn đề.
- Trích dẫn ý kiến (nhận định, danh ngôn, tục ngữ ); hoặc giới thiệu tác giả,
tác phẩm có liên quan (đối với vấn đề đặt ra trong tác phẩm).
Thân bài: Triển khai việc bàn luận về vấn đề:
Luận điểm 1: Giải thích vấn đề (thuật ngữ, khái niệm, những hình ảnh ẩn dụ,
biểu tượng, nghĩa đen, nghĩa bóng ). Từ đó, rút ra vấn đề cần bàn luận; đối với
vấn đề tư tưởng, đạo lý đặt ra trong văn bản mới thì cần đọc hiểu và tìm ra ý nghĩa
của văn bản, sau đó xác định tư tưởng, đạo lý cần bàn.
Luận điểm 2: Bàn luận về vấn đề (bình luận, phân tích, chứng minh). Căn cứ
vào cách nêu vấn đề ở đề bài (qua một câu danh ngôn, một ý kiến, một câu tục ngữ,
một câu thơ hay một tác phẩm) mà người viết tiến hành các bước bàn luận cho phù
hợp như đã đề cập ở phần khái quát trên.

hợp im lặng đều là vàng ? Đó là một lời khuyên đúng nhưng không phải là một chân
lý mang tính tuyệt đối có thể áp dụng cho mọi trường hợp. Có những trường hợp im
lặng là vàng, nhưng cũng có những trường hợp con người không thể im lặng, trái lại
phải lên tiếng đấu tranh.
+ Phân tích, chứng minh:
Những trường hợp Im lặng là vàng:
. Đó là khi cần phải giữ bí mật về một vấn đề gì đó (có thể là bí mật quốc
gia, có thể là một lời hứa nghiêm túc với một người khác).
Ví dụ: Những chiến sĩ cách mạng bị địch giam cầm, tra tấn để lấy lời khai;
những điệp viên tình báo chẳng may bị phát hiện, chỉ điểm…
. Im lặng để đem lại hạnh phúc cho người khác (im lặng mang tính chất hi
sinh); im lặng vì mục đích nhân đạo (có thể là người mẹ giấu con những sự thật phũ
phàng nào đó về người cha; về bản thân mình, hay về đứa con để trái tim đứa con
không bị tổn thương; một người cưu mang một người khác một cách âm thầm lặng lẽ;
một bác sỹ không nói rõ sự thật về tình trạng bệnh hiểm nghèo cho bệnh nhân…).
. Im lặng vì chưa hiểu rõ về một vấn đề nào đó, cần tiếp tục lắng nghe, học
hỏi (Biết thì thưa thốt; không biết thì dựa cột mà nghe).
. Im lặng để giảm bớt những mâu thuẫn, xung đột trong đời sống hàng ngày
(Một điều nhịn bằng chín điều lành).
Và có thể còn có nhiều trường hợp khác cần phải im lặng…
Những trường hợp không thể im lặng, trái lại cần phải lên tiếng:
. Đó là khi chân lí, lẽ phải bị vùi dập… Trong trường hợp này, im lặng là nhu
nhược, đớn hèn.
. Trước nỗi oan ức của người khác biết mà không dám lên tiếng là thiếu lòng
dũng cảm, không có tinh thần đấu tranh.
.Trước sai phạm của người khác biết mà không lên tiếng là thiếu tinh thần
trách nhiệm.
. Trước những hành vi thiếu lương tâm của đồng loại (bà bảo mẫu đánh đập
các cháu nhỏ; con cái ngược đãi cha mẹ; chồng ngược đãi vợ…) mà không lên tiếng
bênh vực… là thiếu tình người… (có thể nêu những tấm gương về tinh thần đấu

Gợi ý lập dàn bài
Mở bài: dẫn dắt, giới thiệu vấn đề
Thân bài
- Giải thích
+ Thái quá là hành động, việc làm nào đó vượt quá mức độ, ngưỡng cho
phép. Tri ân nghĩa là biết ơn.
+ Nội dung của ý kiến: Biết ơn và trả ơn là việc làm không bao giờ đủ. Tri
ân là cái thái quá đẹp nhất, là thái độ ứng xử cao đẹp của người có văn hóa.
- Bàn luận
+ Đánh giá, nhận xét: câu nói hoàn toàn đúng.
+ Phân tích, chứng minh: Vì sao không có cái thái quá nào đẹp hơn cái thái
quá về sự tri ân? Vì sao con người cần biết sống tri ân?
. Đối với mỗi người: Tri ân là việc làm, là lối sống đẹp, thể hiện đạo lí làm
người, góp phần hoàn thiện nhân cách con người (tri ân với quá khứ, với gia đình,
thầy cô, với bạn bè, với quê hương, đất nước,…). Tri ân cũng là động lực giúp con
người sống tốt đẹp hơn, có ý nghĩa hơn.
20

. Đối với xã hội: Tri ân là nghĩa cử cao cả, phù hợp với đạo lý uống nước nhớ
nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Cách ứng xử nhân văn giữa con người với con
người sẽ tạo ra môi trường xã hội đầy nhân ái. Tri ân cũng là truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, có tác dụng giáo dục đạo đức, lối sống cho các thế hệ.
Vì sao sự thái quá trong tri ân lại là đẹp nhất?
. Trong cuộc sống có nhiều điều thái quá. Hầu hết mọi sự thái quá đều có thể gây
những ảnh hưởng không tốt với đời sống, dễ khiến con người sa vào những thói hư tật xấu.
. Trong khi đó, thái độ tri ân bao giờ cũng mang lại những điều tốt đẹp cho
mọi người. Biết đền đáp công ơn người khác là nguồn nuôi dưỡng lương tri, nhân
phẩm con người; giáo dục ý thức trách nhiệm với cộng đồng, đồng thời cảnh báo
con người trước bờ vực của lỗi lầm, tội ác.
+ Mở rộng, nâng cao vấn đề

ông tiến sĩ hiện lên chân thực với cờ, biển, cân đai; với xiêm áo, lọng xanh, ghế
chéo, vinh dự trong lễ xướng danh. Có thể nói, một ông tiến sĩ giấy được miêu tả
như ông tiến sĩ thật ngoài đời. Chỉ có điều, vì được làm bằng giấy nên nó nhẹ phèo
và rỗng tuếch.
+ Vịnh về Tiến sĩ giấy, nhà thơ đã mang đến cho người đọc những liên tưởng
thú vị. Ông tiến sĩ giấy trong bài thơ cũng chính là chân dung của những ông tiến sĩ
giả, không có thực tài ở ngoài đời. Nó phản ánh một thực tế trong xã hội bấy giờ khi
tước vị có thể mua bán bằng tiền bạc và những kẻ đại diện cho tri thức và trí tuệ của
xã hội lại là những kẻ leo lên bằng con đường không chính đáng. Qua đó, Nguyễn
Khuyến đã bày tỏ thái độ mỉa mai, khinh bỉ của mình về những ông tiến sĩ hữu danh
vô thực ấy.
- Bàn luận về danh và thực trong cuộc sống hôm nay.
+ Giải thích:
. Danh: là cái tên gọi, cái tiếng, cái được phong, là cái nhìn của người khác, của xã
hội về một người.
. Thực: là cái có thật, cái tồn tại, là thực lực bản chất của mỗi người.
+ Bình luận kết hợp với phân tích, chứng minh:
Khẳng định: danh và thực không chỉ là vấn đề đặt ra ở thời đại Nguyễn
Khuyến thế kỉ XIX mà nó còn là vấn đề của thời đại hôm nay.
. Trong đời sống, danh và thực thường thống nhất, phù hợp với nhau. Có
thực mới có danh và có danh ắt có thực. Đó là những người lập danh dựa vào tài
đức của chính mình. Có người lưu danh nhờ những công trình ích nước, lợi dân; có
người lưu danh qua con đường học tập: học thành tài, có dịp đem tài năng của mình
ra phụng sự đất nước rồi danh tiếng tự đến và lưu truyền từ đời này sang đời khác,
thành tên đất, tên làng. Vì vậy, chỉ cần có thực tài thì sẽ có danh.
. Thực tế, không ít trường hợp danh và thực lệch nhau, không tương xứng thống nhất:
Có danh mà không có thực. Khi chữ danh đi liền với chữ lợi, với quyền lực
thì cũng xuất hiện những kẻ dùng tiền bạc để mua danh. Trong những trường hợp
đó, không phải thực tài tạo nên danh tiếng mà là vật chất, là thói xu thời hèn nhát, là
sự vô đạo Khi không bắt đầu từ thực tài thì cái danh khoác bên ngoài chính là cái

bác bỏ để làm sáng tỏ vấn đề.
- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: trong đời sống, trong văn chương
Gợi ý lập dàn bài
Mở bài
Dẫn dắt giới thiệu vấn đề, từ đó dẫn vào câu chuyện.
Thân bài
- Bước 1: Thực hiện thao tác đọc hiểu văn bản để tìm ra ý nghĩa của câu chuyện
+ Câu chuyện nhấn mạnh đến cách thức mà chiếc lá vàng rời khỏi cái cây nó
đã bám víu lâu nay: nó tự bứt khỏi cành cây sớm hơn thời gian mà nó có thể tồn tại,
khiến cái gốc phải bật hỏi: Sao sớm thế?.
+ Điều quan trọng hơn nữa là cách chiếc lá vàng nhìn nhận về sự ra đi của
mình: mỉm cười và chỉ vào những lộc non. Đó là sự thanh thản khi chiếc lá đã tìm
thấy được ý nghĩa cho cuộc đời của mình: tự nguyện hi sinh để nhường chỗ cho một
thế hệ mới ra đời.
Câu chuyện cho ta một bài học về lẽ sống ở đời: Phải biết sống vì người khác,
dám chấp nhận cả những thiệt thòi, hy sinh về phía bản thân mình. Đó cũng chính là một
trong những cách sống để khẳng định ý nghĩa sự sống của mỗi con người.
- Bước 2: Bàn luận
+ Tại sao con người sống phải biết hi sinh vì người khác?
. Mỗi phút giây được sống, được yêu thương trên cõi đời này là niềm hạnh
phúc tuyệt diệu của mỗi con người trên thế gian này. Vì vậy, bất cứ ai cũng quý
trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình. Thế nhưng, giá trị sự sống của mỗi
23

con người lại không phải là sự tồn tại được đo bằng giờ, bằng phút, bằng năm…,
đúng như Bailey đã từng nói điều quan trọng không phải chúng ta sống được bao
lâu mà là chúng ta đã sống như thế nào.
. Lẽ sống cống hiến, hi sinh vì những người thương yêu, vì sự tiến bộ của
nhân loại là một phương cách để con người tìm được ý nghĩa, giá trị sự sống của
bản thân. Bởi khi trao yêu thương cũng là lúc mỗi người được nhận lại những niềm

Từ một hiện tượng xảy ra trong đời sống xã hội, người viết phải phân tích,
tìm ra ý nghĩa xã hội về tư tưởng, đạo đức để bàn bạc, đánh giá…
Những vấn đề, hiện tượng của đời sống rất phong phú, nhưng vấn đề đưa ra bàn
bạc phải sát hợp với trình độ nhận thức của học sinh và mang tính thời sự cấp thiết:
- Vấn đề an toàn giao thông.
- Hiện tượng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu.
24

- Nạn bạo hành trong gia đình.
- Bạo lực học đường.
- Hiện tượng chảy máu chất xám.
- Đại dịch HIV/AIDS.
- Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn.
- Di chứng chất độc màu da cam.
- Trẻ em lang thang cơ nhỡ.
- Văn hoá đọc.
- Văn hoá ứng xử.
- Phong cách ăn mặc thời trang.
- Bệnh vô cảm.
- Internet và game…
Như vậy, phạm vi đề tài của dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
rất rộng, hơn nữa trước mỗi vấn đề lại có thể có nhiều cách hỏi khác nhau. Chẳng
hạn từ hiện tượng tai nạn giao thông có thể có nhiều cách hỏi:
- Tuổi trẻ học đường góp phần giảm thiểu tan nạn giao thông.
- Tai nạn giao thông đang là vấn đề của xã hội, mỗi công dân cần phải làm gì
để khắc phục tình trạng này?
- Tại sao nói: An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi nhà?
Cách hỏi khác nhau, nhưng cùng chung vấn đề đưa ra bàn luận đó là vấn đề
tai nạn giao thông đang diễn ra hết sức nghiêm trọng, trở thành vấn nạn của xã hội.
Muốn làm tốt bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống, học sinh cần

Thân bài:
- Giải thích hiện tượng được đưa ra (chảy máu chất xám, hiến máu nhân
đạo, nạn nhân chất độc da cam, bạo lực gia đình…)
- Phân tích hiện tượng:
+ Thực trạng (dẫn chứng)
+ Nguyên nhân.
+ Hậu quả (dẫn chứng).
+ Đưa ra giải pháp khắc phục.
Kết bài:
- Khẳng định những mặt tích cực của vấn đề đối với xã hội, với cộng đồng;
phủ định những mặt tiêu cực làm ảnh hưởng xấu đến đời sống văn minh, tiến bộ. -
- Trách nhiệm của mỗi người, liên hệ bản thân.
* Ví dụ
Ví dụ 1: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về bệnh vô cảm trong xã hội hiện nay?
Xác định yêu cầu của đề bài
- Yêu cầu về nội dung: Đề bài bàn về mối quan hệ giữa người với người
trong xã hội hiện nay, phê phán thái độ vô cảm trong một số người sống chỉ biết
mình, thờ ơ trước nỗi đau của đồng loại,… Đó là lối sống ích kỷ, vô lương tâm và
đang là một căn bệnh của xã hội: bệnh vô cảm
- Yêu cầu về thao tác lập luận: Vận dụng kết hợp các thao tác lập luận giải
thích, bình luận, chứng minh và các phương thức biểu đạt.
- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: trong đời sống, trong văn chương
Gợi ý lập dàn bài
Mở bài
- Một xã hội không thể bền vững nếu thiếu yêu thương, sự đồng cảm và sẻ
chia giữa con người.
- Tuy nhiên đang tồn tại một thực tế trong xã hội hiện nay là một số người
mắc “bệnh vô cảm” - thờ ơ trước nỗi đau của đồng loại, trước những cảnh ngộ gieo
neo, tai ương, khốn khó…


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status