Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh trung học phổ thông theo cấu trúc đề thi trung học phổ thông quốc gia năm 2017 - Pdf 52

Mục lục
1 . Mở đầu……………………………………………………………………….1
1.1. Lí do chọn đề tài ………………………………………………………........1
1.2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………..1
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………………..1
1.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………2
2. Nội dung ……………………………………………………………………..2
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm …………………………………..2
2.2. Thực trạng vấn đề dạy học phần nghị luận xã hội của bộ môn văn ở trường
trung học phổ thông Hà Trung. …………………………………………………3
2.2.1. Thực tế về chương trình dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ
thông……………………………………………………………………………..3
2.2.2. Thực trạng việc dạy, học phần nghị luận xã hội và rèn kĩ năng viết đoạn
văn nghị luận xã hội trong bộ môn ngữ văn ở trường trung học phổ thông Hà
Trung…………………………………………………………………………….4
2.3. Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh trung học
phổ thông ……………………………………………………………………….5
2.3.1. Củng cố kiến thức về đoạn văn ……………………….………………….5
2.3.2. Cách viết đoạn văn trong đề thi Ngữ văn THPT Quốc gia năm 2017……6
2.3.3. Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ ……..7
2.3.3.1. Kĩ năng nhận diện dạng đề:……………………………………………..7
2.3.3.2. Tìm hiểu đề…………………………………………………………….10
2.3.3.3. Lập ý:…………………………………………………………………..13
2.3.3.4. Lựa chọn dẫn chứng …………………………………………………..17
2.3.3.5. Kĩ năng diễn đạt……………………………………………………......17
2.3.3.6. Cấu trúc đoạn văn ……………………………………………………..17
2.4. Thực nghiệm và đề xuất giải pháp…………………………………………18
2.4.1. Tiến hành thực nghiệm…………………………………………………..18
2.4.2. Kết quả thực nghiệm……………………………………………………18
2.4.3. Một số giải pháp…………………………………………………………19
3. Kết luận và kiến nghị………………………………………………...........19

trong phần làm văn nghị luận xã hội. Nhằm giúp các em có thêm kĩ năng làm tốt
câu văn nghị luận xã hội trong kì thi trung học phổ thông quốc gia năm 2017
chính là lí do để tôi chọn đề tài này.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tôi tiến hành đề tài này với ba mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất: Giúp học sinh nắm được yêu cầu, phương pháp và kĩ năng cơ bản
để viết đoạn văn nghị luận xã hội của bài thi môn Ngữ văn trong kì thi trung học
phổ thông quốc gia năm 2017.
Thứ hai: Thông qua quá trình rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận xã hội
giúp học sinh nâng cao khả năng trình bày quan điểm của mình; cung cấp cho
các em vốn tri thức phong phú về các vấn đề xã hội để các em nâng cao nhận
thức về đời sống xã hội và kĩ năng sống, giúp các em sống tốt hơn, đẹp hơn, có
ích hơn, trưởng thành hơn và từng bước hoàn thiện nhân cách của mình.
Thứ ba: Đề tài này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các giáo viên Ngữ
văn khi dạy phần nghị luận xã hội.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Nghị luận xã hội có mặt trong chương trình Ngữ văn từ bậc trung học cơ sở
đến bậc trung học phổ thông, tuy nhiên trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ
tìm hiểu phương pháp viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh trung học phổ
thông đặc biệt là học sinh lớp 12 chuẩn bị thi trung học phổ thông quốc gia năm
2017. Trong bài viết này chúng tôi tập trung nghiên cứu 2 dạng đề cơ bản,
2

2


thường gặp: nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời
sống theo yêu cầu đổi mới là vấn đề nghị luận được rút ra từ phần đọc – hiểu và
chỉ nghị luận vấn đề bằng một đoạn văn khoảng 200 chữ.
1.4. Phương pháp nghiên cứu

đó mạch lạc, trôi chảy, đúng nội dung.
2.1.2. So với đề thi thông thường, đề thi năm 2017, phần làm văn nghị luận xã
hội không yêu cầu học sinh viết bài văn nghị luận như trước đây mà chỉ cần viết
đoạn văn khoảng 200 chữ. Để làm tốt phần này học sinh cần nắm được những
yêu cầu căn bản của một đoạn văn.
Về nội dung: đoạn văn là một phần của văn bản, nó diễn đạt hoàn chỉnh ở
một mức độ nào đó logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ
dàng. “Đoạn văn nghị luận là đoạn văn trực tiếp bày tỏ những tư tưởng, quan
3

3


điểm của người viết về một vấn đề thuộc phạm vi văn học hoặc phạm vi đời
sống xã hội”[1]. Tuy nhiên, đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ cần bám sát yêu
cầu của đề và dựa trên nội dung thông điệp ở phần đọc hiểu.
Về hình thức: đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể hiện ở
những điểm sau: Một đoạn văn được bắt đầu từ chữ cái viết hoa lùi đầu dòng
đến chỗ chấm xuống dòng. Đoạn văn phải viết liền mạch. Đoạn văn thường có
câu chủ đề.
Cấu trúc một đoạn văn: “đoạn văn nghị luận là một hệ thống lập luận, trong
đó hàm chứa một luận điểm chính và nhiều luận điểm phụ; câu chủ đề thể hiện
rõ ràng, chính xác nội dung luận điểm, các câu khác triển khai hoặc dẫn giải
nhằm làm nổi rõ luận điểm; làm tăng sức thuyết phục”[1].
Các kiểu kết cấu: Để triển khai ý tưởng trong đoạn văn, có kiểu kết cấu cơ
bản sau:
Thứ nhất là diễn dịch: từ câu chốt, triển khai các biểu hiện cụ thể của ý
tưởng.
Thứ hai là quy nạp: từ những minh họa, lập luận, nhận xét dẫn đến ý tưởng
cần trình bày.

trình dành cho việc giảng dạy và rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận xã hội
trong phân phối chương trình trung học phổ thông theo qui định của Bộ Giáo
dục là quá ít ỏi. Chương trình lớp 12 cả Ban cơ bản và Ban Khoa học Xã hội đều
chỉ có 2 tiết lí thuyết về cách làm bài nghị luận xã hội: một cho dạng bài nghị
luận về một tư tưởng đạo lí, một cho dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời
sống. Cả năm học 12 các em chỉ có hai bài viết rèn luyện nghị luận xã hội, còn
lại thì tập trung vào nghị luận văn học. Chương trình lớp 11 Ban khoa học xã hội
có 2 bài viết nghị luận xã hội. Tình hình thực tế trên có nhiều ảnh hưởng đến học
sinh. Các em không có điều kiện để rèn luyện nghị luận xã hội một cách thường
xuyên dẫn tới kết quả đạt được không cao.
Hơn nữa, theo tinh thần đổi mới của Bộ giáo dục và đào tạo, phần nghị luận
xã hội có nhiều thay đổi. Đó là thay đổi cách ra đề. Theo đề thi minh họa thì đề
bài yêu cầu bàn luận về một vấn đề được đặt ra trong phần đọc hiểu. Đồng thời,
đề bài cũng giới hạn về dung lượng và thời gian. Trước đây, học sinh viết bài
văn nghi luận xã hội nhưng hiện nay đề yêu cầu viết một đoạn văn khoảng 200
chữ, phần này chiếm 20% điểm toàn bài. Thời gian làm bài môn văn từ 180 phút
xuống còn 120 phút. Đây là một điểm mới đòi hỏi cả người dạy và người học
phải chú ý điều chỉnh, rèn luyện ngay trong quá trình dạy học mà thực tế chương
trình không có tiết nào để củng cố và rèn luyện cho học sinh.
Về học sinh: Học sinh trung học phổ thông đều ở độ tuổi mới lớn, chưa tiếp
xúc nhiều với thực tế đời sống phong phú, phức tạp, vốn kiến thức thục tế xã hội
còn hạn chế. Nhiều em cách nhìn nhận vấn đề còn mơ hồ, ấu trĩ, thậm chí lệch
lạc. Vì vậy, việc hiểu đúng, hiểu sâu bản chất và bàn luận thấu đáo một vấn đề
xã hội là điều rất khó khăn đối với các em. Đồng thời, có những học sinh còn rất
mơ hồ, không nắm được yêu cầu của đề thi, yêu cầu về đoạn văn và kĩ năng viết
đoạn văn. Vì vậy, vẫn có hiện tượng học sinh viết bài văn ngắn chứ không viết
đoạn văn hoặc mất quá nhiều thời gian cho câu này ảnh hưởng đến thời gian làm
bài chung của toàn bài.
2.2.2. Thực trạng việc dạy, học phần nghị luận xã hội và rèn kĩ năng viết đoạn
văn nghị luận xã hội trong bộ môn ngữ văn ở trường trung học phổ thông Hà

2.3. Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh trung
học phổ thông.
2.3.1. Củng cố kiến thức về đoạn văn
2.3.1.1. Khái niệm: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ
viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt
một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.
Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ
ngữ được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đối tượng
biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai
thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có
nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ đề của đoạn.
2.3.1.2. Các kiểu trình bày nội dung trong đoạn văn.
Đoạn văn song hành: Đây là đoạn văn có các câu triển khai nội dung song
song nhau, không nội dung nào bao trùm lên nội dung nào. Mỗi câu trong đoạn
văn nêu một khía cạnh của chủ đề đoạn văn, làm rõ cho nội dung đoạn văn.
Đoạn văn móc xích: Đoạn văn có kết cấu móc xích là đoạn văn mà các ý
gối đầu, đan xen nhau và thể hiện cụ thể bằng việc lặp lại một vài từ ngữ đã có ở
câu trước vào câu sau. Đoạn móc xích có thể có hoặc không có câu chủ đề.
Đoạn diễn dịch: là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể. Câu chủ đề
mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những nội
dung chi tiết cụ thể ý tưởng của chủ đề đó. Các câu triển khai được thực hiện
bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm
những nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết.
Đoạn qui nạp: là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch - đi từ các ý chi
tiết, cụ thể đến ý khái quát. Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn. Các câu trên được
trình bày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh
giá chung.
Đoạn tổng phân hợp: là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mở đoạn
nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết đoạn là
ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu khai triển

vào tình trạng lủng củng, luẩn quẩn, thiếu ý. Ta có thể hình dung khái quát đoạn
văn nghị luận xã hội cần được triển khai như sau:
Thứ nhất là giải thích: giải thích, cắt nghĩa một số từ ngữ trọng tâm, các
khái niệm từ đó rút ra ý nghĩa khái quát chung.
Thứ hai là phân tích, chứng minh: cắt nghĩa,lí giải làm rõ vấn đề và đưa ra
những dẫn chứng cụ thể để minh họa.
Thứ ba là bình luận, đánh giá, mở rộng vấn đề: người viết cần khẳng định
lại vấn đề, phê phán những hiện tượng di ngược chân lí.
Thứ tư là rút ra bài học và liên hệ bản thân
2.3.2.3. Các bước viết các ý thành đoạn văn
Trên cơ sở các ý vừa tìm, viết thành đoạn văn hoàn chỉnh. Chúng tôi chủ yếu
tập trung hướng dẫn học sinh viết đoạn văn tổng phân hợp. Để viết đoạn văn
hoàn chỉnh, cần trải qua các bước sau:
Thứ nhất là viết câu mở đoạn: có nhiệm vụ dẫn dắt và nêu vấn đề (khoảng 23 dòng). Phần này phải có cái nhìn tổng quát, nội dung đề thi yêu cầu bàn về vấn
đề gì.
Thứ hai là viết các câu phát triển đoạn: dựa vào các ý chính đã tìm để tiến
hành viết đoạn văn. Chúng ta lần lượt sử dụng các thao tác: giải thích, phân tích,
7

7


chứng minh, bình luận, bác bỏ, bình luận mở rộng để triển khai nội dung đoạn
văn bằng các câu văn liên tiếp (khoảng 12-15 dòng).
Thứ ba là viết câu kết: có nhiệm vụ kết thúc vấn đề. Câu kết có thể nêu cảm
xúc cá nhân, mở rộng vấn đề hoặc tóm lược vấn đề (khoảng 2-3 dòng).
Các nội dung trên là những thao tác cần có để viết được một đoạn văn hoàn
chỉnh cả nội dung lẫn hình thức, đáp ứng yêu cầu của đề. Tuy nhiên không phải
học sinh nào cũng thực hiện đủ các thao tác trên khi làm bài. Điều này giáo viên
phải thường xuyên nhắc nhở để tạo thành thói quen cho học sinh. Đặc biệt cần

Đề 3: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh,
rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp.”
( Bài kí đề danh tiến sĩ – 1442, Thân Nhân
Trung).
8

8


Bằng một đoạn văn (khoảng 200 chữ), hãy trình bày suy nghĩ của anh
(chị) về nhận định trên.
Đề 4: Bằng một đoạn văn (khoảng 200 chữ), hãy trình bày suy nghĩ của anh/chị
về câu tục ngữ: “Một điều nhịn là chín điều lành”.
Đề 5: Trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mĩ A.Lin –
côn viết:
“ Xin dạy cho cháu biết đến thế giới kì diệu của sách, nhưng cũng để
cho cháu đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống:
đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong nắng, và những bông
hoa nở ngát trên đồi xanh…”
(Ngữ văn 10, tập 2, NXBGD, 2006)
Suy nghĩ của anh (chị) về đoạn thư trên. Trình bày suy nghĩ bằng một
đoạn văn (khoảng 200 chữ).
Học sinh có thể nhận ra dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí khi nhận
thấy đề bài yêu cầu bàn luận về một nhận định, một câu tục ngữ, hay một câu
danh ngôn. Nhận định, tư tưởng thường được trích dẫn nguyên văn và được đặt
trong dấu ngoặc kép. Cũng có khi vấn đề nghị luận lại đòi hỏi học sinh phải tự
rút ra từ nội dung của một câu chuyện hay một đoạn thơ, bài thơ giàu ý nghĩa
triết lí. Ví dụ:
Đề 6:


độ đúng đắn trước những hiện tượng đó. Ví dụ:
Đề 8: Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về vấn đề: Tuổi trẻ học
đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông hiện
nay.
Đề 9: Em có suy nghĩ gì về vấn đề bạo lực học đường đang diễn ra khá nhiều
trong trường học hiện nay?Trình bày suy nghĩ bằng một đoạn văn (khoảng 200
chữ)
Đề 10: Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về vấn đề: ô nhiễm môi
trường .
Đề 11: Anh (chị) có suy nghĩ gì về căn bệnh vô cảm trong xã hội ta hiện nay?
Trình bày suy nghĩ bằng một đoạn văn (khoảng 200 chữ).
Đề 12: Viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn luận về vấn đề an toàn vệ sinh
thực phẩm.
Học sinh nhận ra dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống nhờ vào đối
tượng được đề cập đến trong đề bài. Đó là một vấn đề đang xảy ra trong cuộc
sống hiện tại. Thông thường trên dạng đề này có các từ ngữ như: hiện tượng,
vấn đề, vấn nạn….và nhờ các từ ngữ nói trên, học sinh có thể xác định được
ngay dạng đề. Cũng có khi học sinh phải tự nhận xác định hiện tượng trong một
câu chuyện, hay một văn bản thông tin như bài báo. Ví dụ:
Đề 13:
Ông trồng chè khoe họ được uống chè từ khu trồng sạch nhà quây
riêng dành cho gia đình, khu còn lại tất nhiên là trà bẩn để bán. Bà bán rau
cũng hân hoan nói nhà mình được ăn rau ở khu trồng sạch, khu nhiều thuốc là
để bán. Ông bán thịt lợn cũng vậy.
Nhưng họ không thể cả đời chỉ uống trà, ăn rau hay ăn thịt, họ uống trà
sạch nhưng vẫn phải ăn rau bẩn của kẻ khác, ăn rau nhà sạch nhưng vẫn ăn thịt
bẩn của kẻ khác… Chúng ta đang giết nhau trong khi cảm thấy an tâm đã bảo
vệ được gia đình mình ở một góc nhỏ hẹp hòi…(Chia sẻ của Trần Nhất Hoàng –
cựu thành viên ban nhạc Bức Tường khi nhắc đến kỷ niệm về cố nhạc sỹ Trần
Lập).

sách vở, nhất là trong đời sống thực tế để cho bài viết sinh động và thuyết phục
hơn.
- Về nội dung: học sinh phải xác định được trọng tâm vấn đề cần bàn để hình
thành luận điểm cho bài viết. Để làm điều này, các em phải đọc kĩ đề, tìm những
từ khóa, từ then chốt và giải mã các từ đó sẽ tìm được vấn đề trọng tâm. Với đề
nghị luận theo cấu trúc mới, học sinh cũng cần dựa vào phần đọc hiểu để có thể
giải mã từ khóa, xác định đúng trọng tâm.Ví dụ:
Đề 15:
Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về 2
câu thơ trong văn bản ở phần Đọc hiểu:
" Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó
Sao ta không tròn ngay tự trong tâm?”
(Nguyễn Quang Vũ – Tự Sự)
- Từ khóa là: cuộc đời méo mó, tròn ngay tự trong tâm.
- Luận đề (vấn đề trọng tâm) của đề bài này là: bàn về cái nhìn, thái độ, suy nghĩ
đúng đắn tích cực, lạc quan của con người trước cuộc đời cho dù hoàn cảnh có
như thế nào.
11

11


Đề 16:
Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về 2
câu thơ trong văn bản ở phần Đọc hiểu:
" Và hãy tin vào điều có thật:
Con người - sống để yêu thương.”
(Bùi Nguyễn Trường Kiên- Gửi con)
- Từ khóa: con người, yêu thương
- Luận đề: bàn về một lối sống đẹp xuất phát từ trái tim chân thành của con

mới biết nuôi lửa và truyền lửa. Lửa xuất hiện khi có tương tác, ít ra là hai vật
thể tạo lửa. Lửa là kết quả của số nhiều. Cô bé bán diêm là số đơn. Cô đã chết
vì thiếu lửa. Để rồi từ đó loài người đã cảnh giác thắp nến suốt mùa Giáng sinh
để cho không còn em bé bán diêm nào phải chết vì thiếu lửa.
Nước Việt hình chữ “S”, hiện thân của số nhiều, lẽ nào không biết nuôi lửa
và truyền lửa, lẽ nào thiếu lửa? Không có lửa, con rồng chẳng phải là rồng, chỉ
là con giun, con rắn. Không có lửa làm gì có “nồng” nàn, “nhiệt” tâm! Làm gì
có “sốt” sắng, “nhiệt” tình, đuốc tuệ! Làm gì còn “nhiệt” huyết, “cháy” bỏng!
Sẽ đâu rồi “lửa” yêu thương? Việc mẹ cha, việc nhà, việc nước, làm gì với đôi
vai lạnh lẽo, ơ hờ? Không có lửa em lấy gì “hun” đúc ý chí, “nấu” sử sôi kinh ?
Em... sống đời thực vật vô tri như lưng cây, mắt lá, đầu cành, thân cỏ.... Cho
nên: Biết ủ lửa để giữ nhân cách – người, nhân cách – Việt. Tuổi trẻ là mùa
xuân của xã hội. Thế nhưng: Nếu không có lửa làm sao thành mùa xuân?”
(Trích Thắp mình để sang xuân, Nhà văn Đoàn Lê Công Huy,)
Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về
ý kiến được nêu ở đoạn trích trong phần Đọc – hiểu: “Nếu không có lửa làm
sao thành mùa xuân?”
- Từ khóa: lửa, mùa xuân.
- Luận đề: nhiệt huyết, khát vọng, đam mê; ý chí, nghị lực, niềm tin; tình yêu
thương … chính là lửa làm nên mùa xuân của cuộc đời con người.
Đề 20:
“Mỗi người trước sau phải rước một đam mê.
Người không ham thích một cái gì cả là một người bệnh, một người không
bình thường, hay là một người chuẩn bị đi tu, vì đã diệt dục. Nhưng ai dám bảo
người tu hành là người không đam mê? Và đam mê một ý niệm thường mãnh
liệt hơn đam mê một cái gì cụ thể.
Những bậc cha mẹ thường hay đón đường đam mê của con cáì bằng mớm
cho chúng một đam mê đầu đời: tập cho con thích vẽ, thích đàn và thích nhất là
học. Đam mê học hỏi là niềm đam mê không bao giờ phản bội con người.
Ngày nay, bởi có lắm cạm dỗ đầu đời chầu trực ở ngay ngưỡng cửa gia đình

rất nhiều người bàng hoàng tự hỏi điều gì đang xảy ra nơi đất Tổ Phong Châu?
Những món lễ vật bị xô nghiêng, phục trang bị giằng kéo, những tiếng hò hét
như xung trận khi ba lớp rào chắn được dỡ đi và biển người tràn lên như thác
lũ... Đó chắc chắn không thể gọi là một cuộc hành hương. Đó cũng không thể
gọi là một lễ giỗ - nơi mà sự tôn nghiêm, chuẩn mực, thanh tịnh... được đặt lên
hàng đầu. Có thể gọi đó là cuộc càn quét, tàn phá Đền Hùng của đám “con
cháu” tự bao giờ chẳng rõ đã trở nên hung hãn và xấc xược, quên lời tổ tiên
dạy dỗ đang tranh phần đút lót tiền nhân.”
(Trích "Điều gì đang xảy ra nơi đất Tổ" Nhân Sư, phunuonline, 18/04/2016)
Anh chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy
nghĩ của mình về hiện tượng đang được đề cập đến ở đoạn trích trên.
- Từ khóa: cuộc càn quét, tàn phá.
- Luận đề: Bàn về văn hóa ứng xử của người Việt trong các lễ hội ở đền, chùa.
Đề 22:
Trong chương trình "Tạp chí kinh tế xuân Bính Thân - Phẳng hay không
phẳng", VTV1, 12/2/2016, nhà báo Lê Bình đã nhắc đến vấn nạn thực phẩm bẩn
với một sự trăn trở: “Nhiều người Việt kiếm tiền bằng mọi giá, đánh đổi cả liêm
sỉ, danh dự để có tiền. Sự kiếm tiền nào độc ác hơn là kiếm tiền trên sức khỏe và
mạng sống đồng bào mình? Trung bình hai giờ đồng hồ có ba mươi người chết
vì bệnh ung thư – một con số tàn nhẫn đến rợn người. Bao giờ người Việt mới
thôi độc ác với nhau? Làm thế nào để con người biết yêu thương nhau hơn?
Đơn giản vậy thôi nhưng nó quyết định vận mệnh của cả dân tộc, cả thế giới
14

14


này. Người nông dân chỉ cần thương người tiêu dùng một chút đã không nhẫn
tâm tưới thuốc độc lên rau củ quả để đào huyệt chôn đồng bào mình và chôn
sống chính mình."

Chúng tôi xin đề xuất cách xác định nội dung từng dạng bài như sau:
2.3.3.3.1. Đối với đề bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí:
- Giải thích tư tưởng đạo lí cần bàn luận: Làm rõ vấn đề được dẫn trong đề.
+ Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng trích dẫn từ văn bản đọc hiểu, người viết
cần lần lượt giải thích, làm rõ nghĩa của các từ, cụm từ khóa, từ then chốt để từ
đó rút ra toàn bộ ý tưởng được trích dẫn. Khi vấn đề được diễn đạt theo kiểu ẩn
dụ thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ ngữ.
+ Nên dựa vào nội dung phần đọc hiểu để giải thích ý nghĩa, tránh suy diễn
tùy tiện. Bởi có những nhận định khi đứng độc lập có ý nghĩa khác so với nghĩa
trong văn cảnh.
15

15


+ Nếu đề bài nêu trực tiếp vấn đề cần bàn trên cơ sở văn bản phần đọc hiểu
thì giải thích ngắn gọn vấn đề cần bàn.
- Phân tích, chứng minh, bàn luận về tư tưởng đạo lí được đề cập đến trong đề
bài.
+ Phân tích làm rõ các biểu hiện của vấn đề trong đời sống. Nêu quan điểm
cá nhân đối với vấn đề: đúng hay sai, mặt tích cực, tiêu cực; khẳng định cái
đúng, bác bỏ cái sai.
+ Đưa ra dẫn chứng tiêu biểu, hợp lí để làm rõ vấn đề.
+ Bàn luận mở rộng, nâng cao: đưa ra đối sánh để khẳng định luận đề, khái
quát thành triết lí sống, quan niệm sống.
- Rút ra bài học sâu sắc cho bản thân: Áp dụng vào thực tế để rút ra bài học về
nhận thức và về hành động từ chính tư tưởng đạo lí mà đề bài yêu cầu. Bài học
cần giản di, chân thành.
Tóm lại: khi viết một đoạn văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí cần chú ý
giải thích vấn đề rõ ràng, nêu biểu hiện của vấn đề một cách cụ thể, bàn luận


- Phân tích, bàn luận về vấn đề:
+ Sống yêu thương hiện hữu ở khắp nơi, muôn màu muôn vẻ. Đó là sự cảm
thông, quan tâm, giúp đỡ những người có cảnh ngộ bất hạnh, khó khăn trong
cuộc sống. Đó là tình cảm yêu mến và trân trọng những người có phẩm chất đạo
đức, tình cảm tốt đẹp,….
Liên hệ: Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người, sống để yêu nhau?
(Tố Hữu)
+ Sống yêu thương mang lại những điều kì diệu cho cuộc đời. Người cho đi
yêu thương được nhận bình yên và hạnh phúc. Người được nhận yêu thương thì
có thể nhận được rất nhiều. Đó có thể là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, trái tim
nhạy cảm; có thể là sức mạnh cảm hóa…Lòng yêu thương khiến người ta xích
lại gần nhau. Lòng yêu thương kiến tạo ra thế giới hòa bình, hạnh phúc vững
bền. Cuộc sống không có yêu thương sẽ vô cùng tẻ nhạt, lạnh lẽo.
Dẫn chứng: “Bàn tay tặng hoa hồng luôn phảng phất hương thơm”(Ngạn
ngữ Bungari).
+ Cần phê phán những hiện tượng sống thờ ơ, vô cảm, ích kỉ trong xã hội hiện
nay.
- Rút ra bài học trong cuộc sống:
Chúng ta hãy mở rộng cánh cửa trái tim, tấm lòng yêu thương, mang tình yêu
đến với mọi người. Bởi yêu thương chính là hạnh phúc của con người, của nhân
loại!
Ví dụ3: Thực hành tìm ý đề 6
- Giải thích ý kiến:
+ Câu chuyện đã đặt con người bên bờ vực thẳm và buộc họ chọn lựa giữa
cái chết nhẹ nhàng và sự sống vất vả.
+ Qua câu trả lời của ông lão với Thần Chết: “ Lão muốn ngài nhắc hộ bó
củi lên cho lão”, Lép Tôn-xtôi muốn khẳng định: sự sống là đáng quý; con
người dù lâm vào hoàn cảnh bất hạnh đến đâu, dẫu có gần kề cái chết, vẫn mong

- Nêu giải pháp khắc phục hậu quả và phát huy kết quả
- Bài học: liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động .
Ví dụ : thực hành đề 22
- Giải thích hiện tượng:
+ Nhận định của nhà báo Lê Bình đã làm nổi bật thực trạng an toàn vệ sinh
thực phẩm hiện nay (người nông dân tưới thuốc độc lên rau củ quả), hậu quả mà
nó gây ra (hai giờ đồng hồ có 30 người chết vì ung thư) cũng như nguyên nhân
của vấn nạn này (người Việt kiếm tiền bằng mọi giá, đánh đổi cả liêm sỉ, danh
dự để có tiền).
+ Những chia sẻ đầy trăn trở ấy đã thôi thúc con người đào sâu vào vấn đề vệ
sinh an toàn thực phẩm đáng báo động trong bối cảnh hiện tại.
- Thực trạng của hiện tượng:
Liên tiếp gần đây, nhiều vụ việc liên quan đến vấn đề thực phẩm bẩn đang
khiến nhiều người cảm thấy rất hoang mang. Dẫn chứng: Thịt heo nạc bất
thường trong chăn nuôi, măng tươi được tẩm, nhuộm chất cấm sử dụng trong
chế biến, bảo quản thực phẩm.
- Nguyên nhân của hiện tượng:
+ Doanh nghiệp, nhà sản xuất: do lợi nhuận, có khi là thiếu hiểu biết.
+ Người tiêu dùng: thiếu hiểu biết, ham rẻ.
+ Cơ quan có thẩm quyền: chưa có biện pháp xử lí thích đáng, chưa có sự
phối hợp đồng bộ.
- Tìm hiểu hậu quả của hiện tượng:
Sức khỏe bị ảnh hưởng, tính mạng bị đe dọa ,tâm lí hoang mang, sự bất ổn có
thể nảy sinh trong xã hội khi không còn niềm tin, tình thương giữa con người
với con người.
- Giải pháp và cách khắc phục:
+ Nâng cao hiểu biết cho người sản xuất lẫn người tiêu thụ về tác hại của
việc sử dụng, tiêu thụ thực phẩm bẩn.
+ Đưa ra hình thức xử phạt đủ sức răn đe để loại bỏ việc sản xuất không đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Thân đoạn:
+ Giải thích, làm rõ nội dung vấn đề được dẫn trong đề.
+ Phân tích các biểu hiện của vấn đề trong thực tế đời sống.
+ Nêu quan điểm cá nhân vấn đề tư tưởng, đạo lí trong bối cảnh của cuộc
sống hiện tại.
+ Ý nghĩa, tác dụng của vấn đề: Mặt tích cực, tiêu cực, đúng hay chưa đúng
của tư tưởng đạo lí; khẳng định mặt đúng, tích cực, bác bỏ những biểu hiện sai
lệch.
+ Bàn luận mở rộng, nâng cao vấn đề: Đưa ra đối sánh nhằm khẳng định luận
đề, khái quát thành quan niệm sống, triết lí sống.
+ Bài học sâu sắc cho bản thân về nhận thức, về hành động
- Kết đoạn: Đưa ra thông điệp hay lời khuyên cho mọi người.
Lưu ý: dẫn chứng chủ yếu từ thực tế đời sống.
2.3.3.6.2. Đối với đề bài nghị luận về một hiện tượng đời sống:
- Mở đoạn: Giới thiệu sự việc hiện tượng đời sống cần bàn luận.
- Thân đoạn:
+ Nêu thực trạng của hiện tượng, phân tích các mặt đúng, sai, lợi, hại.
+ Tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả của hiện tượng.
19

19


+ Bày tỏ thái độ, nhận định về mặt đúng – sai, lợi – hại….
+ Đề xuất các giải pháp cụ thể đối với hiện tượng.
+ Liên hệ, rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.
- Kết đoạn: Đưa ra thông điệp hay lời khuyên cho mọi người.
2.4 Thực nghiệm và đề xuất giải pháp
2.4.1. Tiến hành thực nghiệm
Các nội dung được trình bày ở phần II của đề tài này đã được ứng dụng ở

40%
50%
60%

Ghi chú
12H
45%
55%
65%
70%

Chương trình CB
Chương trình CB
Chương trình CB
Chương trình CB

Nhìn vào bảng so sánh trên, chúng tôi nhận thấy chất lượng bài làm nghị
luận xã hội của học sinh lớp 12 có được cải thiện rõ rệt tính từ thời điểm trả bài
viết số 1. Như vây, khi được hướng dẫn chi tiết về lí thuyết và rèn luyện kĩ năng
thông qua các đề thực hành cụ thể, học sinh đã có kết quả làm bài tốt hơn hẳn.
2.4.3. Một số giải pháp
Trong quá trình tiến hành thực nghiệm tôi đã đúc rút được một số giải pháp
cơ bản sau:
Một là trên cơ sở kiến thức về văn nghị luận xã hội các em đã có ở trung học
cơ sở, giáo viên cần tăng cường rèn luyện phương pháp, kĩ năng làm bài nghị
luận xã hội cho học sinh trung học phổ thông từ lớp 10.
20

20


giáo dục, Hà Nội, 2007.

XÁC NHẬN CỦATHỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

21

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.

21


Đường Thị Hồng Nhung

22

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status