SKKN Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 - Pdf 41

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lí luận:
Trong chương trình học Tiếng Việt – Tập làm văn môn Ngữ văn ở THCS,
việc lập luận trong đoạn văn được đặt ra như một kĩ năng cần phải rèn luyện. Kĩ
năng này có thể được luyện ngay trong một câu, một số câu, một đoạn văn hay
trong cả một bài văn. Tuy vậy, trong câu do dung lượng không lớn nên việc lập
luận đơn giản, thường chưa thể hiện đầy đủ bản chất. Còn trong một đoạn văn, một
văn bản hoàn chỉnh, việc lập luận sẽ phong phú đa dạng hơn. Do đó việc hình thành
kĩ năng lập luận trong đoạn văn, trong văn bản cho học sinh là điều rất quan trọng
đặc biệt đối với học sinh lớp 9, làm cơ sở để các em học lên bậc THPT.
Ở bậc Trung học cơ sở, trong phân môn Tập làm văn, học sinh đã học về
đoạn văn và các thể văn nghị luận. Kiến thức về đoạn văn các em được tìm hiểu sơ
lược từ lớp 6 (Tiết 20: Lời và đoạn văn tự sự), lớp 7(Tiết 99: Luyện tập viết đoạn
chứng minh, giải thích) và nâng cao hơn ở lớp 8, lớp 9. Lớp 8 có 4 tiết :Tiết 10, tiết
76, tiết 100, 102 với các kiến thức kĩ năng về xây dựng đoạn trong văn bản, viết
đoạn trong văn thuyết minh, xây dựng và trình bày luận điểm. Lên lớp 9, các em
được học về liên kết câu và liên kết đoạn văn (Tiết 102, 110).
Dạng văn nghị luận các em cũng được học từ lớp 7, khái quát về đặc điểm
văn nghị luận, phép lập luận chứng minh, giải thích; Lớp 8 học tiếp văn nghị luận,
về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả.
Ở lớp 9 đã có sự kế thừa, nâng cao kiến thức về văn nghị luận. Các em học văn
nghị luận xã hội (nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống, nghị luận về một
vấn đề tư tưởng đạo lí) và nghị luận văn học (nghị luận về tác phẩm truyện hoặc
đoạn trích, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ). Có thể nói việc tìm hiểu về đoạn
văn, về văn nghị luận có một hệ thống từ thấp đến cao phù hợp với lứa tuổi và cấu
trúc của chương trình Ngữ văn THCS.
2.Cơ sở thực tiễn:
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn nói chung, môn Ngữ văn lớp 9 nói
riêng, tuy giáo viên đã giúp học sinh nắm các yêu cầu về đoạn văn, cách làm bài
nghị luận ở từng kiểu bài, nhưng kĩ năng viết đoạn, viết bài nghị luận của học sinh

2


B: NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN CHÚ Ý KHI RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN
VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 9:
Như chúng ta đã biết đoạn văn là một yếu tố cấu thành nên văn bản (văn
bản viêt). Muốn xác định được một đơn vị của văn bản phải dựa vào những tiêu chí
phản ánh đúng bản chất và chức năng của nó trong văn bản. Đơn vị của văn bản
(đoạn văn) có thể coi là một văn bản thu nhỏ, có những quan hệ hướng nội và
hướng ngoại. Về hướng nội, đoạn văn có những tổ chức nội bộ, đảm bảo sự hoàn
chỉnh về tính liên kết về đề tài, chủ đề, lôgic, có mở đầu, có kết thúc. Về hướng
ngoại, đoạn văn chính là yếu tố tạo nên các đơn vị lớn hơn nó, có quan hệ với các
đoạn văn khác. Như vậy đoạn văn mang những đặc điểm hoàn chỉnh về nội dung
và hình thức.
1. Khái niệm đoạn văn: Có thể định nghĩa đoạn văn như sau:
Đoạn văn là bộ phận của văn bản, có chủ đề thống nhất, có kết cấu hoàn
chỉnh được đánh dấu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng.
Có thể thấy về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ
nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ
dàng. Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ
với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. Mỗi đoạn trong văn bản có một
vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn mở đầu
văn bản, các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủ đề của văn bản
thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản. Mỗi đoạn văn bản khi tách
ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội dung của đoạn tương đối hoàn chỉnh,
hình thức của đoạn có một kết cấu nhất định.
Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể
hiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa hai dấu
chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép

cấu (cách lập luận) phổ biến: diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp... bên cạnh đó là
cách lập luận suy luận nhân quả, suy luận tương đồng, suy luận tương phản, đòn
bẩy, nêu giả thiết…
- Đoạn diễn dịch là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể. Câu chủ đề
mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những nội dung
chi tiết, cụ thể ý của chủ đề đó. Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác
giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét, đánh giá
và bộc lộ sự cảm nhận của người viết.
- Đoạn quy nạp là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch, đi từ các ý chi tiết,
cụ thể đến ý khái quát. Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn. Các câu trên được trình bày
bằng thao tác minh họa, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung.
- Đoạn tổng - phân - hợp là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mở
đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết đoạn
là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu khai triển
được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét
hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp lại,
khẳng định thêm giá trị của vấn đề. Khi viết đoạn văn tổng - phân - hợp, cần biết
cách khái quát, nâng cao để tránh sự trùng lặp của hai câu chốt trong đoạn.
- Đoạn lập luận tương đồng là cách trình bày đoạn văn có sự so sánh tương
tự nhau dựa trên một ý tưởng: so sánh với một tác giả, một đoạn thơ, một đoạn
văn,… có nội dung tương tự nội dung đang nói đến.
- Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau về
nội dung ý tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộc
sống,…tương phản nhau.
4


- Đoạn lập luận theo suy luận nhân quả: Có 2 cách: Trình bày nguyên
nhân trước, chỉ ra kết quả sau. Hoặc ngược lại chỉ ra kết quả trước, trình bày
nguyên nhân sau.

Ví dụ:
Do đâu mà quân đội ta có những thành tích và tiến bộ trong công tác văn
nghệ? Theo tôi do những nguyên nhân dưới đây:
Phát ngôn tận cùng bằng những từ: rằng, là,…
Ví dụ:
Chúng ta đều biết rằng: “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, khoa học là sản
phẩm chung của toàn dân”.
Các câu trong đoạn văn cũng như các đoạn trong bài phải có sự liên kết
chặt chẽ với nhau về nội dung cũng như hình thức:
1.3.2.Liên kết hình thức:
5


Các câu trong đoạn văn phải được liên kết với nhau bằng những từ ngữ,
những từ ngữ đó được gọi là phương tiện liên kết (phép liên kết). Các phép
liên kết thường được sử dụng là:
- Phép thế: Sử dụng ở câu đứng sau từ ngữ có tác dụng thay thế từ ngữ đã
có ở câu trước.
+ Thế bằng đại từ:
Ví dụ:
Chín giờ có chuyến tàu ở Hà Nội đi qua huyện. Đó là sự hoạt động cuối cùng
của đêm khuya.
(Thạch Lam)

+ Thế bằng từ đồng nghĩa:
Ví dụ:
Chú bé Lượm đã hi sinh trong một lần làm liên lạc. Sự ra đi của Lượm đã
gieo vào lòng người đọc bao nỗi xót thương.
+ Thế bằng những từ ngữ khác nhau nhưng cùng chỉ một sự vật:
Ví dụ:

6


ta một cảm giác, tình tự, một tư tưởng bằng cách làm sống hiển hiện ngay lên
trong tâm hồn chúng ta cảm giác, tình tự, tư tưởng ấy. Nghệ thuật không đứng
ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi, nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến
chúng ta phải tự bước lên đường ấy.
(Nguyễn Đình Thi)

+ Lặp cấu trúc ngữ pháp:
Ví dụ:
Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!
(Thép Mới)

Bên cạnh các phép liên kết đã trình bày ở trên, các phép liên kết như: phép
liên tưởng, phép dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa cũng được sử dụng để tạo ra sự liên
kết trong đoạn văn (văn bản)
II. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HỌC TẬP MÔN NGỮ VĂN CỦA HỌC
SINH LỚP 9 QUA KHẢO SÁT ĐIỀU TRA:
Đầu năm học 2013 - 2014, trường THCS Khương Mai tổ chức kiểm tra khảo
sát chất lượng một số môn học trong đó có môn Ngữ văn, kết quả cụ thể như sau:
KẾT QUẢ XẾP LOẠI
Giỏi
Khối lớp
9A1

Tổng số
học sinh
23


13

56,5

03

13,1

Đề kiểm tra khảo sát môn Ngữ văn 9 bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng. Một
trong những kĩ năng cần có đó là kĩ năng viết đoạn văn nghị luận. Qua kết quả khảo
sát có thể nhận thấy số học sinh có kĩ năng viết đoạn chưa tốt còn nhiều, số học
sinh có kĩ năng viết đoạn thành thạo còn ít. Trên bài làm của học sinh, hầu hết các
em thể hiện việc nắm khái niệm đoạn văn, từ ngữ chủ đề, câu chủ đề trong đoạn
văn, cách trình bày đoạn văn còn lơ mơ.
Các em không biết trình bày đoạn văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về nội
dung cũng như hình thức. Nhiều bài viết lủng củng sơ sài, lập luận không mạch lạc
chặt chẽ. Các ý lộn xộn, không có lớp có lang, ý lớn ý nhỏ không theo trình tự hợp
lí. Đầu đoạn văn không viết hoa lùi đầu dòng, các dòng khác thò ra thụt vào tuỳ tiện.
Có thể nói kĩ năng làm văn, đặc biệt là kĩ năng viết đoạn của học sinh còn
nhiều hạn chế. Do vậy để khắc phục hạn chế của học sinh, nâng cao chất lượng dạy
và học đòi hỏi giáo viên phải có những giải pháp hợp lí.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1. Giải pháp 1: Củng cố kiến thức về đoạn văn cho học sinh:
1.1. Khái niệm:
7


- Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi
đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối
hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.

1

2

3

4…

n
Câu n: Câu chủ đề, đứng cuối đoạn văn.
Câu 1,2,3,4,… là những câu mang ý cụ thể có tác dụng hướng tới làm nổi bật
ý ở câu chủ đề
- Cách tổng hợp - phân tích – tổng hợp (tổng – phân – hợp): là sự phối
hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mở đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo
khai triển ý khái quát, câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao,
mở rộng. Những câu khai triển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng
8


minh, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận
định đối với chủ đề, tổng hợp lại, khẳng định thêm giá trị của vấn đề.
Mô hình trình bày đoạn tổng – phân – hợp:
1
2

3

4

1’

- Yêu cầu ngữ pháp: Lời dẫn trực tiếp, phép lặp.
Đề 2:
a. Chép thuộc bốn câu đầu của đoạn trích “Cảnh ngày xuân”
9


b. Bằng một đoạn văn quy nạp từ 9 đến 12 câu nêu cảm nhận của em về cái
hay của bốn câu thơ vừa chép.
Đây là dạng đề thường gặp khi thi vào lớp 10 THPT.
* Yêu cầu cần đạt:
a. Chép chính xác 4 câu thơ đầu như trong SGK.
b. Viết đoạn văn.
- Nội dung: cảm nhận của em về cái hay của bốn câu thơ
- Hình thức: Đoạn quy nạp, độ dài từ 9 đến 12 câu.
Bước 2: Xác định câu chủ đề cho đoạn văn:
Câu chủ đề là câu nêu ý chính của cả đoạn văn, vì vậy đó là câu đặc biệt
quan trọng. Khi viết đoạn cần chú ý đọc kĩ đề, xác định yêu cầu của đề, từ đó xác
định câu chủ đề.
Có những đề không cho sẵn câu chủ đề, có đề cho sẵn câu chủ đề, có những
đề yêu cầu sửa một câu có lỗi thành câu đúng và dùng câu đó làm câu chủ đề, có đề
lại có phần dẫn ý, dựa vào đó ta có thể xác định được câu chủ đề.
Ví dụ 1: Đề 1, đề 2 ở mục a trên là những đề không cho câu chủ đề. Để viết
được câu chủ đề, ta phải nắm vững nội dung của đoạn trích đề cho, từ đó xác định
câu chủ đề.
- Đề 1: Nội dung những câu thơ là lời người cha nói về những đức tính của
người đồng mình, ca ngợi đức tính cao đẹp của người đồng mình. => Câu chủ đề có
thể viết: “Những câu thơ là lời người cha nói với con về đức tính của “người đồng
mình” .
- Đề 2 : Nội dung đoạn trích: bức họa tuyệt đẹp về khung cảnh thiên nhiên
mùa xuân. => Câu chủ đề có thể viết: “Bốn câu thơ là bức họa tuyệt đẹp về khung

thơ thẩn, dòng nước uốn quanh.(3) Một bức tranh thật đẹp, thanh khiết.(4)Cảnh đã
có sự thay đổi về thời gian và không gian: Không còn bát ngát, trong sáng, không
còn cái không khí đông vui náo nhiệt của lễ hội, tất cả đang nhạt dần, lặng dần.
(5)Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng.(6)Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”,
“nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con
người.(7)Đặc biệt, hai chữ “nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật.
(8)Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thần nuối
tiếc, lặng buồn, “dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn không
thể nói hết.(9) Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé mở
vẻ đẹp của một tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu
lắng.(10)

12


Trong đoạn trên, Câu 1 là câu mở đoạn, nêu ý chủ đề của cả đoạn văn. Các
câu còn lại( từ câu 2 đến câu 10), nêu các ý cụ thể, phân tích nội dung, nghệ thuật
của sáu câu thơ.
Các bước trên là những thao tác cần có để viết được một đoạn văn hoàn
chỉnh cả nội dung lẫn hình thức, đáp ứng yêu cầu của đề. Tuy nhiên không phải học
sinh nào cũng thực hiện đủ các thao tác trên khi làm bài. Điều này giáo viên phải
thường xuyên nhắc nhở để tạo thành thói quen cho học sinh. Đặc biệt để hình thành
kĩ năng cho học sinh một cách thành thạo cần tăng cường rèn luyện qua việc thực
hành viết đoạn văn cho các em một cách có hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp.
3. Giải pháp 3: Rèn luyện kĩ năng dựng đoạn cho học sinh bằng các dạng bài tập.
3.1.Dạng bài tập nhận biết:
- Mục đích của bài tập là cung cấp cho học sinh các dạng đoạn văn cụ thể,
trên cơ sơ đó các em nhận biết được mô hình cấu trúc đoạn, từ ngữ chủ đề, câu chủ
đề. Và cao hơn là cách trình bày các luận cứ để dẫn đến luận điểm. Tuỳ từng đối

2. Bài tập 2:
Đoạn văn sau trình bày nội dung theo cách nào? Chỉ rõ cách trình bày
nội dung đoạn văn?
“ Chính Hữu khép lại bài thơ bằng một hình tượng thơ:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo(1).
Đêm khuya chờ giặc tới, trăng đã xế ngang tầm súng(2). Bất chợt chiến sĩ
ta có một phát hiện thú vị: “Đầu súng trăng treo”(3). Câu thơ như một tiếng reo
vui hồn nhiên mà chứa đựng đầy ý nghĩa(4). Trong sự tương phản giữa súng và
trăng, người đọc vẫn tìm ra được sự gắn bó gần gũi(5). Súng tượng trưng cho tinh
thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược(6). Trăng tượng trưng cho cuộc
sống thanh bình, yên vui(7). Khẩu súng và vầng trăng là hình tượng sóng đôi trong
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam bất khuất và hào hoa muôn
thuở(8). Chất hiện thực nghiệt ngã và lãng mạng bay bổng đã hoà quyện lẫn nhau
tạo nên hình tượng thơ tuyệt tác để đời(9).”
Mô hình đoạn văn: Tám câu đầu triển khai phân tích hình tượng thơ trong
đoạn cuối bài thơ “Đồng chí”, từ đó khái quát vấn đề trong câu cuối – câu chủ đề, thể
hiện ý chính của đoạn: đánh giá về hình tượng thơ. Đây là đoạn văn phân tích thơ có
kết cấu quy nạp. Nội dung phân tích đoạn kết bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu..
3.Bài tập 3:
Đoạn văn dưới đây lập luận theo cách tổng - phân - hợp phân tích khổ thơ
đầu bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh. Chỉ rõ cách lập luận trong đoạn văn?
“ Ngay từ khổ thơ đầu, Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc những tín
hiệu riêng của mùa thu.(1) Không phải là những rừng phong sắc đỏ, giậu cúc
vàng, lá ngô đồng rơi hay ao sen tàn lạnh... như trong thơ cổ. (2) Cũng không
phải là màu trời xanh ngắt hay làn nước biếc trong như trong thơ thu Nguyễn
Khuyến...(3)Tín hiệu của mùa thu này là làn hương ổi “ phả vào trong gió se”.(4)
Phải có “gió se”thì mới có hương thơm nồng đậm thế.(5) Làn gió heo may trong
mát với thoáng chớm lạnh đầu mùa như biết thanh lọc, chắt chiu để có được mùi

“Và vầng trăng, vầng trăng đất nước
Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao”. ( Phạm Tiến Duật) (6).
Trăng với người lính trong thơ thật gần gũi và gắn bó (7). Đặc biệt, trong thơ
Nguyễn Duy ánh trăng đã trở thành một biểu tượng cao đẹp: “ vầng trăng tri kỉ”,
“vầng trăng tình nghĩa” (9).
Đoạn văn trình bày nội dung bằng cách đoạn văn so sánh mối quan hệ giữa
vầng trăng và người lính trong thơ Nguyễn Duy với vầng trăng và người lính trong
thơ Hồ Chí Minh, Chính Hữu, Phạm Tiến Duật nhằm nhấn mạnh ý: Trăng với
người lính trong thơ thật gần gũi và gắn bó. Từ đó khái quát vấn đề: trong thơ
Nguyễn Duy ánh trăng đã trở thành một biểu tượng cao đẹp: “ vầng trăng tri kỉ”,
“vầng trăng tình nghĩa”.
5. Bài tập5:
Dưới đây là đoạn văn so sánh tương phản, nội dung nói về phẩm chất của
con người mới trong “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Chỉ ra cách lập
luận trong đoạn văn?
Thực lòng mà nói, giữa bao lo toan hối hả của cuộc sống thường ngày, có
khi nào ta dành ra được những phút tĩnh lặng của cuộc đời, để lắng nghe nhịp đập
bên trong thầm lặng của cuộc sống. Đọc “ Lặng lẽ Sa Pa”, ta giật mình bởi những
điều Nguyễn Thành Long nói tới mà ta quen nghĩ, quen nhìn hời hợt, nông cạn
theo một công thức đã có sẵn mà không chịu đi sâu tìm tòi, phát hiện bản chất bên
trong của nó: “ Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa
15


Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con
người làm việc và suy nghĩ” hết mình cho đất nước, cho cuộc sống hôm nay.
- Đoạn văn trên có sự so sánh tương phản: so sánh sự trái ngược trong suy
nghĩ hời hợt, nông cạn theo một công thức đã có sẵn của chúng ta với suy nghĩ sâu
xa của Nguyễn Thành Long, so sánh sự tương phản giữa hiện thực cuộc sống:
“giữa bao lo toan hối hả của cuộc sống thường ngày, ít khi ta dành ra được những

Trong“ Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng có hai câu thơ tả cảnh mùa xuân rất
đẹp:
“ Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lên trắng điểm một vài bông hoa”(2).
16


Tác giả Trung Quốc chỉ nói : “Lê chi sổ điểm hoa” (trên cành lê có mấy bông
hoa)(3). Số hoa lê ít ỏi như bị chìm đi trong sắc cỏ ngút ngàn(4). những bông lê
yếu ớt bên lề đường như không thể đối chọi với cả một không gian trời đất bao la
rộng lớn(5). Nhưng những bông hoa trong thơ Nguyễn Du là hoàn toàn khác: “
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”(6). Nếu như bức tranh xuân ấy lấy phông
nền là màu xanh của của cỏ thì những bông hoa lê là một nét chấm phá vô cùng
sinh động và tài tình(7). Sắc trắng của bông hoa lê – cái sắc trắng chưa từng xuất
hiện trong câu thơ cổ Trung Hoa- nổi bật trên nền xanh tạo ra thanh khiết trong
sáng vô cùng(8). Tuy chỉ là một vài chấm nhỏ trên bức tranh nhưng lại là điểm
nhấn toả sáng và nổi bật trên bức tranh toàn cảnh(9). Những bông hoa “trắng
điểm” thể hiện sự tài tình gợi tả gợi cảm trong lời thơ(10). Câu thơ cũng thể hiện
bản lĩnh hội hoạ của Nguyễn Du(11). Hai sắc màu xanh và trắng hoà quyện với
nhau trong bức tranh xuân vừa đẹp vừa dào dạt sức sống đầy xuân sắc, xuân
hương(12).
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là bình giảng câu thơ với hình
ảnh thơ tả cảnh mùa xuân đặc sắc trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Câu 3,4,5
phân tích câu thơ cổ Trung Quốc làm điểm tựa để các câu còn lại (câu 6, 7, 8, 9,
10,11,12) làm rõ phân tích làm rõ chủ đề đoạn văn.
Với học sinh lớp 9, cách lập luận chủ yếu cần nhận diện là 3 cách diễn
dịch, qui nạp, tổng phân hợp còn các cách lập luận khác chủ yếu mở rộng dành
cho học sinh khá giỏi, và giúp các em nhận diện cách lập luận trên cơ sở đó tự
mình viết được một số dạng đề yêu cầu viết đoạn có sự so sánh giữa hai tác phẩm,
hai nhân vật, hai câu thơ, hai hình ảnh thơ... ( Điều này cũng có trong một số đề

con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ là người phụ nữ thuỳ mị nết na, tư dung
tốt đẹp, người con hiếu thảo, người vợ thuỷ chung, người mẹ yêu con tha thiết”.
Bài tập 2:
a.Chép lại câu viết dưới đây, sau khi đã sửa hết các lỗi chính tả, ngữ pháp:
"Trong truyện "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê bằng những
nét đặc xắc trong cách miêu tả nhân vật và cách kể truyện đã làm nổi bật tâm
hồn trong sáng, dũng cảm vượt khó khăn gian khổ, hi sinh lạc quan trong cuộc
sống chiến đấu của những cô gái thanh niên sung phong trên tuyến đường
Trường Sơn".
b. Dùng câu văn đă sửa trên làm phần mở đoạn viết tiếp 8 - 10 câu, phần kết
đoạn là một câu cảm.
Yêu cầu của bài tập:
a.Sửa lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp:
Trong truyện "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê, bằng những nét
đặc sắc trong cách miêu tả nhân vật và cách kể chuyện, tác giả đã làm nổi bật tâm
hồn trong sáng, dũng cảm vượt khó khăn gian khổ, hi sinh, lạc quan trong cuộc sống,
chiến đấu của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn.
b. Viết đoạn: Các câu phát triển:
Họ là những cô gái thanh niên xung phong có tâm hồn trong sáng, hay mơ
mộng dễ vui nhưng cũng dễ trầm tư. Họ rất nữ tính, thích làm đẹp ngay nơi chiến
trường khói lửa. Nho thích thêu thùa. Thao chăm chép bài hát, hay làm dáng.
Phương Định thích ngắm mình trong gương, bó gối mơ mộng và thích hát. Đặc
biệt họ rất dũng cảm vượt khó khăn, gian khổ, hi sinh, lạc quan trong cuộc sống,
chiến đấu. Công việc của họ rất nguy hiểm, đối mặt với thần chết hàng ngày, hàng
giờ nhưng họ sẵn sàng nhận việc phá bom mà không cần sự trợ giúp của đơn vị,
dám đối mặt với thần chết mà không hề run sợ. Họ luôn có tinh thần trách nhiệm
cao với nhiệm vụ, luôn đặt nhiệm vụ lên trên cả tính mạng. Có lúc họ nghĩ đến cái
18



Hoặc: Chỉ bằng vài nét chấm phá, Nguyễn Du đã vẽ nên bức hoạ tuyệt đẹp
về khung cảnh thiên nhiên mùa xuân.
Với bài tập 2, ta có thể viết câu chủ đề:
“Sáu câu cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, là bức tranh tả cảnh ngụ
tình thật đặc sắc”.
Hoặc: “Sáu câu cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, là đỉnh cao của
bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du”.
3.2.2. Viết đoạn văn dựa vào câu chủ đề cho sẵn.

19


Bài tập 1: Từ câu chủ đề sau: “Khác với Thúy Vân, Thuý Kiều có vẻ đẹp sắc
sảo, mặn mà cả tài lẫn sắc”. Hãy viết tiếp khoảng 10 câu văn để hoàn thành một
đoạn văn theo cách Tổng hợp – Phân tích - Tổng hợp.
Gợi ý
- Dùng câu chủ đề trên làm câu mở đoạn.
- Viết nối tiếp bằng những câu sau:
Gợi tả vẻ đẹp của Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng nghệ thuật ước
lệ “thu thuỷ” (nước mùa thu), “xuân sơn” (núi mùa xuân), hoa, liễu. Nét vẽ của thi
nhân thiên về gợi, tạo một ấn tượng chung về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế.
Vẻ đẹp ấy được gợi tả qua đôi mắt Kiều, bởi đôi mắt là sự thể hiện phần tinh anh
của tâm hồn và trí tuệ. Đó là một đôi mắt biết nói và có sức rung cảm lòng người.
Hình ảnh ước lệ “làn thu thuỷ” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống
động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt. Còn hình ảnh ước lệ “nét
xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi lông mày thanh tú trên gương mặt trẻ
trung. “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” – Vẻ đẹp quá hoàn mĩ và sắc sảo
của Kiều có sức quyến rũ lạ lùng khiến thiên nhiên không thể dễ dàng chịu thua,
chịu nhường mà phải nảy sinh lòng đố kỵ, ghen ghét, báo hiệu lành ít, dữ nhiều.
Không chỉ mang một vẻ đẹp “nghiêng nước, nghiêng thành”, Kiều còn là một cô

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
Từ “đôi” chỉ hai người, hai đối tượng chẳng thể tách rời nhau kết hợp với từ “xa
lạ” làm cho ý xa lạ được nhấn mạnh hơn. Từ phương trời tuy chẳng quen nhau
nhưng cùng đồng điệu trong nhịp đập của trái tim, cùng tham gia chiến đấu, giữa
họ đã nảy nở một thứ tình cảm cao đẹp: Tình đồng chí - tình cảm ấy không phải chỉ
là cùng cảnh ngộ mà còn là sự gắn kết trọn vẹn cả về lý trí, lẫn lý tưởng và mục
đích cao cả: chiến đấu giành độc lập tự do cho Tổ quốc.
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét đắp chung thành đôi tri kỉ
Đồng chí!”
Cả 7 câu thơ có duy nhất một từ “chung” nhưng bao hàm nhiều ý: chung cảnh ngộ,
chung giai cấp, chung chí hướng, chung một khát vọng… Hai tiếng “Đồng chí” kết
thúc khổ thơ thật đặc biệt, sâu lắng như một nốt nhạc làm bừng sáng cả bài thơ, là
kết tinh của một tình cảm cách mạng mới mẻ chỉ có ở thời đại mới.
3.2.3. Viết đoạn văn không cho sẵn câu chủ đề.
Với dạng bài tập này yêu cầu học sinh có kĩ năng tổng hợp hơn. Không chỉ
biết xác định câu chủ đề mà còn biết trình bày đoạn văn theo cách lập luận mà đề
yêu cầu.
Ví dụ: Bài tập 1:
Viết đoạn văn diễn dịch phân tích 6 câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh
ngày xuân”.
Yêu cầu của bài tập:
- Hình thức: Viết đoạn văn diễn dịch.
- Nội dung: Phân tích sáu câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”.
Sáu câu thơ cuối miêu tả
cảnh chị em Thuý Kiều
du xuân trở về. Cảnh vẫn
mang cái nét thanh tao,
trong trẻo của mùa xuân,
rất êm dịu: ánh nắng

Kiều ra về trong sự bần
thần nuối tiếc, lặng buồn.
“dan tay” tưởng là vui
nhưng thực ra là chia sẻ
cái buồn không thể nói
hết. Cảm giác bâng
khuâng, xao xuyến về
một ngày vui xuân đã hé
mở vẻ đẹp của một tâm
hồn thiếu nữ tha thiết với
niềm vui cuộc sống, nhạy
cảm và sâu lắng. Đoạn
thơ hay bởi đã sử dụng
các bút pháp cổ điển: tả
cảnh gắn với tả tình, tả
cảnh ngụ tình.
Bài tập 2
Phân tích 6 câu thơ đầu của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” bằng đoạn văn diễn
dịch, có sử dụng cách lập luận so sánh.
Gợi ý
22


Bức tranh mùa xuân thiên nhiên trong 6 câu thơ đầu được vẽ bằng vài
nét chấm phá nhưng rất đặc sắc. Từ “mọc” được đặt ở đầu câu - nghệ thuật đảo
ngữ nhằm nhấn mạnh, khắc hoạ sự khoẻ khoắn. “Mọc” tiềm ẩn một sức sống, sự
vươn lên, trỗi dậy. Giữa dòng sông rộng lớn, không gian mênh mông chỉ có một
bông hoa thôi nhưng không hề gợi lên sự lẻ loi đơn chiếc. Trái lại, bông hoa ấy
hiện lên lung linh, sống động, tràn đầy sức (sống) xuân.Với gam màu hài hoà dịu
nhẹ tươi tắn. Màu xanh lam của nước sông (dòng sông Hương) hòa cùng màu tím

Gợi ý
Ba câu thơ kết thúc bài thơ “Đồng chí” là bức tranh đẹp về tình đồng chí, là
biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ.
23


“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”.
Trong cảnh “rừng hoang sương muối” nhưng những người lính vẫn đứng cạnh bên
nhau, im lặng, phục kích chờ giặc tới. Từ “chờ” gợi lên tư thế chủ động của người
lính. Hai câu thơ đối nhau thật chỉnh và gợi cảm giữa khung cảnh và toàn cảnh.
Khung cảnh lạnh lẽo, buốt giá. Toàn cảnh là tình cảm ấm nồng của người lính với
đồng đội của các anh. Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp người lính vượt lên tất
cả sự khắc nghiệt của thời tiết. Tình đồng đội đã sưởi ấm lòng các anh giữa rừng
hoang mùa đông và sương muối buốt giá. Hình ảnh “ Đầu súng trăng treo” là có
thật trong cảm giác, được nhận ra từ những đêm hành quân, phục kích chờ
giặc.Nhưng đây là hình ảnh đẹp nhất, gợi bao liên tưởng phong phú: Súng và trăng
là gần và xa, là chiến sĩ và thi sĩ, là thực tại và mơ mộng. Tất cả đã hòa quyện, bổ
sung cho nhau trong cuộc đời người lính cách mạng. Câu thơ như nhãn tự của cả
bài, vừa mang tính hiện thực, vừa mang sắc thái lãng mạn, là một biểu tượng cao
đẹp của tình đồng chí thân thiết. Ba câu thơ là bức tranh đẹp, là biểu tượng đẹp giàu
chất thơ về tình đồng chí, đồng đội của người lính trong kháng chiến chống Pháp.
Bài tập 2:
Viết một đoạn văn ngắn để nêu lên suy nghĩ của em về những điều người cha
nói với con qua khổ thơ sau:
“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục.”

sinh tăng lên rõ rệt sau một năm học. Nhiều em đã có kĩ năng viết đoạn thành thạo,
đảm bảo sự liên kết cả về nội dung cũng như hình thức. Cuối năm học tôi đã khảo
sát, kiểm chứng kết quả thực hiện đề tài qua việc khảo sát kĩ năng viết đoạn của
học sinh lớp 9 để đối chứng so với đầu năm chưa triển khai thực hiện đề tài, kết quả
cụ thể như sau:
Khối lớp

Tổng
số học
sinh

KẾT QUẢ XẾP LOẠI
Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

TS

%

TS

%

TS


năm

9A1

22

04

18,2

09

40,9

8

36,4

01

4,5

So với kết quả khi chưa thực hiện đề tài, kết quả có thay đổi rõ rệt, tỉ lệ khá
giỏi tăng, tỉ lệ trung bình, yếu giảm cụ thể như sau: điểm giỏi tăng từ 4,3% lên
18,2%; điêm khá tăng từ 26,1% lên 40,9%; điểm trung bình giảm từ 56,5% xuống
36,4%; điểm yếu giảm đáng kể từ 13,1% xuống xòn 4,5%.
Kết quả như trên đã cho thấy hiệu quả của đề tài khi ứng dụng vào trong
thực tế giảng dạy môn Ngữ văn nói chung và Ngữ văn 9 nói riêng.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status