SỞ GIÁO
GIÁO DỤC
DỤC VÀ
VÀ ĐÀO
ĐÀO TẠO
TẠO THANH
THANH HÓA
HÓA
SỞ
PHÒNG GD
GD &
& ĐT
ĐTTHỌ
THỌ XUÂN
XUÂN
PHÒNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
TÊN ĐỀ TÀI
PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT
PHƯƠNG
PHÁP
KĨ NĂNG
ĐOẠN
VĂN
CHORÈN
HỌCLUYỆN
THANH HÓA NĂM 2017
THANH HÓA NĂM 2017
Mục lục
1.
2.
Trang
1.Mở đầu:
1.1. lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sử lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả.
2.3.1.1. Một số vấn đề chung về văn miêu tả.
2.3.1.2. Cách dựng đoạn trong văn miêu tả.
2.3.1.3. Một số đoạn văn tiêu biểu.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt
động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn Ngữ văn trong nhà trường có
một vị trí rất quan trọng. Nó tác động sâu sắc đến tâm hồn, tình cảm của con
người, nó bồi đắp cho tâm hồn mỗi người trở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc
hơn. M.Goóc- ki nói : “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng
cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới
chân lý”. Văn học "Chắp đôi cánh" để các em đến với mọi thời đại văn minh, với
mọi nền văn hoá, xây dựng trong các em niềm tin vào cuộc sống, vào con người,
trang bị cho các em vốn sống, hướng các em tới đỉnh cao của chân, thiện, mỹ. Vì
vậy, nhiệm vụ của người giáo viên dạy Ngữ văn là phải làm cho học sinh hiểu
được cái hay cái đẹp của Văn học, kích thích sự hứng thú học tập môn Ngữ văn
cho học sinh. Một giờ dạy Ngữ văn là phải tạo ra được những rung động thẩm mỹ
sâu sắc khiến người ta say mê. Song nhiệm vụ cũng không kém phần quan trọng
nữa của giáo viên dạy Ngữ văn ở trường THCS là rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn
cho học sinh.
Việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS là vấn đề hết sức cần
thiết. Từ đó, giúp học sinh hình thành ý thức và nhân cách cũng như trình độ học
vấn cho các em ngay khi đang học bậc học THCS và trưởng thành sau này. Qua
việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn, ta rèn cho học sinh ý thức tự tu dưỡng, biết
yêu thương, quí trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội,
biết hướng tới những tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ
phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác và cũng từ đó rèn cho các em tính
tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ
trong nghệ thuật. Trước hết là trong văn học có năng lực thực hành và năng lực sử
dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải hướng dẫn
cho học sinh cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạt câu trong
hơn.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Phân môn Tập làm văn giúp cho học sinh nắm được các thể loại trong chương
trình tập làm văn ở THCS như tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh,
2
điều hành. Từ đó giúp học sinh biết vận dụng các thể loại văn bản để phục vụ cho
học tập, trong đời sống. Đặc biệt, đề tài này sẽ giúp cho các em biết cách xây dựng
đoạn văn với nhiều thể loại khác nhau, với bố cục đoạn văn dù ngắn hay dài điều
phải đảm bảo mặt nội dung và hoàn chỉnh về hình thức, hướng dẫn cho các em rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn theo bố cục : Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn.
Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó. Ý chính đó, có thể đứng ở đầu
đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui nạp hoặc ý
chính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách song hành.
Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các hình
thức nói hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến thức đã
tiếp thu được qua các môn Văn - Tiếng Việt và những kiến thức văn hoá xã hội để
có thể nói và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác nhau
mà cuộc sống đặt ra cho các em.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
“Phương pháp rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 6 bậc THCS”
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng hệ thống phương pháp sau:
- Phương pháp kiểm tra, khảo sát;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp cố vấn, chuyên gia.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Cũng bộ môn Ngữ văn, nhưng theo khảo sát, phần lớn học sinh học phân môn
Tập làm văn còn yếu mà đặc biệt là cách dựng đoạn, khiến cho giáo viên và học
sinh còn rất lúng túng. Thường thì thời gian quá ngắn mà lượng kiến thức nhiều,
nên chưa tìm hiểu kĩ các đoạn văn mẫu. Một tiết học, chỉ đưa ra một vài ví dụ đơn
giản, một vài đoạn mẫu nên học sinh chưa hiểu rõ hết vấn đề, lí thuyết hiểu sơ sài,
vì thế xác định đề bài, chủ đề và bố cục đoạn văn càng bối rối.
Những tình trạng viết đoạn văn ở THCS như trên là do nhiều nguyên nhân.
Trước là nguyên nhân khách quan: nó phụ thuộc vào tư tưởng lập nghiệp của học
4
sinh sau này như thi vào các trường cao đẳng, đại học Ngữ văn ít hơn các môn
khác,và điều quan trọng nhất là cơ chế thị trường thực dụng, con người khô khan,
kênh thông tin văn hoá nghệ thuật đa dạng, nhiều loại hình cuốn hút học sinh. Hơn
thế nữa phụ huynh lại định hướng cho con em mình theo khuynh hướng trên. Và
ngoài ra nó còn phụ thuộc vào nguyên nhân chủ quan là môn Tập làm văn khó học,
trừu tượng, học sinh không thích học, khó trở thành giỏi văn. Nội dung, chương
trình trong SGK còn quá tải, trình độ giáo viên chưa đáp ứng, chất liệu của môn
ngữ văn bị giảm xuống vì đưa nhiều thể loại văn bản nhật dụng, văn bản chính
luận, văn bản nghị luận vào, coi nhẹ giảng bình, giáo viên giao nhiều bài tập, khó
được điểm cao.
Trên đây là những tình trạng viết văn, dựng đoạn văn của học sinh THCS và
nó cũng có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động. Cho nên ta cũng
quan tâm hơn nữa trong việc dạy một tiết Tập làm văn, mà đặc biệt là dạy một tiết
dựng đoạn văn trong văn bản.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Để khảo sát thực trạng viết văn, dựng đoạn của học sinh THCS, tôi đã tiến
hành ra đề như sau:
Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 -15 câu) miêu tả khung cảnh giờ ra chơi.
56,3
yếu, kém
SL
%
13
40,6
6B = 33
0
0
1
3,0
19
57,6
13
39,4
Cộng: 65
0
những đặc điểm tính chất nổi bật của một sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,
nhằm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc. Qua văn miêu tả người
đọc không chỉ cảm nhận được vẻ bề ngoài màu sắc, hình dáng, kích thước, trạng
thái, mà còn hiểu rõ hơn bản chất bên trong của đối tượng.
Trong chương trình Ngữ văn THCS, yêu cầu của văn tả cảnh tập trung ở lớp 6.
Đến lớp 7, 8, 9 văn miêu tả được nhắc lại trong các kiểu văn biểu cảm, thuyết
minh, tự sự, nghị luận. Giúp học sinh thấy được vị trí, tầm quan trọng, giá trị của
văn miêu tả trong kể chuyện, trong thuyết minh, trong biểu cảm và trong nghị luận.
* Yêu cầu của văn miêu tả
Để miêu tả và viết tốt bài văn, đoạn văn miêu tả học sinh phải quan sát, so
sánh, tưởng tượng, nhận xét, ngôn từ, xúc cảm, tình cảm.
Quan sát là một trong những hoạt động của con người để nhận thức thế giới.
Trong quá trình quan sát cần gắn với so sánh liên tưởng để phát hiện ra những nét
giống nhau gần nhau, đối lập nhau trong thế giới khách quan giữa các sự vật, hiện
tượng, từ đó miêu tả đúng bản chất, gọi tên đúng sự vật hiện tượng.
6
Tưởng tượng có vai trò rất quan trọng trong đời sống, trong lao động và trong
sự hình thành, phát triển nhân cách của con người. Tưởng tượng tích cực tạo nên
những hình ảnh đẹp đẽ, rực rỡ, phản ánh những mơ ước, lí tưởng của con người,
kích thích những nhu cầu thẩm mĩ và tình yêu đối với cuộc sống.
Khi viết đoạn văn miêu tả người ta thường dùng liên tưởng, ví von, so sánh.
Nhờ có so sánh, liên tưởng mà văn miêu tả khơi gợi được trí tưởng tượng, kích
thích được óc sáng tạo của người đọc. Ngôn ngữ - Tiếng Việt phong phú và giàu
đẹp, Tiếng Việt giàu về vốn từ vựng, về các vốn từ như đồng âm, đồng nghĩa,
tượng thanh, tượng hình. Chúng ta lại phong phú về lối nói ẩn dụ, nhân hoá, so
sánh, tưởng tượng, cùng những cách diễn đạt đa dạng, với các kiểu câu Tiếng Việt.
Đó là điều kiện thuận lợi khi sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt để miêu tả sự vật, hiện
được bức tranh phong phú về thế giới loài vật như trong tác phẩm “ Dế Mèn phiêu
lưu kí”.
Không có tưởng tượng chắc chắn nhà văn Vũ Tú Nam không thể viết được
trang văn miêu tả thay đổi kì diệu màu nước biển trong “ Biển đẹp”.
Vậy khi làm văn miêu tả, trí tưởng tượng được dùng với vai trò gì?
Có thể nói rằng vai trò của trí tưởng tượng rất lớn. Nó không chỉ là yếu tố tạo
nên sự phong phú cho các hình ảnh trong bức tranh miêu tả mà còn giúp cho người
làm văn miêu tả tìm được những từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật phù hợp để
bài văn, đoạn văn hấp dẫn hơn.
+ Kĩ năng so sánh:
So sánh là hệ quả của quá trình liên tưởng, tưởng tượng. Chính sự liên tưởng,
so sánh này làm cho trang văn miêu tả hay hơn và đối tượng miêu tả hiện rõ hơn,
đẹp hơn, hấp dẫn hơn.
Nếu xét về đối tượng, hiện tượng so sánh trong văn miêu tả hết sức đa dạng và
phong phú:
Có thể so sánh người với người, so sánh người với các con vật, đồ vật, so
sánh người với với cây cối, so sánh người với các hiện tượng tự nhiên. Có thể so
sánh vật với vật, cảnh với cảnh. Có thể so sánh vật với con người.
Và nếu xét về cách thức so sánh thì có những hiện tượng so sánh sau:
So sánh theo hướng thu nhỏ. So sánh theo hướng phóng đại. So sánh theo
hướng cụ thể hoá. So sánh theo hướng trừu tượng hoá.
8
Tuy nhiên, khi sử dụng kĩ năng so sánh, cần lưu ý là phải biết sáng tạo, biết
tìm điểm mới, điểm riêng. Không nên lặp đi lặp lại những hình ảnh so sánh đã quá
cũ, quá sáo mòn.
+ Kĩ năng nhận xét:
Viết văn miêu tả, bao giờ người viết cũng để lại dấu ấn chủ quan của mình.
qua giao tiếp hàng ngày, quá trình đọc sách, đọc tài liệu tham khảo có liên quan tới
văn miêu tả.
Ví như tả cảnh sóng biển có nhịều từ ngữ gợi hình, gợi thanh: cuồn cuộn, nhấp
nhô, lăn tăn, rì rầm, rì rào, lô nhô. Nhưng không phải là sóng lúc nào cũng dùng
được tất cả các từ ấy. Từ sóng biển lúc trời động thì phải dùng từ “cuồn cuộn”; Lột
tả tiếng sóng biển vỗ vào bờ đá thì phải dùng từ “ì oạp”, tả tiếng sóng biển vọng lại
trong đêm mà nghe xa thì dùng từ “rì rầm”
Tả cây cối cũng có nhiều từ ngữ chỉ màu xanh khác nhau: “xanh um”, “xanh
rì”, “xanh non”.
Nhưng khi đi vào thực tế mỗi loại cây sẽ có một loại xanh riêng, không lẫn
lộn: cây rau cải trong vườn hay cây lúa đang thì con gái thì phải là “xanh mơn
mởn”, “xanh rờn”; Cây cối trong rừng rậm rạp thì phải là “xanh rì”, “xanh tốt”.
Bên cạnh việc lựa chọn từ ngữ, vấn đề tạo hình ảnh trong văn miêu tả cũng
không kém phần quan trọng. Có thể thấy rõ câu văn miêu tả giàu hình ảnh bao
nhiêu thì sức gợi cảm của nó sẽ lớn bấy nhiêu. Tuy nhiên khi sử dụng các nghệ
thuật bên trong bài văn miêu tả, chúng ta cần lưu ý những nghệ thuật ấy chỉ thực
sự có tác dụng nếu được dùng đúng lúc, đúng chỗ, hợp văn cảnh.
- Cách đặt câu, dựng đoạn văn miêu tả
Cũng như văn tự sự, cách đặt câu trong văn miêu tả đòi hỏi người viết phải lựa
chọn sắp xếp rất công phu.
Ngoài việc đặt câu, cách dựng đoạn và liên kết đoạn trong một bài văn miêu tả
cũng rất cần được quan tâm. Thông thường khi làm văn, học sinh chia làm ba
phần: mở bài, thân bài, kết bài.
Chúng ta cần xác định những ý cần triển khai trong nội dung bài văn miêu tả
để chia các phần trong bài thành các đoạn văn tương ứng. Có nhiều cách để chia
đoạn trong bài văn miêu tả.
Chia đoạn theo trình tự thời gian: người làm bài đặt đối tượng miêu tả vào các
khoảng thời gian khác nhau. Trong một năm thì theo bốn mùa xuân - hạ - thu 10
11
khuôn. Thậm chí, có một số em học sinh dùng cái khuôn ấy để lắp ghép cho tất cả
các bài văn miêu tả khác nhau.
Ví dụ: khi tả một cây ăn quả thường các em hay đi theo cách mở bài và kết
như sau:
Mở bài: Trong vườn, Bà em trồng nhiều thứ cây ăn quả. Nhưng em thích nhất
là cây bưởi đào.
Kết luận: Em rất yêu khu vườn (yêu cây bưởi đào). Hoặc em muốn được chăm
sóc cho khu vườn này ngày càng tươi tốt hơn ( chăm sóc cây bưởi đào để nó tiếp
tục đơm hoa kết trái ở những mùa sau).
Ví dụ: khi làm văn miêu tả cây cối trong vườn vào một thời điểm cụ thể ta có
thể chia thân bài thành một số đoạn ứng với một số đối tượng miêu tả như sau:
Đoạn một: Tả một cây có đặc điểm tiêu biểu và gây ấn tượng nhất trong vườn
( lớn nhất, đặt ở vị trí quan trọng nhất), khi tả phải giới thiệu được vị trí, miêu tả
hình dáng đặc điểm của thân, lá, rễ, hoa, quả, tầm quan trọng của nó đối với con
người, đối với các cây cối khác trong vườn. Có trường hợp nêu thêm lai lịch của ai
( ai trồng ? Trồng lúc nào ? với chủ nhân khu vườn).
Đoạn hai: Tả loài cây cho hoa, cho hương, liệt kê một số loài hoa (hoa nhài,
hoa hồng nhung). Đồng thời miêu tả cụ thể vị trí, hình dáng, đặc điểm, cấu tạo của
từng loại cây (thân, lá, hoa, hương vị).
Đoạn ba: Tả loài cây cho quả- liệt kê một số loài cây tiêu biểu (cam, bưởi, na,
ổi). Sau đó tập trung miêu tả vị trí, qui trình ra hoa kết trái, cấu tạo, công dụng của
từng loại cây.
Lưu ý: Trong quá trình tả, có thể đặt đối tượng được tả trong mối quan hệ với
nắng, với gió, với chim chóc, ong bướm, với con người để toàn cảnh khu vườn
hiện lên sống động và đẹp hơn.
Để kiểm chứng kỹ năng viết đoạn văn miêu tả của học sinh, tôi tiến hành các
bước như sau:
1.0 điểm)
- Viết đúng theo yêu cầu: một đoạn văn ngắn (10 – 15 câu), đầu dòng lùi vào viết
hoa, kết thúc là dấu chấm cuối dòng.
- Viết đúng kiểu bài miêu tả.
13
- Từ ngữ lựa chọn phải phù hợp với kiểu bài miêu tả, làm nổi bật đặc điểm của sự
vật được miêu tả.
- Diễn đạt rõ ràng, trong sáng, không mắc lỗi chính tả.
Về nội dung:
- Câu mở đoạn: giới thiệu chợ hoa ngày tết (Có thể là câu chủ đề). ( 0.5 điểm)
- Các ý triển khai câu mở đoạn: tả cảnh mua bán xen với tả cây cảnh, cây hoa ngày
tết.
(8.0điểm)
- Câu kết đoạn: Nhận xét, cảm tưởng về chợ hoa ngày tết.
( 0.5 điểm)
Hoạt động 6: GV thu bài và dặn dò HS.
2.3.1.3. Một số đoạn văn tiêu biểu
Đoạn mở bài.
1. Khi những ngày hè gần hết thì cây bưởi trong vườn nhà ông tôi cũng vào
mùa quả chín. Được ngắm nhìn cây bưởi, lúc ấy mới thấy được vẻ đẹp riêng của
nó.
3. Được tắm dưới mưa quả là thú vị. Cơn mưa rào ấy đã qua lâu rồi mà tôi còn
nhớ mãi. Nhớ mãi. Ước sao có một lần được về quê, được cùng bọn trẻ làng đùa
giỡn trong mưa.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Phân
Giỏi
Khá
Trung bình
yếu, kém
loại
Lớp
6A = 32
SL
%
SL
%
SL
%
25
75,7
1
3
Cộng: 65
3
4,6
9
13,8
51
78,5
2
3,1
Qua quá trình Dạy - Học và tiến hành khảo sát thực nghiệm theo phương pháp
tích cực, bản thân tôi thấy kết quả đạt được vẫn chưa cao.
Đối với việc tổ chức Dạy - Học ở lớp 6B - khi chưa vận dụng triệt để phương
pháp tích cực theo chuyên đề đổi mới (thay SGK THCS) và các bước tiến hành
trong việc tìm hiểu đề, xác định ý, xây dựng câu chủ đề, dùng từ ngữ không trong
sáng, thiếu trau chuốt, từ ngữ không có tính lôgic.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ :
3.1. Kết luận:
Để thực hiện được các bước dạy học như trên, đòi hỏi sự nhạy cảm của thầy
trước yêu cầu thực hành, trước những thao tác và kĩ năng thực hành của học sinh.
16
Yêu cầu giáo viên dày công luyện tập cho các em, kiên trì trong việc đánh giá kết
quả, không nên nóng vội, có tinh thần trách nhiệm cao. Tuỳ từng đối tượng ở các
khối lớp, tuỳ từng vùng để có phương pháp vận dụng đúng đắn. Với phương châm
là người truyền đạt kiến thức và chủ thể tiếp nhận kiến thức và mục đích cuối
cùng là viết được các đoạn văn sáng tạo với đầy đủ các kĩ năng mà các em tiếp thu
được.
Mọi sự chuẩn bị chu đáo, kỹ càng của người dạy sẽ mang lại những hiểu biết,
những thao tác thuần thục, nhẹ nhàng và tự tin trong các em học sinh thân yêu!
Vì vậy, chúng ta cần quan tâm hơn nữa để phát huy “Những tài năng sẵn có
còn tiềm ẩn trong mỗi cá nhân học sinh”, giúp các em hoàn thiện hơn trong nhân
cách người học, phát huy vốn tri thức của nhân loại làm giàu cho quê hương đất
nước trong thời kỳ hội nhập, đổi mới và phát triển.
3.2. Kiến nghị:
Đối với Phòng giáo dục và đào tạo:
Hàng năm nên tổ chức các lớp chuyên đề đổi mới về phương pháp dạy, đặc biệt
là chuyên đề về phân môn Tập làm văn.
Trên đây là kinh nghiệm: “ Phương pháp rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn
cho học sinh lớp 6 bậc THCS”, rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn bè
đồng nghiệp để bản thân được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
TT
1.
Tên đề tài SKKN
Một số kinh nghiệm xây dựng
trường THCS đạt chuẩn Quốc
Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Phòng
GD&ĐT
Kết quả
đánh giá
Năm học đánh
xếp loại
giá xếp loại
(A, B,
hoặc C)
A
2013-2014
gia
19