DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
SGK: Sách giáo khoa
GD – ĐT: Giáo dục và đào tạo
DTTS: Dân tộc thiểu số
HSDT: Học sinh dân tộc
TMĐ: Tiếng mẹ đẻ
TV: Tiếng Việt
VD: Ví dụ
NXB: Nhà xuất bản MỤC LỤC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1. Mục đích nghiên cứu 3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu 4
4.2. Khách thể nghiên cứu 4
5. Giả thiết khoa học 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Cấu trúc đề tài 5
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG 6
CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1. Cơ sở lí luận 6
học chính tả 39
2.6. Sử dụng các mẹo luật, quy tắc chính tả 41
TIỂU KẾT 45
CHƢƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM 46
3.1. Mục đích thể nghiệm sư phạm 46
3.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thể nghiệm 46
3.2.1. Đối tượng thể nghiệm 46
3.2.2. Địa bàn thể nghiệm 46
3.2.3. Nội dung, phương pháp thể nghiệm 46
3.2.4. Kết quả thể nghiệm 51
TIỂU KẾT 53
PHẦN KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 1
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Đảng ta đã nhận định " Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống
giáo dục quốc dân", nền tảng có vững chắc thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu
trúc bền vững và phát triển hài hòa.
Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm hình thành cho học sinh cơ sở ban
đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về trí tuệ, thể chất, tình cảm và các kĩ
năng cơ bản. Giáo dục tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở
ban đầu hết sức quan trọng để tạo thế hệ trẻ trở thành người có ích trong giai
đoạn mới.
Ở tiểu học, Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực
hiện mục tiêu của môn học Tiếng Việt là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ
năng nghe cho học sinh. Kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt
nghiên cứu, cũng là nêu lên thực tế và biện pháp khắc phục các lỗi đó, không
ngoài mong muốn là đưa các em HS người dân tộc thu hẹp khoảng cách về nhận
thức đối với HS là người dân tộc Kinh.
2. Lịch sử vấn đề
Thực tiễn đề tài này, các tác giả đã quan tâm nghiên cứu các công trình sau:
Cuốn “Chữ viết và dạy Chữ viết ở tiểu học” Lê A (1982), NXB ĐHSP, tác
giả đã đề cập tới vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn Chính tả ở tiểu học, cơ
sở khoa học của việc dạy học chính tả, chương trình SGK dạy chính tả.
“Dạy học chính tả ở tiểu học” Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân Thảo (1995),
NXB GD, tác giả đã đề cập đến khái niệm chính tả, vị trí của phân môn Chính
tả, những nhiệm vụ và mục tiêu của phân môn Chính tả ở Tiểu học.
Cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học tiểu học” Bộ GD-ĐT, dự án phát
triển GV tiểu học, NXB GD, Hà Nội, (2005), tác giả đã chỉ ra những đổi mới
trong nội dung và phương pháp bài dạy phân môn chính tả theo chương trình
sách giáo khoa mới. Nắm được bản chất và phương pháp dạy học chính tả
theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS.
Cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt cho HS dân tộc cấp Tiểu học’’ Bộ
GD -ĐT, dự án phát triển GV tiểu học, NXB GD, Hà Nội (2006), tác giả đã đề
cập tới những mục tiêu cơ bản của dạy môn Chính tả cho HS dân tộc thiểu số,
chỉ ra một hạn chế trong việc thực hiện các yêu cầu phân môn Chính tả ở vùng 3
dân tộc. Tài liệu còn đề cập đến những nguyên nhân cơ bản nhất của việc mắc
lỗi chính tả của HS dân tộc thiểu số.
Cuốn “Vui học tiếng Việt”-Trần Mạnh Hưởng, tập 1(2002), NXB-GD, tác
giả nhấn mạnh những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúp HS luyện tập thành thạo
các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, các em sẽ suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong
sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của dân tộc.
Vận dụng sáng tạo, linh hoạt những hiểu biết đã có vào xây dựng kế hoạch
- Tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả bước đầu thể nghiệm và rút ra tính
khả thi của vấn đề nghiên cứu.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng viết chính tả cho học sinh dân tộc Tày
trường Tiểu học xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Do khả năng và thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ tiến hành điều tra, khảo
sát và thực nghiệm trên HS dân tộc Tày của trường Tiểu học xã Thượng Lâm,
huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.
5. Giả thiết khoa học
Sửa lỗi cho HS nói chung và nhất là cho học sinh dân tộc Tày nói riêng còn
gặp nhiều khó khăn. Đây là vấn đề được nhiều GV tiểu học miền núi Tuyên
Quang quan tâm. Nên chúng tôi giả định rằng nếu xây dựng được một số biện
pháp sửa lỗi chính tả một cách khoa học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy
học chính tả cho HS dân tộc Tày nói riêng và trong nhà trường tiểu học nói
chung. Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khoa Tiểu học –
Mầm non trường Đại học Tây Bắc.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc tham khảo tài liệu, phân tích, tổng hợp khái quát hóa các vấn đề tài
liệu có liên quan để làm cơ sở lí luận cho đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu.
- Phương pháp trắc nghiệm. 5
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thống kê và phân loại lỗi chính tả
cơ bản HS dân tộc Tày thường mắc phải, nắm được thực trạng, nguyên nhân
6
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Vị trí tính chất của việc dạy học chính tả ở nhà trường tiểu học
1.1.1.1. Chính tả là gì?
Chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một
ngôn ngữ. Nói cách khác chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được
thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân. Nó là phương tiện thuận lợi cho việc lưu
truyền thông tin, đảm bảo cho người viết, người đọc thống nhất những điều đã viết.
Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội bắt buộc gần như tuyệt
đối, nó không cho phép con người vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tính chất
sáng tạo.
Một ngôn ngữ văn hóa không thể không có chính tả thống nhất, chính tả
thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ không bị trở ngại giữa các địa
phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước với đời sau.
Chính tả thống nhất là một trong những biểu hiện của trình độ văn hóa phát
triển của một dân tộc.
1.1.1.2. Thế nào là chuẩn chính tả?
Thật vậy muốn thống nhất được chính tả thì phải có chuẩn chính tả. Chuẩn
chính tả là việc chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ. Chuẩn chính tả phải
được quy định rõ ràng, chi tiết tới từng từ của tiếng Việt và phải được mọi người
tuân theo. Vấn đề đặt ra là chuẩn chính tả phải được xây dựng sao cho hợp lí, có
độ tin cậy và sức thuyết phục cao. Chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như
tuyệt đối, chẳng hạn không thể viết là “dáo dục, iêu ghét ” Mà phải viết là
“giáo dục, yêu ghét …”
Chuẩn chính tả có tính chất ổn định cao, rất ít thay đổi, thường giữ nguyên
trong thời gian dài nên thường tạo thành thói quen, tạo nên tâm lí trong lối viết
của người bản ngữ.
ghi lại trong sách vở. Đối với HS Tiểu học, viết là điều kiện để các em học tập
các môn học khác trong chương trình.
Như vậy, rõ ràng việc viết nói chung và việc sửa lỗi chính tả nói riêng có vị
trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động làm giàu tri thức của các em. Việc viết
đúng chính tả không chỉ đơn giản là viết để viết, viết xong để đấy mà sâu hơn 8
nữa còn phải giúp các em hiểu được nội dung văn bản, biết được mình đang diễn
đạt những gì và cần viết cái gì để thấy được cái hay, cái đẹp trong câu chữ, trong
ngôn ngữ tiếng Việt và hiểu được ý nghĩa của chúng.
Chính tả mang tính chất thực hành. Thông qua luyện tập liên tục kết hợp với
việc ôn tập các quy tắc chính tả, HS sẽ có kĩ năng viết đúng các chữ ghi tiếng Việt.
Do đó không có tiết học quy tắc chính tả riêng, các quy tắc đều được học thông qua
các hoạt động thực tiễn để hình thành kỹ năng, kĩ xảo chính tả cho HS.
1.1.2. Nhiệm vụ của dạy chính tả ở trường tiểu học
1.1.2.1. Hình thành quy tắc và rèn luyện kỹ năng viết đúng chính tả
Chính tả có nhiệm vụ cơ bản là giúp HS nắm vững được quy tắc chính tả,
hình thành kĩ năng chính tả, kết hợp dạy học chính tả với rèn luyện kĩ năng
nghe, kĩ năng phát âm, củng cố vốn từ, trau dồi kiến thức và kĩ năng suy đoán
rèn luyện một số thao tác tư duy thay thế so sánh liên tưởng. Hay nói cách khác,
phân môn Chính tả có nhiệm vụ giúp HS hình thành năng lực và thói quen viết
đúng chính tả: Viết đúng chữ ghi âm đầu, âm chính, âm cuối, viết dấu thanh
đúng vị trí, tiến tới viết đẹp, viết nhanh, cụ thể là:
- Nét viết: Đều đứng (vuông góc với dòng kẻ). Mặc dù vậy các em vẫn có thể
viết chữ nghiêng và viết nét thanh nét đậm để chữ được thêm phong phú, đa dạng,
đẹp mắt.
- Kích thước chữ: Người ta lấy khoảng cách giữa hai dòng kẻ liền nhau làm
một đơn vị cự li để viết chữ. Căn cứ vào đơn vị cự li dòng kẻ người ta xây dựng
được cự li các chữ.
âm “ngờ” viết là “ngh”.
Khi đứng trước các nguyên âm hàng sau (o, ô, u, uô, a, ă , ).Âm “gờ”
viết là “g”, âm “ngờ” viết là “ng”.
1.1.2.2. Rèn cho HS một số phẩm chất tốt
- Tính kỉ luật, tính cẩn thận.
Bởi khi viết một bài chính tả, được thể hiện xong và hoàn chỉnh một bài
chính tả các em phải vận dụng năng lực của mình: Tai nghe, tay viết, đầu óc suy
nghĩ. Nghĩ làm sao để viết cho đúng quy tắc, nghe làm sao cho chuẩn từng câu,
từng chữ, viết là sao cho thật nắn nót, thật đẹp. Cho nên dạy chính tả cho HS là
rèn luyện tính kỉ luật, tính cẩn thận. 10
-Tính thẩm mĩ.
Ngoài ra, ta có thể thấy một bài chính tả hoàn chỉnh trước tiên phải được
viết hoàn thành và đúng quy tắc chính tả. Thứ hai, là phải đẹp vì viết chính tả là
phải viết ngay ngắn, thẳng hàng, đẹp đẽ. Chính vì vậy, chính tả còn giúp các em
nâng cao đầu óc thẩm mĩ.
-Tình yêu tiếng Việt
Bên cạnh đó, chính tả còn bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý tiếng Việt
và ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc Việt Nam.
1.1.3. Cơ sở khoa học của việc dạy học chính tả
1.1.3.1. Cơ sở tâm lí học
Mục đích của việc nghiên cứu cơ sở tâm lý học là hình thành năng lực viết
thành thạo, thành thục chữ viết tiếng Việt theo các chuẩn chính tả đến giúp hình
thành các kĩ xảo chính tả "kĩ xảo là những yếu tố tự động hóa của hoạt động có
ý thức được tạo ra trong quá trình thực hiện hoạt động đó " (định nghĩa của B.M
Chép.Lốp), việc hình thành kĩ xảo chính tả là giúp viết đúng chính tả một cách
tự động hóa không cần trực tiếp nhờ tới các quy tắc chính tả, không cần đến sự
tham gia vào các hoạt động.
Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm, viết chính tả tiếng Việt chủ yếu là
ghi âm tiết thể hiện các thành phần âm vị đoạn tính hay siêu đoạn tính trong cấu
trúc âm tiết thành chữ các biểu tượng về âm tiết và cách viết các âm tiết.
Viết chính tả là sự tái tạo mẫu chữ, là kĩ năng hoạt động ghi nhớ các biểu
tượng về âm tiết và cách viết âm tiết.
HS Tiểu học thường hiếu động, chóng nhớ, chóng quên, do đó GV cần hình
thành cho các em kĩ xảo chính tả một cách tự động hóa, không cần phải nhờ đến
những quy tắc chính tả, không cần sự tham gia của ý chí. Để đạt điều này có thể
tiến hành theo hai cách: Có ý thức và không có ý thức, với cách không có ý thức
thường tốn thời gian, công sức, GV phải luyện cho HS thường xuyên qua đó
củng cố trí nhớ máy móc ở mức độ nhất định.
Với cách có ý thức, GV cần cho HS bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc,
các “mẹo” luật chính tả. Nội dung kiến thức phải bắt đầu từ dễ đến khó, tránh
nhàm chán mà phải học mà chơi chơi mà học. Thông qua luyện tập dần dần hình
thành những kỹ xảo chính tả bằng con đường có ý thức, đó là con đường ngắn 12
nhất, có hiệu quả cao. Cần vận dụng cả hai phương pháp để rèn luyện chính tả
cho HS tiểu học. Trong đó cách không có ý thức thường được sử dụng đối với
các lớp đầu cấp, cách có ý thức thường sử dụng ở các lớp cuối cấp.
1.1.3.2. Cơ sở ngôn ngữ học
Từ cơ sở tâm lí học đã nêu trên, để hạn chế được lỗi chính tả cho HS, người
GV cần nắm chắc, hiểu, vận dụng và giảng dạy cho HS một số nguyên tắc chính
tả tiếng Việt sau đây:
Một là: Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm.
Theo nguyên tắc này chính tả phải biểu hiện đúng âm hưởng của từ, phát
âm thế nào thì viết thế ấy.
Giữa cách đọc và cách viết phải thống nhất với nhau, được nghe đọc đúng
kĩ xảo chính tả.
+ Qua so sánh, phân tích đối chiếu, khái quát hóa, trừu tượng hóa…. Từ đó
rút ra quy tắc chính tả, HS được rèn luyện khả năng tư duy.
VD 1: Chữ viết thể hiện của âm vị “k” khi nó đứng trước các nguyên âm hàng
trước (i, e, ê, yê ) thì được viết tắt là “k”. Khi nó đứng trước các nguyên âm hàng sau
(o, a, u, ô) thì được viết là “c”.Khi nó đứng trước âm đệm “u” thì được viết là “q”.
VD 2: Đứng trước các nguyên âm hàng trước (i, e, ê, yê) được viết là “gh”,
âm vị “y” được viết là “ngh”. Đứng trước các nguyên âm hàng sau (a, ă, â …)
viết là “g”, âm vị “y” viết là “ng”.
Từ cơ sở lí luận trên, để hạn chế lỗi chính tả cho HS GV cần nắm chắc các
quy tắc chính tả và phải có trình độ lí luận khoa học để áp dụng tốt vào thực tiễn.
1.2. Cơ sở thực tế
1.2.1. Điều kiện thực tiễn của trường
Lâm bình là một huyện xa nhất tỉnh Tuyên Quang, Lâm Bình có 5 dân tộc
anh em cùng sinh sống chủ yếu là người dân tộc thiểu số (Tày, Dao, H’mông, Pà
Thẻn) và người Kinh từ miền xuôi lên làm ăn và sinh sống tại địa bàn. Trong đó
đa số là người Tày chiếm đến 65%, các dân tộc còn lại chiếm 35%.
Trường Tiểu học xã Thượng Lâm nằm ở trung tâm xã với vị trí và giao thông
đi lại khá thuận lợi so với các trường trong huyện, công tác giáo dục cũng có nhiều
thuận lợi. 14
Trường có tổng diện tích mặt bằng 4000m2, năm học 2012-2013 nhà
trường có tổng số 11 lớp với tổng số 233 HS trong đó dân tộc 145 HS, dân tộc
H’Mông 30 HS, dân tộc Dao 20 HS, còn lại là số HS dân tộc khác .
Tổng số cán bộ giáo viên: 22 (nam 1), đảng viên 10, trong đó:
Ban giám hiệu: 2
Tổng phụ trách đội:1
GV chuyên: 3
không có gì, nếu có một chút vốn TV lại chưa chuẩn xác trong cách phát âm và sử
dụng. Khi đến trường các em mới bắt đầu học TV và các em phải học TV trên cơ
sở kinh nghiệm của TMĐ.
Khi học TV, HS người Kinh có nhiều cơ hội giao tiếp với người lớn ở mọi
lúc mọi nơi, trong và ngoài nhà trường. Những lĩnh vực được tiếp cận khi đối
thoại rất đa dạng và phong phú. HSDT hầu như không thể có được số lượng và
mật độ các cuộc giao tiếp bằng tiếng Việt nhiều như HS người Kinh. Ở trường
học, HSDT chỉ tiếp xúc duy nhất với thầy, cô giáo- những người nắm vững TV.
Do số HS trong lớp thì đông mà lại chỉ có một GV nên cơ hội giao tiếp bằng
tiếng Việt giữa GV và HS rất có hạn chế. Nội dung các vấn đề được đề cập
trong các cuộc giao tiếp chủ yếu chỉ liên quan tới bài học, trong khi các vấn đề
của đời sống ngôn ngữ lại luôn sôi động và đa dạng.
Một số HS chưa chịu khó học tập, chữ viết không đúng cỡ chữ kiểu chữ.
Một số em chưa nắm được, chưa nhớ được quy tắc chính tả cơ bản.
Theo một xu hướng tự nhiên, những thói quen sử dụng TMĐ được HSDT
đưa vào trong quá trình học TV. Hệ quả là, những yếu tố giống nhau giữa TV và
TMĐ tạo điều kiện thuận lợi, còn những yếu tố khác nhau lại cản trở, gây khó
khăn cho HSDT khi học TV, đó cũng là nguyên nhân khiến HSDT mắc các lỗi
sử dụng TV như lỗi phát âm, lỗi dùng từ, lỗi sử dụng câu…
1.2.3 Thực trạng dạy - học chính tả trong nhà trường
1.2.3.1 Thực trạng dạy chính tả trong nhà trường
a) Trình độ và kinh nghiệm của GV
Chất lượng dạy chính tả của GV Tiểu học trước hết phải nói đến trình độ đã
được đào tạo của đội ngũ GV. Trình độ được đào tạo của GV ảnh hưởng không
nhỏ và là yếu tố trực tiếp tác động đến chất lượng học của HS. Đều là GV Tiểu
học và cùng giảng dạy một chương trình như nhau nhưng thời gian được đào tạo 16
của mỗi GV ở mỗi trình độ khác nhau, cụ thể : Thời gian đào tạo đối với mỗi
17
nhau. Nói có chuẩn thì người nghe mới hiểu đúng và mới viết đúng được, viết
đúng mới đọc được chuẩn, đọc được hay. Cho nên hình thành kỹ năng viết đúng
có vai trò rất quan trọng.
Viết sai chính tả ngay ở các lớp đầu cấp sẽ hình thành thói quen và ảnh
hưởng không nhỏ đến sau này. Chính tả không chỉ là công cụ giúp HS chiếm
lĩnh văn hóa, trau dồi kiến thức, tư duy học tập mà nó còn tạo điều kiện ban đầu
trong hành trang ngôn ngữ của các em. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, phân
môn Chính tả phải là môn học được coi trọng trong nhà trường. Thế nhưng trên
thực tế lại không như vậy, không riêng gì với HS dân tộc thiểu số các trường
Tiểu học xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang mà hầu hết các
em HS vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn Chính tả và chỉ nhìn
nhận môn học này là một môn học “phụ”, hỗ trợ cho kỹ năng sử dụng tiếng
Việt. Điều đó được thể hiện cụ thể: Theo thống kê phiếu điều tra khảo sát HS
của trường Tiểu học xã Thượng Lâm, mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu cho
thấy: Có tới 65% HS là không thích học phân môn Chính tả, 35% HS thích và
rất thích học môn này, khi chúng tôi hỏi: “Em có thích học chính tả không?”.
Hay với câu hỏi : “Theo em, phân môn Chính tả có quan trọng không?” thì có
tới 61% HS trả lời không quan trọng, chỉ 39% HS cho là quan trọng và rất quan
trọng. Còn với câu hỏi: “ Em dành thời gian như nào để học chính tả ?” đa số
các em trả lời dành thời gian ít (chiếm 58%) hoặc không dành thời gian (chiếm
25%), rất ít HS trả lời dành nhiều thời gian cho môn học (chỉ 17%) .
Như vậy, chúng ta nhận thấy một thực tế của HS ở trường Tiểu học xã
Thượng Lâm, huyện Lâm Bình các em chỉ quan tâm đến chính tả ở góc độ cho
biết chữ và là một môn học bắt buộc phải học trong nhà trường, chứ chưa nhận
thức được tầm quan trọng của việc học chính tả, chưa thực sự quan tâm đến các
lỗi mà mình mắc phải lúc viết, sử dụng chính tả sao cho đúng chuẩn.
Thứ hai: Học quy tắc chính tả tiếng Việt là một khó khăn đối với các em
HS dân tộc Tày
chuyển sang viết cỡ chữ nhỏ hơn ở lớp 2 là một khó khăn trong quá trình viết
các em, đặc biệt với học sinh DTTS. 19
Chữ viết của học sinh DTTS còn chưa đẹp, nguệch ngoạc, chữ thường thừa
nét hoặc thiếu nét, nét vẫn còn run, không rứt khoát, chỗ đậm chỗ mờ nên hay tô
lại nét chữ và làm dây bẩn chữ. Khi trình bày bài viết mặc dù đã có sự chú ý hơn
song việc nhận thức của các em làm thế nào để có được một bài viết sạch, đẹp
thì rất khó.
So với trước kia, vở viết của HS đã được cải thiện khá nhiều, các em viết
trên vở có dòng kẻ ô li đều nhau. Vở như vậy sẽ giúp các em viết chữ được
thẳng hàng, không bị trèo dòng. Nhưng trên thực tế vẫn còn những bài viết trình
bày chữ không thẳng hàng. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức của các em trong
giờ học chưa thật chú ý và kĩ năng trình bày còn yếu.
Bên cạnh đó, HS còn viết chữ với tốc độ chưa đảm bảo mức độ quy định. Ở lớp
5, tốc độ theo một bài chính tả là: 50 chữ/ 15 phút. Song các em còn viết chậm
hơn so với quy định rất nhiều và chỉ viết được 20 -25 chữ/15 phút.
1.2.4. Khảo sát thực trạng mắc lỗi chính tả của học sinh dân tộc Tày trường
Tiểu học xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang
1.2.4.1. Mục đích khảo sát
Chúng tôi tiến hành kháo sát nhằm:
Thống kê các lỗi chính tả mà học sinh dân tộc Tày thường hay mắc phải
và tiến hành phân loại lỗi, để nắm được thực trạng mắc lỗi của HS.Từ đó tìm ra
nguyên nhân mắc lỗi và đề ra được biện pháp khắc phục.
1.2.4.2. Nội dung khảo sát
Chúng tôi dựa trên chương trình SGK Tiếng Việt ở Tiêu học để thiết kế
phiếu điều tra cách sử dụng âm, vần, dấu thanh và cáh viết hoa của các em trong
trường hợp thích hợp.
1. Điền vào chỗ trống: - c/k/qu, g/gh, ng/ngh, s/x.
g/gh
40
80%
Ng/ngh
35
70%
S/x
42
84%
Nội dung thứ hai: điền vào chỗ trống ơp/âp, ăm/am
Vần sai
Số học sinh mắc lỗi
Tỉ lệ HS mắc lỗi (%)
Ơp/âp
45
90%
Ăm/am
32
64% Nội dung thứ ba: điền ào chỗ trống dấu săc (/) hay dấu ngã (~)
Thanh sai
Số học sinh mắc lỗi
Tỉ lệ HS mắc lỗi (%)
Thanh săc (/)
28
56%
là 45/50 em chẳng hạn ở phiếu điều tra “cá mập” thì có tới 45 em HS viết thành
“cá mợp”, “hợp tác” các em lại viết thành “hập tác”. Đối với vần ăm/am là
32/50 em chẳng hạn “chăm học” các em lại viết thành “cham học”, “tham lam”
các em lại viết thành “thăm lam”.
Về thanh điệu
Trong phiếu điều tra cho thấy HSDT không chỉ sai chính tả về phụ âm đầu,
phần vần mà còn mắc lỗi sai về dấu thanh. Tiếng Việt có 6 thanh nhưng chỉ hiên 22
trên chữ viết 5 thanh. Kí hiệu ghi dấu thanh đó là: thanh ngang (thanh không dấu),
thanh hỏi (?), thanh huyền (\), thanh ngã (~), thanhsắc (/), thanh nặng (.).
Trong 6 thanh trên các em HSDT thường nhầm lẫn dấu thanh sắc và thanh
ngã cả khi đọc và khi viết. Ví dụ như trong phiếu điều tra chúng tôi có cụm từ
“Ánh nắng chiếu xuống kẽ lá bàng”thì học sinh thường viết là “Ánhnắng chiếu
xuống ké lá bàng”, hay “ngã sõng soài” thành “ngã sóng soài”, “Ngỗng đẻ trứng
vàng” thành “Ngống đẻ trững vàng”.
Số học sinh mắc lỗi khi phân biệt 2 thanh này là 28/50 em (chiếm 56%)
so với tỉ lệ mắc lỗi về phụ âm và về phần vần thì lỗi về thanh điệu chiếm tỉ lệ
nhỏ hơn cả.
Về lỗi viết hoa
Tỉ lệ HS mắc lỗi về cách viết hoa chiếm tỉ lệ khá cao. Có đến 30/50 em
(chiếm 60%) mắc lỗi. Đa số các em không phân biệt được trong danh từ riêng
thì chữ nào phải viết hoa, chữ nào không có nhiều em chỉ viết theo quy tắc
chữ cái đầu dòng và sau dấu chấm. Chẳng hạn ở câu 4 trong phiếu điều tra
tìm lỗi sai và sửa lại cho đúng nhiều em chưa phát hiện được lỗi sai là “vinh
quang”, ”chiêm hóa”, “tuyên quang”, “trường sinh”.
Như vậy chúng tôi nhận thấy một thực trạng chung. HSDT Tày ở trường
Tiểu học Thượng Lâm viết sai lỗi chính tả với số lượng rất lớn. Các lỗi HS hay
mắc phải nhiều nhất là sai phụ âm đầu (c/k/qu, s/x, g/gh, ng/ngh) và lỗi chính tả